|
Vì cây lúa là một cây trồng quan trọng nhất tại Nhật Bản, bệnh
đạo ôn đã là bệnh cây trồng bị đe doạ nhất. Sự nhận diện đầu
tiên về gen kháng đạo ôn trên cây lúa bởi Sasaki (1922), các nhà
chọn tạo Nhật Bản đã quan tâm đến việc sử dụng gen kháng để bảo
vệ cây trồng. Như là một gen kháng phát sinh từ indica
cho biết tính kháng rộng và mạnh chống lại các dòng Nhật
Bản, họ đã đưa một số gien từ giống trồng indica
vào lại giống trồng ưu tú Nhật Bản từ thập niên 1930, và một vài
NIL đã được triển khai (báo cáo của Kiyosawa 1980). Dù cho việc
ứng dụng thực tiễn của các NIL này đã gặp phải nhiều trường hợp
thoái hóa trong số ít năm, các điều này tạo ra một môi trường
tốt để nhãn gien với dấu DNA, và chúng tôi có nhãn thành công
các gen Pi -b (Miyamoto et al. 1996) và Pi -ta2
(Rybka et al 1997) với các dấu cùng phân ly và cắt ngang sườn
trong thời gian khá ngắn.
Mới đây, việc vô tính theo vị trí đã trở thành phương pháp hiệu
quả nhất để vô tính gen không có yếu tố chính sinh hoá cho việc
vô tính thường, do các tiến bộ trong các phương pháp xây dựng
thư viện genome và tạo ra các dấu khác nhau như là RAPD và AFLP.
Dù cho một vài gen kháng đã được vô tính bằng cách nhãn và vô
tính theo vị trí (Baker et al. 1997), không có gen kháng đạo ôn
trên cây lúa đã được vô tính. Việc vô tính các gien kháng thật
là cần để hiểu rõ cơ chế nhận biết cây trồng của tác nhân lây
lan, và sự lây lan của các gen bảo vệ đa dạng. Gen vô tính cũng
sẽ góp phần để xây dựng “dòng nhiều yếu tố” (multi-lines) của
NIL có gen kháng khác nhau trong thời gian ngắn.
Chúng tôi đã xác lập một khung làm việc rất đa dụng để vô tính
theo vị trí trên cây trồng gồm có lúa bằng cách xây dựng:
1) một thư viện BAC (Bacterial Artificial Chromosome= nhiễm thể
nhân tạo vi sinh) chất lượng tốt của cây lúa có kích cỡ đoạn gen
chèn trung bình khoảng 160 kB, và độ che phủ 7 genome tương
đương (Nakamura et al. 1997), 2) một vectơ nhị nguyên có sức
chứa cao pBIGRZ có thể giữ và chuyển hiệu quả hơn 40 kB đoạn gen
chèn trong T -DNA đến cây lúa mà không sắp xếp lại và có tính
hữu thụ tốt (Akiyama et al đang in).
Như một trường hợp ứng dụng kiểu mẫu của phương pháp này chúng
tôi đã chọn vô tính Pi -b. Sử dụng các công cụ này, chúng tôi có
thể chia khoảng các dấu cắt ngang sườn của Pi -b, cách xa 2,4
cM, với 4 bước vô tính, và sau đó vùng Pi -b bị thu hẹp thành
một dòng vô tính BAC đơn 180 kB. Chúng tôi cũng có thể che phủ
vô tính với vài dòng vô tính pBIGRZ phát sinh từ thư viện genome
kháng của giống trồng với Pi -b. Một số vật tương ứng có triển
vọng của gien kháng cũng được tìm thấy bằng cách mô tả đặc tính
cDNA được hiển thị trong vùng. Khảo nghiệm bổ sung với tất cả
các dòng vô tính nay đang được thực hiện.
2. Xây dựng thư viện BAC chất lượng cao của cây lúa
Như hầu hết tất cả các giống trồng Nhật Bản là japonica,
để vô tính theo vị trí gen từ giống sự hiện diện của thư viện
BAC chất lượng cao của japonica cv. là cần. Vì
vậy, chúng tôi đã xây dựng một thư viện BAC từ các hạt nguyên
sinh của lá xanh giống Shimokita với gen Pi -ta. Hạt nguyên sinh
có ưu thế nhiều hơn so với nhân như là vật liệu để chế phẩm DNA
nhiều hơn megabase. Vì không có cơ hội tấn công nuclease với DNA
nhân nguyên vẹn, và không sợ lây lan polysacchyride có thể ức
chế tiêu hoá số lượng bằng enzim ức chế cắt. Như vectơ BAC chúng
tôi sử dụng pBACLAC, có lacZ của M13mp18 (Asakawa et al. 1997)
mạnh hơn nhiều trong hoạt động enzim so với Bluescript. Điều này
có thể phân biệt các khuẩn lạc xanh /trắng trong một ngày ở nồng
độ thường của X -gal ngay với một sao đơn của BAC plasmid.
