Cách mạng và Độc lập


Chu Hữu Tín

E-mail: chuhuutin@khoahoc.net

29 tháng 06 năm 2006

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

Ngày 4 tháng 7 năm 1776, chúng tôi đòi hỏi nền độc lập của đất nước chúng tôi từ người Anh và nền Dân chủ được sinh ra. Mỗi ngày hàng ngàn người rời quê hương để đến "vùng đất tự do và căn nhà của sự can đảm" nên họ có thể bắt đầu giấc mơ Mỹ quốc của họ.

Hoa kỳ thật ra là một nước được tạo ra bởi những người năng động. Mỗi năm vào ngày 4 tháng 7, chúng tôi kỷ niệm là tự do và độc lập với thịt bằm nướng, cắm trại và tụ họp gia đình. Thông qua Internet chúng tôi đang học tập về và giao lưu với những người ở những quốc gia khác, với những ngôn ngữ khác nhau và chủng tộc khác nhau trên khắp thế giới. Mang thế giới lại gần nhau với tinh thần thông cảm và hiểu rõ chỉ có lợi ích cho mọi quốc gia.

Xin mời mọi quốc gia cùng kỷ niệm với người Mỹ trực tuyến ngày 4 tháng 7.

Chúc Sinh Nhật Vui Vẻ, Hoa Kỳ!

 

"On July 4, 1776, we claimed our independence from Britain and Democracy was born. Every day thousands leave their homeland to come to the "land of the free and the home of the brave" so they can begin their American Dream.

The United States is truly a diverse nation made up of dynamic people. Each year on July 4, Americans celebrate that freedom and independence with barbecues, picnics, and family gatherings. Through the Internet we are learning about and communicating with people of different nations, with different languages and different races throughout the world. Bringing the world closer with understanding and knowledge can only benefit all nations.

We invite all nations to celebrate with Americans online this Fourth of July.

Happy Birthday, America!"

 

1. Những khác biệt giữa nước Anh và thuộc địa phát triển cay đắng

Cuộc chiến tranh nước Pháp và India kết thúc năm 1763. Nước Anh hiện nay có một đế quốc lớn ở Mỹ  và Ấn Độ. Nhưng những cuộc chiến tranh chống lại nước Pháp tốn kém. Và những lãnh thổ mới có thể là rất tốn kém để cai trị. Nhiều người lính Anh có thể là cần ở Hoa Kỳ để giữ hòa bình với người Ấn. Nước Anh đã nghĩ là người thực dân phải bị đánh thuế trong việc hỗ trợ những chi tiêu phụ.

Để đứng ngoài những phiền phức với người Ấn, nước Anh cấm những người định cư di chuyển vượt quá những núi ở phía Tây của những thuộc địa này. Vì thế người Anh có thể cần ít đơn vị quân lực. Luật lệ này làm giận dữ những người mua bán da thú và những nông dân nhỏ muốn di chuyển xa nhiều hơn về phía Tây. Điều này cũng làm buồn phiền những thương gia mong đợi làm giàu nhanh bằng cách mua nhiều đất miền Tây với giá rẻ.

 

2. Thực dân chống lại những sắc thuế mới của nước Anh

Nước Anh bắt đầu thu thuế nhiều hơn trên thương phẩm Mỹ để thanh toán cho sĩ quan và binh lính người Anh ở Mỹ. Ngoài ra, người Anh bắt đầu bắt buộc thi hành luật thuế nhiều hơn một cách nghiêm khắc. Ví dụ, thực dân ít khi thanh toán thuế nhập khẩu mật đường, và người Anh đã không cố gắng thu gom nó. Năm 1764, sắc thuế này giảm bớt, nhưng người Anh bắt đầu tuân thủ bắt buộc luật định.

Kế tiếp, thực dân nhận lệnh mua tem thuế. Những tem này được dán lên trên mọi tài liệu, quảng cáo, giấy phép rời bến và báo chí. Với số tiền tăng lên theo phương pháp này, nước Anh có ý định thanh toán tiền lương của lính người Anh ở Mỹ và lương bổng viên chức thực dân của nước Anh.

