|
Ngày 4 tháng 7 năm 1776, chúng tôi đòi hỏi nền
độc lập của đất nước chúng tôi từ người Anh và nền Dân chủ được
sinh ra. Mỗi ngày hàng ngàn người rời quê hương để đến "vùng đất
tự do và căn nhà của sự can đảm" nên họ có thể bắt đầu giấc mơ
Mỹ quốc của họ.
Hoa kỳ thật ra là một nước được tạo ra bởi những
người năng động. Mỗi năm vào ngày 4 tháng 7, chúng tôi kỷ niệm
là tự do và độc lập với thịt bằm nướng, cắm trại và tụ họp gia
đình. Thông qua Internet chúng tôi đang học tập về và giao lưu
với những người ở những quốc gia khác, với những ngôn ngữ khác
nhau và chủng tộc khác nhau trên khắp thế giới. Mang thế giới
lại gần nhau với tinh thần thông cảm và hiểu rõ chỉ có lợi ích
cho mọi quốc gia.
Xin mời mọi quốc gia cùng kỷ niệm với người Mỹ
trực tuyến ngày 4 tháng 7.
Chúc Sinh Nhật Vui Vẻ, Hoa Kỳ!
"On
July 4, 1776, we claimed our independence from Britain and
Democracy was born. Every day thousands leave their homeland to
come to the "land of the free and the home of the brave" so they
can begin their American Dream.
The United States is truly a diverse nation made up of dynamic
people. Each year on July 4, Americans celebrate that freedom
and independence with barbecues, picnics, and family gatherings.
Through the Internet we are learning about and communicating
with people of different nations, with different languages and
different races throughout the world. Bringing the world closer
with understanding and knowledge can only benefit all nations.
We invite all nations to celebrate with Americans online this
Fourth of July.
Happy Birthday, America!"
1. Những khác biệt giữa nước Anh và thuộc địa phát triển cay
đắng
Cuộc chiến tranh
nước Pháp và India kết thúc năm 1763. Nước Anh hiện nay có một
đế quốc lớn ở Mỹ và Ấn Độ. Nhưng những cuộc chiến tranh chống
lại nước Pháp tốn kém. Và những lãnh thổ mới có thể là rất tốn
kém để cai trị. Nhiều người lính Anh có thể là cần ở Hoa Kỳ để
giữ hòa bình với người Ấn. Nước Anh đã nghĩ là người thực dân
phải bị đánh thuế trong việc hỗ trợ những chi tiêu phụ.
Để đứng ngoài
những phiền phức với người Ấn, nước Anh cấm những người định cư
di chuyển vượt quá những núi ở phía Tây của những thuộc địa này.
Vì thế người Anh có thể cần ít đơn vị quân lực. Luật lệ này làm
giận dữ những người mua bán da thú và những nông dân nhỏ muốn di
chuyển xa nhiều hơn về phía Tây. Điều này cũng làm buồn phiền
những thương gia mong đợi làm giàu nhanh bằng cách mua nhiều đất
miền Tây với giá rẻ.
2. Thực
dân chống lại những sắc thuế mới của nước Anh
Nước Anh bắt đầu
thu thuế nhiều hơn trên thương phẩm Mỹ để thanh toán cho sĩ quan
và binh lính người Anh ở Mỹ. Ngoài ra, người Anh bắt đầu bắt
buộc thi hành luật thuế nhiều hơn một cách nghiêm khắc. Ví dụ,
thực dân ít khi thanh toán thuế nhập khẩu mật đường, và người
Anh đã không cố gắng thu gom nó. Năm 1764, sắc thuế này giảm
bớt, nhưng người Anh bắt đầu tuân thủ bắt buộc luật định.
Kế tiếp, thực dân
nhận lệnh mua tem thuế. Những tem này được dán lên trên mọi tài
liệu, quảng cáo, giấy phép rời bến và báo chí. Với số tiền tăng
lên theo phương pháp này, nước Anh có ý định thanh toán tiền
lương của lính người Anh ở Mỹ và lương bổng viên chức thực dân
của nước Anh.