Hình 1. Thư viện BAC chất lượng cao của cây lúa. A: sự phân bố
kích cỡ đoạn gen chèn (kB) của thư viện BAC japonica
giống Shimokita. Kích cỡ đoạn gen chèn trung bình là 155 kB, che
phủ 7 genome tương đương, lớn nhất của tất cả các thư viện BAC
lúa đã báo cáo. B: Màng có mật độ cao của thư viện BAC có 3072
dòng vô tính, tương đương với 1 genome lúa. Thư viện được mở để
sử dụng, liên hệ với chúng tôi bằng E -mail.
Sử dụng vectơ và megabase DNA này chúng tôi có thể xây dựng một
thư việc genome japonica giống Shimokita với Pi
-ta. Kích cỡ đoạn gien chèn trung bình là 155 kB, và 21.504 dòng
vô tính, 7 genome tương đương, dược sắp xếp trên 7 màng mật số
cao kích thước microplate với 1 genome tương đương 3072 dòng vô
tính (Nakamura et al. 1997; Hình 1A). Chúng được sắp xếp trên
cấu hình 8 x 12 của 96 lỗ kích thước microplate (Hình 1B). Một
vùng lỗ thích ứng với ma trận nhỏ 6 x 6 với 4 dòng vô tính của
pFos 1 như là dấu vị trí không phản ứng lai với vectơ BAC. Việc
phát hiện ECL thích nghi vì không cần tạo băng tín hiệu, và lập
lại lai tạo nhiều hơn hàng tá lần.
3. Tạo khoảng cách xây dựng contig các dấu cắt ngang sườn của Pi
-b
Các dấu cắt ngang sườn Pi -b tách riêng 2, 4 cM và dấu cùng phân
ly được sử dụng để chọn các dòng vô tính BAC tương ứng, và 5-10
dòng vô tính được chọn đối với từng dòng vô tính. Sự sắp xếp của
mỗi dòng vô tính trong một nhóm được ước tính từ phương pháp
điện di CHEF (contour-clumped hexagonal electric field) của vật
tiêu hoá Not 1, và được xác nhận bằng lai tạo của cả hai mẫu dò
đầu của vô tính ngoài cùng của một nhóm đơn. Mẫu dò đầu được mở
rộng bởi vectorette PCR (Riley et al 1990). Chỉ bốn bước là đủ
để chia khoảng các dấu cắt ngang sườn RZ213 và G1234 (Hình 2),
và khoảng cách cơ lý của chúng là 400 kB. Hai dấu cùng phân ly b
-1, được phát sinh từ RAPD, và RZ123, một dấu Cornell, cả hai ở
trên cùng đoạn gen Not 1.
Hình 2 Một contig (vùng tiếp giáp) của các dòng vô tính BAC che
phủ vùng Pi -b bị cắt ngang sườn bởi cả hai dấu cạnh (side
markers) Các dấu cắt ngang sườn từ xa 2, 4 cM được chia khoảng
với bốn bước contig và cách xa 400 kB. Các mẫu dò đầu của 145G7,
được mở rộng bởi vectorette PCR, và một số đoạn gen nội của
đoạn gen chèn, có hiệu quả như là các dấu RFLP để thu hẹp vùng
Pi -b của dòng vô tính đơn.
Tỷ lệ các khoảng cách cơ lý / di truyền trong vùng này là khoảng
160 kB /cM, khoảng genome lúa tổng số, 300 kB/cM. Đây là trái
ngược lớn so với trường hợp Pi -ta2 nằm gần đoạn
trung tâm của nhiễm thể 12, trong đó vùng tỷ lệ khoảng cách là
1000 kB /cM hoặc hơn thế (Nakamura et al. 1997). Hẳn là vị trí
Pi -b trong vùng đoạn xa tâm của nhiễm thể có thể có liên quan
đến tỷ lệ tái tổ hợp cao của vùng. Việc định vùng Pi -b với dầu
đoạn xa tâm gần của nhánh dài nhiễm thể 2 cũng được hình dung
bởi FISH (Nakamura et al 1997).
Mẫu dò đầu của dòng vô tính BAC 145G7 đụng bởi các dấu cùng phân
ly có giá trị như là dấu RFLP, và được áp dụng để phân tích tái
tổ hợp F2S của dấu cắt ngang sườn. Như là kết quả,
vùng Pi -b bị thu hẹp đến dòng vô tính đơn này 145G7 khoảng 180
kB (Hình 2).
4. Phương pháp chọn cDNA được hiển thị trong vùng Pi -b
Trong hầu hết các trường hợp của gien kháng vô tính, giống nhiễm
giữ các đối tác tương ứng. Vì vậy, việc thanh lọc gien kháng ứng
viên bằng cách sử dụng vô tính BAC của giống nhiễm có thể là một
phương pháp tiếp cận có triển vọng. Khi một vùng Pi -b bị giới
hạn ở một dòng vô tính đơn 145G7, sự chọn lọc cDNA hiển thị trên
dòng vô tính này được khảo nghiệm với phương pháp lai tạo vô
tính được triển khai bởi Hayashida et al (1995). Dòng vô tính
BAC được chia cắt thành khoảng 1 kB bằng phương pháp âm thanh
(sonication) và được liên kết lưỡng trị với hột latex thông qua
glycidyl methalcrylate. Mặt khác, thư viện cDNA được xây dựng
trong khoảng 1 kB kích cỡ trung bình, và được chèn trên pBR322,
không đồng dạng với vectơ BAC. Các đoạn gen chèn được mở rộng
PCR, lai tạo với latex BAC và sau đó thả sau khi rửa sạch. Các
đoạn gen chèn thả được chèn lại vào pBR322 sau khi mở rộng lại
với PCR.