Điều này làm giận dữ thực dân, Việc điều hòa mậu dịch về hàng hóa của Đế quốc Anh là một điều. Việc đật thuế trên thương mại để làm tăng số lượng tiền cho những viên chức hoàng gia ở Mỹ là một điều khác. Sau đó đến khi thực dân thường đặt áp lực trên viên chức người Anh bằng cách đe dọa giữa lại tiền lương của họ. Điều đó là một phương pháp trong đó người đi bỏ phiếu có thể đoan chắc là chính phủ sẽ hoạt động vì họ. Thực dân muốn quyền nói làm cách nào số lượng tiền có thể tăng lên và làm cách nào tiền phải được tiêu dùng. Đạo luật về Tem có thể cho họ không có quyền nói về những vấn đề trên. Vì vậy thực dân gửi những đại biểu đến Quóc hội Đạo luât Thuế ở New York. Quốc hội thống nhất là thực dân chỉ phải thanh toán thanh toán những loại thuế mà họ đã bỏ phiếu cho chúng. Ý kiến này trở thành khẩu hiệu nổi tiếng "Không thuế không có đại biểu" (No taxation without representation."

Thực dân Mỹ từ chối mua và dùng tem thuế. Nhiều thương gia người Mỹ ngưng mua bán với nước Anh. Vì điều này, Thượng nghị viện cuối cùng đã bắt buộc hủy bỏ đạo luật Thuế.

Nhưng thực dân tiếp tục không tuân thủ thông lệ về thương mại của người Anh. Thường họ không tăng tiền đủ trong việc thanh toán đội quân người Anh ở các thuộc địa.

 

3. Đạo luật Towshend rất là không phổ biến

Năm 1767 vị bộ trưởng mới của nước Anh, Charles Towshend, quyết định làm sạch tình huống này. Ông được Quốc hội thông qua luật mới gắn chặt chính phủ Anh với những thuộc địa. Một là, có những loại thuế về sơn, giấy, thủy tinh và trà mang ra nước ngoài bởi thực dân. Số lượng tiền này có thể được dùng trong việc thanh toán lương bổng cho những vị thống đốc hoàng gia và những viên chức người Anh khác ở Mỹ. Kế tiếp, có những viên chức hải quan và binh sĩ nhiều hơn ở Mỹ trong việc áp đặt thông lưu thương mại. Và những tòa án đặc biệt của nước Anh được thiết lập ở Mỹ trong việc xét xử buôn lậu. Hội đồng thực dân ở New York bị hủy bỏ vì từ chối tăng tiền thanh toán binh sĩ người Anh ở thuộc địa đó.

Thực dân cảm nhận là Luật Towshend tồi nhiều hơn so với Luật Thuế. Những hành động này có nghĩa là có những loại sắc thuế nhiều hơn không có đại biểu. Ngoài ra, nếu Quốc hội có thể hủy bỏ Hội đồng New York, họ có thể hủy bỏ những hội dồng thực dân khác. Sau đó người Mỹ có thể không có chính phủ tự trị một chút nào. Hội đồng Massachusetts phát biểu mạnh mẽ chống lại những đạo luật mới và kêu gọi những thuộc địa khac cùng làm một điều như trên. Một lần nưac những người mua bán Mỹ ngưng việc mua hàng hóa Anh.

Trong khi chờ đợi, những viên chức Anh bắt đầu tìm kiếm nhà và cửa hàng của người Mỹ đểtìm kiếm háng hóa lậu thuế. Để tạo thuận lợi cho việc bắt buộc tuẩn thủ đạo luật Towshend, nhiều đội quân người Anh đã đến hải cảng Mỹ. Lẽ dĩ nhiên những đội quân này rất là không phổ biến trong những người thực dân.

Một lần, vào tháng 3, 1770, vài người lính Anh và người Mỹ Boston đã hỗn chiến với nhau. Năm người thực dân đã bị giết. Những người thực dân nóng nảy như Samuel Adams đã gọi tình trạng này là "cuộc tàn sát", nhưng tòa án Mỹ đã trả tự do cho những người lính Anh.

Cuối cùng, không có chống đối nhiều trong những thuộc địa là việc Quốc hội hủy bỏ đạo luật Towshend- mọi thứ ngoại trừ thuế trà (chè). Những bộ trưởng của Nhà Vua đã nói là họ có thể họ không tăng số lượng tiền ở Hoa Kỳ với thuế do Quốc hội bỏ phiếu .

 

4. Những người Mỹ yêu nước đấu tranh chống lại thuế trà

Nhiều thương gia thực dân hiện nay muốn để cho mình được yên thân một mình. Những người Mỹ khác, như là Samuel Adams ở Massachusetts, đòi hỏi là người ta phải chống lại nước Anh. Sau mọi thứ, Adams và những người bạn chỉ rõ, những thông lệ thương mại cũ vẫn tồn tại trên những cuốn sách. Nước Anh đang dùng viên chức hải quan, binh sĩ và hải quân để nắm bắt những người buôn lậu. Và chính phủ Anh không bao giờ rút lại quyền thu thuế người thực dân.