Điều này làm giận
dữ thực dân, Việc điều hòa mậu dịch về hàng hóa của Đế quốc Anh
là một điều. Việc đật thuế trên thương mại để làm tăng số lượng
tiền cho những viên chức hoàng gia ở Mỹ là một điều khác. Sau đó
đến khi thực dân thường đặt áp lực trên viên chức người Anh bằng
cách đe dọa giữa lại tiền lương của họ. Điều đó là một phương
pháp trong đó người đi bỏ phiếu có thể đoan chắc là chính phủ sẽ
hoạt động vì họ. Thực dân muốn quyền nói làm cách nào số lượng
tiền có thể tăng lên và làm cách nào tiền phải được tiêu dùng.
Đạo luật về Tem có thể cho họ không có quyền nói về những vấn đề
trên. Vì vậy thực dân gửi những đại biểu đến Quóc hội Đạo luât
Thuế ở New York. Quốc hội thống nhất là thực dân chỉ phải thanh
toán thanh toán những loại thuế mà họ đã bỏ phiếu cho chúng. Ý
kiến này trở thành khẩu hiệu nổi tiếng "Không thuế không có đại
biểu" (No taxation without representation."
Thực dân Mỹ từ
chối mua và dùng tem thuế. Nhiều thương gia người Mỹ ngưng mua
bán với nước Anh. Vì điều này, Thượng nghị viện cuối cùng đã bắt
buộc hủy bỏ đạo luật Thuế.
Nhưng thực dân
tiếp tục không tuân thủ thông lệ về thương mại của người Anh.
Thường họ không tăng tiền đủ trong việc thanh toán đội quân
người Anh ở các thuộc địa.
3. Đạo
luật Towshend rất là không phổ biến
Năm 1767 vị bộ
trưởng mới của nước Anh, Charles Towshend, quyết định làm sạch
tình huống này. Ông được Quốc hội thông qua luật mới gắn chặt
chính phủ Anh với những thuộc địa. Một là, có những loại thuế về
sơn, giấy, thủy tinh và trà mang ra nước ngoài bởi thực dân. Số
lượng tiền này có thể được dùng trong việc thanh toán lương bổng
cho những vị thống đốc hoàng gia và những viên chức người Anh
khác ở Mỹ. Kế tiếp, có những viên chức hải quan và binh sĩ nhiều
hơn ở Mỹ trong việc áp đặt thông lưu thương mại. Và những tòa án
đặc biệt của nước Anh được thiết lập ở Mỹ trong việc xét xử buôn
lậu. Hội đồng thực dân ở New York bị hủy bỏ vì từ chối tăng tiền
thanh toán binh sĩ người Anh ở thuộc địa đó.
Thực dân cảm nhận
là Luật Towshend tồi nhiều hơn so với Luật Thuế. Những hành động
này có nghĩa là có những loại sắc thuế nhiều hơn không có đại
biểu. Ngoài ra, nếu Quốc hội có thể hủy bỏ Hội đồng New York, họ
có thể hủy bỏ những hội dồng thực dân khác. Sau đó người Mỹ có
thể không có chính phủ tự trị một chút nào. Hội đồng
Massachusetts phát biểu mạnh mẽ chống lại những đạo luật mới và
kêu gọi những thuộc địa khac cùng làm một điều như trên. Một lần
nưac những người mua bán Mỹ ngưng việc mua hàng hóa Anh.
Trong khi chờ
đợi, những viên chức Anh bắt đầu tìm kiếm nhà và cửa hàng của
người Mỹ đểtìm kiếm háng hóa lậu thuế. Để tạo thuận lợi cho việc
bắt buộc tuẩn thủ đạo luật Towshend, nhiều đội quân người Anh đã
đến hải cảng Mỹ. Lẽ dĩ nhiên những đội quân này rất là không phổ
biến trong những người thực dân.