Sau đó chính phủ Anh gây ra những cuôc tranh luận để bắt đầu lại mọi thứ một lần nữa. Năm 1773, họ chỉ đạo Công Ty Trà Đông Ấn (EITC) chuyên chở trà vào Mỹ và bán giá rẻ ở đó. Điều này có thể hỗ trợ công ty tránh được nguồn cung ứng quá mức trà ở giá thấp. Tuy nhiên, người Mỹ thấy vấn đề này một cách khác nhau. Họ yêu cầu là việc mua bán trà cách xa những thương gia Mỹ, và điều này làm cho người Mỹ thanh toán thuế trà. Người Myc chống lại loại thuế này trên nguyên tắc.

Những thương gia người Mỹ từ chối việc những tàu trà xuống hàng hóa. Ở Boston, những người yêu nước chống nước Anh lên boong tàu của công ty trà và đổ trà xuống nước. Vài người Mỹ đã nghĩ điều này đang đi qua xa. Chính phủ Anh quyết định việc trừng phạt Boston, và quốc hội thông qua đạo luật cho thực hiện việc này.

Hải cảng của Boston bị đóng cửa. Không tàu nào được phép vào hoặc rời hải cảng. Chẳng bao lâu người dân Massachusetts có thể bầu hội đồng riêng của họ. Điều này có thể là được chỉ định. Một đạo luật khác nói là vì những vị thẩm phán thực dân quá hiền, vài tù nhân có thể bị xét xử ở nước Anh thay vì ở những thuộc địa. Một vị tướng người Anh được cử làm Thống Đốc ở Boston.

 

5. Hội nghị Lục địa đầu tổ chức năm 1774

Người Mỹ gọi những đạo luât này là "không thể tha thứ được" Nếu quốc hội có thể tạo ra những luật lệ trên cho Boston và Massachusetts, họ có thể làm cùng một điều như trên ở bất kể thuộc địa nào khác. Người Mỹ phải làm một điều gì. Năm 1774 thuộc điạ gửi những đại biểu đến một cuộc họp ở Philadelphia. Cuộc họp này được biết là Hội nghị Lục địa thứ nhất.

Hội nghị Lục địa tuyên bố là mọi thuộc địa chống lại Luật Không thể tha thứ được. Hội nghị đòi hỏi những người thực dân tổ chức dân quân địa phương và bắt đầu đào tạo quân sự. Họ còn hoạch định người Mỹ ngừng mua hàng hóa của nước Anh. Sau đó họ thống nhất gặp lại nhau một năm sau.

 

6. Cuộc chiến tranh Độc lập bắt đầu năm 1775

Vào mùa xuân năm 1775, những người thực dân ở miền Boston đang tập hợp vũ khí và đào tạo binh sĩ. Cảng Boston vẫn bị đóng cửa và thành phố bị chiếm đóng bởi những đội quân người Anh. Tướng Cage, vị chỉ huy người Anh ở Boston, được biết là những người thực dân đã tập trung súng ống ở thị xã Concord. Ông gửi những toán quân đến Concord để tịch thu vũ khí.

Những người thực dân đang mong đợi cuộc di chuyển này. Ngay khi những đội quân người Anh rời Boston, Williams Dawes và Paul Revere cưỡi ngựa qua miền quê cảnh báo mọi người. Buổi sáng ngày 19-04-1775, những toán quân người Anh đã gặp số ít binh sĩ thực dân làng green ở Lexington. Những toán quân người Anh nổ súng vào họ và tiếp tục đi đến Concord. Ở đó họ bắn vào binh sĩ địa phương và thưgĩ vũ khí. Sau đó họ trở lại Boston. Nhưng trên đường, những người Mỹ dấu tranh với họ từ những cây và tường đá ở phía sau. Trước khi người Anh đi đến Boston, họ đã mất đi trên 250 người. Ước chừng 100 người Mỹ đã tử vong. Cuộc chiến tranh đã bắt đầu.

 

7. George Wahington đươc trao quyền chỉ huy lực lượng quân sự người Mỹ

Ba tuần lễ sau Hội nghị Lục địa lần thứ 2 họp tạp Philadelphia và nhận trách nhiệm của cuộc chiến tranh. Họ chọn George Washington, một đại biểu của Virginia ở Quốc hội, đảm nhiệm cương vị của người tổng chỉ huy của quân đội thực dân mới.