Một lần, vào
tháng 3, 1770, vài người lính Anh và người Mỹ Boston đã hỗn
chiến với nhau. Năm người thực dân đã bị giết. Những người thực
dân nóng nảy như Samuel Adams đã gọi tình trạng này là "cuộc tàn
sát", nhưng tòa án Mỹ đã trả tự do cho những người lính Anh.
Cuối cùng, không
có chống đối nhiều trong những thuộc địa là việc Quốc hội hủy bỏ
đạo luật Towshend- mọi thứ ngoại trừ thuế trà (chè). Những bộ
trưởng của Nhà Vua đã nói là họ có thể họ không tăng số lượng
tiền ở Hoa Kỳ với thuế do Quốc hội bỏ phiếu .
4.
Những người Mỹ yêu nước đấu tranh chống lại thuế trà
Nhiều thương gia
thực dân hiện nay muốn để cho mình được yên thân một mình. Những
người Mỹ khác, như là Samuel Adams ở Massachusetts, đòi hỏi là
người ta phải chống lại nước Anh. Sau mọi thứ, Adams và những
người bạn chỉ rõ, những thông lệ thương mại cũ vẫn tồn tại trên
những cuốn sách. Nước Anh đang dùng viên chức hải quan, binh sĩ
và hải quân để nắm bắt những người buôn lậu. Và chính phủ Anh
không bao giờ rút lại quyền thu thuế người thực dân.
Sau đó chính phủ
Anh gây ra những cuôc tranh luận để bắt đầu lại mọi thứ một lần
nữa. Năm 1773, họ chỉ đạo Công Ty Trà Đông Ấn (EITC) chuyên chở
trà vào Mỹ và bán giá rẻ ở đó. Điều này có thể hỗ trợ công ty
tránh được nguồn cung ứng quá mức trà ở giá thấp. Tuy nhiên,
người Mỹ thấy vấn đề này một cách khác nhau. Họ yêu cầu là việc
mua bán trà cách xa những thương gia Mỹ, và điều này làm cho
người Mỹ thanh toán thuế trà. Người Myc chống lại loại thuế này
trên nguyên tắc.
Những thương gia
người Mỹ từ chối việc những tàu trà xuống hàng hóa. Ở Boston,
những người yêu nước chống nước Anh lên boong tàu của công ty
trà và đổ trà xuống nước. Vài người Mỹ đã nghĩ điều này đang đi
qua xa. Chính phủ Anh quyết định việc trừng phạt Boston, và quốc
hội thông qua đạo luật cho thực hiện việc này.
Hải cảng của
Boston bị đóng cửa. Không tàu nào được phép vào hoặc rời hải
cảng. Chẳng bao lâu người dân Massachusetts có thể bầu hội đồng
riêng của họ. Điều này có thể là được chỉ định. Một đạo luật
khác nói là vì những vị thẩm phán thực dân quá hiền, vài tù nhân
có thể bị xét xử ở nước Anh thay vì ở những thuộc địa. Một vị
tướng người Anh được cử làm Thống Đốc ở Boston.
5. Hội
nghị Lục địa đầu tổ chức năm 1774
Người Mỹ gọi
những đạo luât này là "không thể tha thứ được" Nếu quốc hội có
thể tạo ra những luật lệ trên cho Boston và Massachusetts, họ có
thể làm cùng một điều như trên ở bất kể thuộc địa nào khác.
Người Mỹ phải làm một điều gì. Năm 1774 thuộc điạ gửi những đại
biểu đến một cuộc họp ở Philadelphia. Cuộc họp này được biết là
Hội nghị Lục địa thứ nhất.
Hội nghị Lục địa
tuyên bố là mọi thuộc địa chống lại Luật Không thể tha thứ được.
Hội nghị đòi hỏi những người thực dân tổ chức dân quân địa
phương và bắt đầu đào tạo quân sự. Họ còn hoạch định người Mỹ
ngừng mua hàng hóa của nước Anh. Sau đó họ thống nhất gặp lại
nhau một năm sau.
6. Cuộc
chiến tranh Độc lập bắt đầu năm 1775
Vào mùa xuân năm
1775, những người thực dân ở miền Boston đang tập hợp vũ khí và
đào tạo binh sĩ. Cảng Boston vẫn bị đóng cửa và thành phố bị
chiếm đóng bởi những đội quân người Anh. Tướng Cage, vị chỉ huy
người Anh ở Boston, được biết là những người thực dân đã tập
trung súng ống ở thị xã Concord. Ông gửi những toán quân đến
Concord để tịch thu vũ khí.
Những người thực
dân đang mong đợi cuộc di chuyển này. Ngay khi những đội quân
người Anh rời Boston, Williams Dawes và Paul Revere cưỡi ngựa
qua miền quê cảnh báo mọi người. Buổi sáng ngày 19-04-1775,
những toán quân người Anh đã gặp số ít binh sĩ thực dân làng
green ở Lexington. Những toán quân người Anh nổ súng vào họ và
tiếp tục đi đến Concord. Ở đó họ bắn vào binh sĩ địa phương và
thưgĩ vũ khí. Sau đó họ trở lại Boston. Nhưng trên đường, những
người Mỹ dấu tranh với họ từ những cây và tường đá ở phía sau.
Trước khi người Anh đi đến Boston, họ đã mất đi trên 250 người.
Ước chừng 100 người Mỹ đã tử vong. Cuộc chiến tranh đã bắt đầu.
7.
George Wahington đươc trao quyền chỉ huy lực lượng quân sự người
Mỹ
Ba tuần lễ sau
Hội nghị Lục địa lần thứ 2 họp tạp Philadelphia và nhận trách
nhiệm của cuộc chiến tranh. Họ chọn George Washington, một đại
biểu của Virginia ở Quốc hội, đảm nhiệm cương vị của người tổng
chỉ huy của quân đội thực dân mới.
Trước khi Washington đi đến Massachusetts, những người Mỹ chiếm
đóng đồi Breeds và đồi Bunker băng qua sông từ Boston. Những đội
quân người Anh đánh đuổi người Mỹ ra khỏi miền nhưng họ
đã bị thiệt hại nhiều người. Xa hơn về phía Tây,
Ethan Allen và số ít binh lính gọi là Green Mountain Boys, chiếm
Fort Ticonderoga ở miền Bắc New York.
Suốt mùa hè những
đại đội quân tình nguyện từ những thuộc địa khác theo Washington
bên ngoài Boston. Ở đây Washington tập luyện những toán quân.
Sau đó ông gửi tướng Knox mang súng thần công từ Fort
Ticonderoga qua núi. Khi những súng thần công đến nơi trong
tháng 3 năm 1776, Washington đặt chúng trên mặt đất cao để cho
họ có thể bán vò Boston. Khi ông thấy những súng thần công,
tướng người Anh rời thành phố với quân đội của ông, Boston thoát
khỏi luật lệ của người Anh.
8. Hội
nghị Lục địa lần thứ hai chọn nền Độc lập
Trong khi chờ
đợi, Hội nghị Lục địa Lần thứ hai gửi một thỉnh cầu lên Nhà Vua
nước Anh. Đơn thỉnh cầu uêu cầu Nhà Vua ngưng việc sử dụng quân
đội chống lại những thuộc địa nhưng Nhà Vua tuyên bố là những
người thực dân là quân nổi loạn. Ngài thuê mướn lính Hessian từ
nước Đức chiến đấu ở Mỹ. Những người thực dân nói là họ phải đầu
hàng hoàn toàn hoặc tiếp tục chiến đấu. Dần dần mọi đại biểu của
hội đồng thống nhât là họ sẽ kết thúc hoàn toàn với nước Anh.