Trước khi Washington đi đến Massachusetts, những người Mỹ chiếm đóng đồi Breeds và đồi Bunker băng qua sông từ Boston. Những đội quân người Anh đánh đuổi người Mỹ ra khỏi miền nhưng họ đã bị thiệt hại nhiều người. Xa hơn về phía Tây, Ethan Allen và số ít binh lính gọi là Green Mountain Boys, chiếm Fort Ticonderoga ở miền Bắc New York.

Suốt mùa hè những đại đội quân tình nguyện từ những thuộc địa khác theo Washington bên ngoài Boston. Ở đây Washington tập luyện những toán quân. Sau đó ông gửi tướng Knox mang súng thần công từ Fort Ticonderoga qua núi. Khi những súng thần công đến nơi trong tháng 3 năm 1776, Washington đặt chúng trên mặt đất cao để cho họ có thể bán vò Boston. Khi ông thấy những súng thần công, tướng người Anh rời thành phố với quân đội của ông, Boston thoát khỏi luật lệ của người Anh.

 

8. Hội nghị Lục địa lần thứ hai chọn nền Độc lập

Trong khi chờ đợi, Hội nghị Lục địa Lần thứ hai gửi một thỉnh cầu lên Nhà Vua nước Anh. Đơn thỉnh cầu uêu cầu Nhà Vua ngưng việc sử dụng quân đội chống lại những thuộc địa nhưng Nhà Vua tuyên bố là những người thực dân là quân nổi loạn. Ngài thuê mướn lính Hessian từ nước Đức chiến đấu ở Mỹ. Những người thực dân nói là họ phải đầu hàng hoàn toàn hoặc tiếp tục chiến đấu. Dần dần mọi đại biểu của hội đồng thống nhât là họ sẽ kết thúc hoàn toàn với nước Anh.

Trong tháng 6, 1778, điều được đề xuất ở Hội nghị là "những thuộc địa thống nhất là, và có quyền phải là, những bang tự do và độc lập. Một tháng sau, kiến nghị được chấp thuận. Tuyên ngôn Độc lập được công bố vào ngày 4 tháng 7.

Bản Tuyên ngôn Độc lập được soạn thảo bởi một ủy ban đứng đầu là Thomas Jefferson. Bản tuyên ngôn giải trình nguyên tắc về chính phủ trong đó những đại biểu tin tưởng. Mọi người, bản tuyên ngôn nói, sinh ra có quyền sống như nhau, tự do và theo đuổi hạnh phúc. Nếu một chính phủ bỏ qua những quyền này, người dân có quyền nổi loạn và tạo ra một chính phủ mới. Bản tuyên ngôn sau đó trình bày mọi đạo luật của nhà vua và quốc hội mà những người thực dân đã nghĩ là sai lầm. Vì nhà vua không thể sửa chữa những sai lầm, những người thực dân tự tuyên bố họ không còn bị ràng buộc bởi luật lệ của nước Anh. John Hancock người đầu tiên đã ký tên vào bản Tuyên Ngôn.

Những thuộc địa đã tuyên bố là họ có quyền độc lập. Họ vẫn phải chứng tỏ điều đó.

 

9. Người Mỹ đã giành quyền độc lập của họ

Khi những đội quân người Anh rời khỏi Boston, cuộc chiến đấu kết thúc ở nước Anh mới. Tuy nhiên trong khi chờ đợi, một quân đội nước Anh mới và mạnh nhiều hơn đã nhận lãnh thành phố New York, tướng Washington không thể bảo vệ thành phố. Ông giữ quân đoàn của mình ở New Jersey và Pennsylvania. Sau đó, trong mộ cuộc di chuyển bất ngờ ngày 26-12, 1776, Washington và những quân đoàn của ông vượt qua sông Delaware ở Trenton. Ở đó họ tịch thu cung ứng và một số lượng lớn toán quân Hessian. Ít ngày sau họ đánh bại những toán quân người Anh ở Princeton và thu nhiều súng. Những ở thành phố New York, người Ấn an toàn.