Trong tháng 6, 1778, điều được đề xuất ở Hội nghị là "những
thuộc địa thống nhất là, và có quyền phải là, những bang tự do
và độc lập. Một tháng sau, kiến nghị được chấp thuận.
Tuyên ngôn Độc lập
được công bố vào ngày 4 tháng 7.
Bản Tuyên ngôn
Độc lập được soạn thảo bởi một ủy ban đứng đầu là Thomas
Jefferson. Bản tuyên ngôn giải trình nguyên tắc về chính phủ
trong đó những đại biểu tin tưởng. Mọi người, bản tuyên ngôn
nói, sinh ra có quyền sống như nhau, tự do và theo đuổi hạnh
phúc. Nếu một chính phủ bỏ qua những quyền này, người dân có
quyền nổi loạn và tạo ra một chính phủ mới. Bản tuyên ngôn sau
đó trình bày mọi đạo luật của nhà vua và quốc hội mà những người
thực dân đã nghĩ là sai lầm. Vì nhà vua không thể sửa chữa những
sai lầm, những người thực dân tự tuyên bố họ không còn bị ràng
buộc bởi luật lệ của nước Anh. John Hancock người đầu tiên đã ký
tên vào bản Tuyên Ngôn.
Những thuộc địa
đã tuyên bố là họ có quyền độc lập. Họ vẫn phải chứng tỏ điều
đó.
9.
Người Mỹ đã giành quyền độc lập của họ
Khi những đội
quân người Anh rời khỏi Boston, cuộc chiến đấu kết thúc ở nước
Anh mới. Tuy nhiên trong khi chờ đợi, một quân đội nước Anh mới
và mạnh nhiều hơn đã nhận lãnh thành phố New York, tướng
Washington không thể bảo vệ thành phố. Ông giữ quân đoàn của
mình ở New Jersey và Pennsylvania. Sau đó, trong mộ cuộc di
chuyển bất ngờ ngày 26-12, 1776, Washington và những quân đoàn
của ông vượt qua sông Delaware ở Trenton. Ở đó họ tịch thu cung
ứng và một số lượng lớn toán quân Hessian. Ít ngày sau họ đánh
bại những toán quân người Anh ở Princeton và thu nhiều súng.
Những ở thành phố New York, người Ấn an toàn.
10.
Người Ạnh chịu thất bại tốn kém ở Saratoga
Năm sau, 1777,
những vị tướng người Anh đã hoạch định một chiến dịch chia những
thuộc địa thành hai. Một quân đoàn người Anh có thể đi về phía
Nam từ Canada về phía thành phố New York. Một quân đoàn khác có
thể đi về phía Bắc từ thành phố New York. Họ có thể gặp nhau ở
Albany và cắt nước Anh mới khỏi những thuộc địa khác. Điều này
là một kế hoạch tốt. Mùa hè năm đó, quân đoàn của tướng Burgoyne
từ Canada đến thung lũng sông Hudson. Nhưng tướng Howe ở New
York đưa quân đoàn của mình đến Philadelphia và thay vì nắm giữ
thành phố đó! Điều này để lại quân đoàn của tướng Burgoyne chiến
đấu đơn độc xa khỏi nguồn cung ứng. Gần Saratoga, New York,
những quân đoàn người Mỹ chiến đấu và thắng hai trận đánh quan
trọng., toàn thể quân đoàn của Burgoyne phải đầu hàng.
Saratoga là chiến
thắng lớn đầu của người Mỹ và điều này cho người thực dân can
đảm mới. Như là một kết quả của chiến thắng này Bẹnamin Franklin
có thể thuyết phục người Pháp hỗ trợ người thực dân. Nước Pháp
tuyên bố chiến tranh với nước Anh. Vua của nước Pháp hứa hẹn sẽ
gửi tiền và binh lính sang Mỹ.
Trước khi hõ trợ
từ Pháp đến, quân đoàn của Washington trải qua một mùa đông lạnh
và đói ở Valley Forge. Ở gần Philadelphia người Anh được nuôi
dưỡng ấm và tốt. Mùa xuân kế tiếp, một tướng người Anh mới đến
Philadelphia. Ông đưa quân đội của ông về New York và ở lại đó
trong phần còn lại của cuộc chiến tranh. Philadelphia nằm trong
tay của người Mỹ.
Trong uốt giai
đoạn này của cuộc chiến tranh, một gián điệp người Mỹ tên là
Nâthn Hale bị bắt bởi người Anh, và xử tử hình. Một người Mỹ
khác, tướng Benedict Arnold trở thành kẻ phản bội và đi sang
phía người Anh.
11.
Cuộc chiến đấu Yorktown kết thúc chiến tranh
Người Anh đã
không thắng trong cuộc chiến đấu ở New York, Boston hoặc
Philadelphia. Nên họ cố gắng thắng ở miền Nam. Một quân đoàn
người Anh dưới sự chỉ huy của tướng Cornwallis chiếm giữ
Savannah, Georgia và Charleston. Nam Carolina. Sau đó người Anh
đi về phía Bắc. Họ mong đợi là nhiều ngưòi thực dân có thể sang
phía họ, nhưng không có nhiều người thực hiện. Lính Mỹ dưới
quyền chỉ huy của tướng Nathaniel Greene vượt quá số lượng,
nhưng họ không chiến đấu, rút lui và chiến đấu lại. Ở Virginia
những toán quân người Mỹ khác chỉ huy bởi một quan chức người
Pháp, Marquis de Lafayette, cũng lập lại những cuộc tấn công
người Anh. Cuối cùng, Cornwallis đi về phía Yorktown ở bờ biển
Virginia đề nhận cung ứng mới theo đường biển.
Lúc đó một hạm
đội người Pháp ở Đại Tây Dương và một quân đoàn người Pháp mới
đã theo tướng Washington. Những tàu Pháp đánh bị một hạm đội
người Anh ngoài khơi Virginia và đuổi nó đi. Sự kiện này để lại
Cornwallis và quân đoàn của ông đơn độc ở Yorktown. Sau đó tướng
Washington đi về phía người Mỹ và binh lính người Pháp từ New
York đến Virginia. Yorktown bị bao vây. Tướng Cornwallis và
quân đoàn người Anh bị bắt buộc đầu hàng tướng Washington ngày
19-10-1781.
Yorktown là cuộc
chiến cuối cùng ở Mỹ. Hai năm sau một hiệp ước hòa bình đã ký và
những quân đoàn người Anh rời khỏi New York. Nước Anh thống nhất
là những thuộc địa nay được tự do và độc lập. Những thuộc địa có
thể có toàn thể vùng đất phía Tây đến sông Mississippi. Cuốc
chiến tranh giành độc lập kết thúc.
12. Độc
lập mang lại những thay đổi trong cuộc sống người Mỹ và Chính
phủ
Sau khi tuyên bố
độc lập, người Mỹ phải tổ chức những chính quyền mới. Để thực
hiện điều nói trên, họ đã thay dổi điều gì họ suy nghĩ là sai
với chính quyền thực dân. Những xhính quyền bang mới được thực
hiện dân chủ nhiều hơn.
Người ta nhớ lại
những vị thống đốc hoàng gia mạnh mẽ đã trụ vững trong những hội
đồng thực dân. Nên họ không cho những vị thống đốc bang mới quá
nhiều quyền hạn. Họ không tin vào vị thống đốc, ngay cả những
người mới sẽ được bỏ phiếu bởi hội đồng bang hoặc bởi nhân dân.
Hội đồng bang được trao quyền hạn nhiều hơn. Trong nhiều bang,
người dân được cho quyền bỏ phiếu. Và những quận huyện miền Tây
có đại biểu tốt nhiều hơn trong những chính quyền mới.
Chính quyền bang
mới dựa trên khái niệm về phân quyền (separation of powers).
Nhiều ngưòi thực dân tin tưởng là phải có ba ngành chính quyền.