 

10. Người Ạnh chịu thất bại tốn kém ở Saratoga

Năm sau, 1777, những vị tướng người Anh đã hoạch định một chiến dịch chia những thuộc địa thành hai. Một quân đoàn người Anh có thể đi về phía Nam từ Canada về phía thành phố New York. Một quân đoàn khác có thể đi về phía Bắc từ thành phố New York. Họ có thể gặp nhau ở Albany và cắt nước Anh mới khỏi những thuộc địa khác. Điều này là một kế hoạch tốt. Mùa hè năm đó, quân đoàn của tướng Burgoyne từ Canada đến thung lũng sông Hudson. Nhưng tướng Howe ở New York đưa quân đoàn của mình đến Philadelphia và thay vì nắm giữ thành phố đó! Điều này để lại quân đoàn của tướng Burgoyne chiến đấu đơn độc xa khỏi nguồn cung ứng. Gần Saratoga, New York, những quân đoàn người Mỹ chiến đấu và thắng hai trận đánh quan trọng., toàn thể quân đoàn của Burgoyne phải đầu hàng.

Saratoga là chiến thắng lớn đầu của người Mỹ và điều này cho người thực dân can đảm mới. Như là một kết quả của chiến thắng này Bẹnamin Franklin có thể thuyết phục người Pháp hỗ trợ người thực dân. Nước Pháp tuyên bố chiến tranh với nước Anh. Vua của nước Pháp hứa hẹn sẽ gửi tiền và binh lính sang Mỹ.

Trước khi hõ trợ từ Pháp đến, quân đoàn của Washington trải qua một mùa đông lạnh và đói ở Valley Forge. Ở gần Philadelphia người Anh được nuôi dưỡng ấm và tốt. Mùa xuân kế tiếp, một tướng người Anh mới đến Philadelphia. Ông đưa quân đội của ông về New York và ở lại đó trong phần còn lại của cuộc chiến tranh. Philadelphia nằm trong tay của người Mỹ.

Trong uốt giai đoạn này của cuộc chiến tranh, một gián điệp người Mỹ tên là Nâthn Hale bị bắt bởi người Anh, và xử tử hình. Một người Mỹ khác, tướng Benedict  Arnold trở thành kẻ phản bội và đi sang phía người Anh.

 

11. Cuộc chiến đấu Yorktown kết thúc chiến tranh

Người Anh đã không thắng trong cuộc chiến đấu ở New York, Boston hoặc Philadelphia. Nên họ cố gắng thắng ở miền Nam. Một quân đoàn người Anh dưới sự chỉ huy của tướng Cornwallis chiếm giữ Savannah, Georgia và Charleston. Nam Carolina. Sau đó người Anh đi về phía Bắc. Họ mong đợi là nhiều ngưòi thực dân có thể sang phía họ, nhưng không có nhiều người thực hiện. Lính Mỹ dưới quyền chỉ huy của tướng Nathaniel Greene vượt quá số lượng, nhưng họ không chiến đấu, rút lui và chiến đấu lại. Ở Virginia những toán quân người Mỹ khác chỉ huy bởi một quan chức người Pháp, Marquis de Lafayette, cũng lập lại những cuộc tấn công người Anh. Cuối cùng, Cornwallis đi về phía Yorktown ở bờ biển Virginia đề nhận cung ứng mới theo đường biển.

Lúc đó một hạm đội người Pháp ở Đại Tây Dương và một quân đoàn người Pháp mới đã theo tướng Washington. Những tàu Pháp đánh bị một hạm đội người Anh ngoài khơi Virginia và đuổi nó đi. Sự kiện này để lại Cornwallis và quân đoàn của ông đơn độc ở Yorktown. Sau đó tướng Washington đi về phía người Mỹ và binh lính người Pháp từ New York  đến Virginia. Yorktown bị bao vây. Tướng Cornwallis và quân đoàn người Anh bị bắt buộc đầu hàng tướng Washington ngày 19-10-1781.

Yorktown là cuộc chiến cuối cùng ở Mỹ. Hai năm sau một hiệp ước hòa bình đã ký và những quân đoàn người Anh rời khỏi New York. Nước Anh thống nhất là những thuộc địa nay được tự do và độc lập. Những thuộc địa có thể có toàn thể vùng đất phía Tây đến sông Mississippi. Cuốc chiến tranh giành độc lập kết thúc.

 

12. Độc lập mang lại những thay đổi trong cuộc sống người Mỹ và Chính phủ

Sau khi tuyên bố độc lập, người Mỹ phải tổ chức những chính quyền mới. Để thực hiện điều nói trên, họ đã thay dổi điều gì họ suy nghĩ là sai với chính quyền thực dân. Những xhính quyền bang mới được thực hiện dân chủ nhiều hơn.