Ngành lập pháp- quốc hội- sẽ làm luật. Ngành hành pháp- thống
đốc- sẽ bắt buộc thi hành luật. Ngành tư pháp- tòa án- sẽ giải
thích luật. Quyền lực có thể chia trong ba ngành. Người thực dân
làm cho ngành lập pháp mạnh nhất trong bộ ba. Thường cơ quan lập
pháp được thực hiện trong hai viện. Điều này làm việc nhiều hơn
là làm luật. Trong nhiều bang, cơ quan lập pháp bầu một thống
đốc và bổ nhiệm thẩm phán.
Những cơ quan lập
pháp bang mới thông qua luật làm cho mọi người bình đẳng nhiều
hơn. Họ phá bỏ nhiều bất động sản lớn thuộc quyền sở hữu bởi
những chủ thể người Anh. Đất này sau đó được bán thành những lô
nhỏ cho người Mỹ. Những cơ quan lập pháp bang nắm quyền sử dụng
đất sở hữu của nhà vua hoặc chủ đất và bán nó cho những nông dân
nhỏ. Họ bãi bỏ những đạo luật noi một người có thể trao toàn thể
đất cho người con trai trưởng. Và họ kết thúc nhiều ràng buộc
giữa nhà thờ và bang. Những luật trên có xu hướng phá bỏ quyền
ưu tiên đặc biệt và thúc đẩy quyền bình đẳng.
Những thay đổi
tương tự xuất hiện bên ngoài luật pháp. Không phải mọi người
thực dân muốn có độc lập. Trong chiến tranh ước chừng một phần
ba trong số họ đứng về phía người Anh. Những người này gồm có
vài gia đình giầu nhất và lâu đời nhất ở Mỹ. "Những người nổi
loạn" sống một cuộc đời cơ hàn. Sau khi những người nổi loạn
thắng cuộc chiến, the Tories, như những người này được gọi, mất
hết ảnh hưởng và tầm quan trọng của họ. Vài người trong bọn họ
bị bắt buộc giao nạp tài sản của họ và nhiều người phải rời bỏ
thuộc địa. Nhiều Tories muốn rời bỏ vì họ không chấp nhận kiểu
dan chủ mà ngưòi thực dân thiêt lập.
13.
Chính phủ quốc gia mới yếu kém
Việc làm chính
phủ quốc gia dân chủ là một nhiệm vụ khó khăn so với việc tổ
chức những chính quyền bang mới. Không ai muốn một chính phủ
mạnh. Trong suốt cuộc chiến tranh Hội nghi Lục địa lần 2 là
chính phủ nhà nước hoàn toàn. Mặc dù hội nghị không có quyền hạn
hợp pháp, nhưng điều hành đất nước. Hội nghị nhận lãnh trách
nhiệm về cuộc chiến tranh, tuyên bố độc lập, tạo lập bộ binh và
hảiquân, làm những thỏa ước với nước Pháp và Indians và ấn hành
tiền giấy. Những thành phần của hội nghị đã biết phải là một
chính phủ hợp pháp. Kế hoạch của họ trong một chính phủ trung
ương của những thuộc địa thống nhất được thảo luận trong khi
cuộc chiến tranh tiếp tục. Điều này được gọi là Điều khoàn Liên
bang. Tất cả 13 bang cuối cùng chấp nhận kế hoạch này trong năm
1781.
Những Điều khoản
Liên bang cung ứng cho một quốc hội sẽ được bầu bởi những cơ
quan lập pháp bang. Nhưng Quốc hội này có thể không thu bất kể
sắc thuế nào hoặc luật thương mại. Không có "hành pháp" như một
thống đốc hoặc tổng thống. Mọi công trình sẽ được thực hiện bởi
những ủy ban quốc hội. Điều này không phải là một chính phủ
mạnh, nhưng nó kéo dài cho đến sau khi cuộc chiến tranh đã kết
thúc.
RGC
|