Người ta nhớ lại những vị thống đốc hoàng gia mạnh mẽ đã trụ vững trong những hội đồng thực dân. Nên họ không cho những vị thống đốc bang mới quá nhiều quyền hạn. Họ không tin vào vị thống đốc, ngay cả những người mới sẽ được bỏ phiếu bởi hội đồng bang hoặc bởi nhân dân. Hội đồng bang được trao quyền hạn nhiều hơn. Trong nhiều bang, người dân được cho quyền bỏ phiếu. Và những quận huyện miền Tây có đại biểu tốt nhiều hơn trong những chính quyền mới.

Chính quyền bang mới dựa trên khái niệm về phân quyền (separation of powers). Nhiều ngưòi thực dân tin tưởng là phải có ba ngành chính quyền. Ngành lập pháp- quốc hội- sẽ làm luật. Ngành hành pháp- thống đốc- sẽ bắt buộc thi hành luật. Ngành tư pháp- tòa án- sẽ giải thích luật. Quyền lực có thể chia trong ba ngành. Người thực dân làm cho ngành lập pháp mạnh nhất trong bộ ba. Thường cơ quan lập pháp được thực hiện trong hai viện. Điều này làm việc nhiều hơn là làm luật. Trong nhiều bang, cơ quan lập pháp bầu một thống đốc và bổ nhiệm thẩm phán.

Những cơ quan lập pháp bang mới thông qua luật làm cho mọi người bình đẳng nhiều hơn. Họ phá bỏ nhiều bất động sản lớn thuộc quyền sở hữu bởi những chủ thể người Anh. Đất này sau đó được bán thành những lô nhỏ cho người Mỹ. Những cơ quan lập pháp bang nắm quyền sử dụng đất sở hữu của nhà vua hoặc chủ đất và bán nó cho những nông dân nhỏ. Họ bãi bỏ những đạo luật noi một người có thể trao toàn thể đất cho người con trai trưởng. Và họ kết thúc nhiều ràng buộc giữa nhà thờ và bang. Những luật trên có xu hướng phá bỏ quyền ưu tiên đặc biệt và thúc đẩy quyền bình đẳng.

Những thay đổi tương tự xuất hiện bên ngoài luật pháp. Không phải mọi người thực dân muốn có độc lập. Trong chiến tranh ước chừng một phần ba trong số họ đứng về phía người Anh. Những người này gồm có vài gia đình giầu nhất và lâu đời nhất ở Mỹ. "Những người nổi loạn" sống một cuộc đời cơ hàn. Sau khi những người nổi loạn thắng cuộc chiến, the Tories, như những người này được gọi, mất hết ảnh hưởng và tầm quan trọng của họ. Vài người trong bọn họ bị bắt buộc giao nạp tài sản của họ và nhiều người phải rời bỏ thuộc địa. Nhiều Tories muốn rời bỏ vì họ không chấp nhận kiểu dan chủ mà ngưòi thực dân thiêt lập.

 

13. Chính phủ quốc gia mới yếu kém

Việc làm chính phủ quốc gia dân chủ là một nhiệm vụ khó khăn so với việc tổ chức những chính quyền bang mới. Không ai muốn một chính phủ mạnh. Trong suốt cuộc chiến tranh Hội nghi Lục địa lần 2 là chính phủ nhà nước hoàn toàn. Mặc dù hội nghị không có quyền hạn hợp pháp, nhưng điều hành đất nước. Hội nghị nhận lãnh trách nhiệm về cuộc chiến tranh, tuyên bố độc lập, tạo lập bộ binh và hảiquân, làm những thỏa ước với nước Pháp và Indians và ấn hành tiền giấy. Những thành phần của hội nghị đã biết phải là một chính phủ hợp pháp. Kế hoạch của họ trong một chính phủ trung ương của những thuộc địa thống nhất được thảo luận trong khi cuộc chiến tranh tiếp tục. Điều này được gọi là Điều khoàn Liên bang. Tất cả 13 bang cuối cùng chấp nhận kế hoạch này trong năm 1781.

Những Điều khoản Liên bang cung ứng cho một quốc hội sẽ được bầu bởi những cơ quan lập pháp bang. Nhưng Quốc hội này có thể không thu bất kể sắc thuế nào hoặc luật thương mại. Không có "hành pháp" như  một thống đốc hoặc tổng thống. Mọi công trình sẽ được thực hiện bởi những ủy ban quốc hội. Điều này không phải là một chính phủ mạnh, nhưng nó kéo dài cho đến sau khi cuộc chiến tranh đã kết thúc.

 

RGC