Chúng tôi đã thanh lọc lần đầu 960 dòng vô tính và sau đó 11.000
dòng vô tính bằng phân tích trừ và 17 kiểu cDNA được nhận dạng
bằng cách tạo chuỗi và lai tạo tương hỗ. Khi yếu tố nồng độ được
ước tính là khoảng 160 lần, từ sự so sánh tỷ lệ các dòng vô tính
dương giữa các thư viện gốc và phụ, sự thanh lọc này có thể là
tương đương với sự thanh lọc 2 triệu dòng vô tính của thư viện
thường. 17 dòng vô tính được mô tả đặc tính bằng phương pháp tạo
chuỗi và một protein kinase Ser /Thr đồng dạng với gien Pto cà
chua (Martin et al 1993) được tìm ra.
5. Vectơ nhị nguyên khả năng cao pBIGRZ và thư viện genome hoạt
động
Phương pháp tiếp cận cDNA không thể tin cậy hoàn toàn vì khả
năng là không có đối tác đồng dạng trên dòng vô tính nhiễm và sự
lệ thuộc của nó vào phản ứng PCR. Vì vậy, chúng tôi cũng đã dùng
một phương pháp tiếp cận khác phân tích bổ sung sử dụng vectơ
nhị nguyên khả năng cao để thu hẹp thêm vùng mục tiêu.Vì không
có vectơ nhị nguyên khả năng cao thích hợp vào lúc đó, chúng tôi
đã xây dựng một vectơ nhị nguyên trên cơ sở chuỗi pB1 có RK2 ori
với số sao thấp (2-7) và có thiết bị chia plasmid trên E.
coli (Thomas và Smith 1986). Vì việc bảo quản gien chèn
lớn trên Agrobacterium không đủ với gien chèn Ri
ori được thêm vào để bổ sung việc bảo quản nó. Tính kháng
Hygromycin B (HTP) và intron -GUS (Ohta et al. 1990) được sử
dụng để chọn các biến đổi và kiểm tra biến đổi trên quá trình
chọn lọc (Hình 3A). Vectơ có tên là pBIRGZ.
Hình 3 Vectơ nhị nguyên khả năng cao pBIGRZ. A: Xây dựng vectơ
với lacZ như việc chọn dấu của gien chèn, Hind III, Spe 1, và
Not 1 như là vị trí vô tính độc nhất. Tính kháng Hygromycon
(HPT) cho việc chọn các biến đổi trên cây lúa, intron GUS để
kiểm tra quá trình biến đổi. B: Southern blotting của gien
genome 40 kB của con người được chuyển sang cây lúa với pBIGRZ
bằng Agrobacterium cùng nuôi cấy (coculture). Chú
ý là hầu hết không có tái tổ hợp DNA trong quá trình chuyển gen.
Việc kiểm tra là sao đơn tương đương của tiêu hoá plasmid đầu.
C: Các cá thể đồng huyết RI giữ mô hình gốc của gien chuyển. D:
Các biến đổi của gien người 40 kB. Tính hữu thụ nhiều hơn 80%
và không có dị dạng về ngoại hình.
Biến đổi cây lúa bởi pBIGRZ với gien của genome người hơn 40 kB
đã được thực hiện thành công với hiệu quả cao, 4-5 cây tái sinh
mỗi dĩa 9 cm, và gien chèn biến đổi cho thấy hầu hết không tái
sắp xếp (Hình 3B). Các gien chèn biến đổi được bảo quản ổn định
với các cá thể đồng huyết RI và tính hữu thụ của biến đổi nhiều
hơn 80%. Kết quả này tốt nhiều hơnío với kết quả của biến đổi
hạt nguyên sinh.
Sử dụng vectơ này, gõ đơn của phương pháp điện hoá mô sẹo
(stroke of electroporation) có thể tạo ra thư viện genome sẵn
sàng bổ sung che phủ một bộ genome lúa ở kích thước gien chèn
trung bình 50 kB, với hiệu quả 5x106 vô tính /mg
gien chèn DNA. Kích thước gien chèn này thích hợp tốt nhất với
việc ức chế cắt vùng bằng sự bổ sung gien mục tiêu. Dù cho BiBAC
được báo cáo khoảng cùng thời gian xây dựng của chúng tôi
(Hamilton et al 1996), khảo nghiệm của chúng tôi xác nhận là
lacZ sử dụng thân hữu như dấu chọn so với sucB và vị trí Hind
III hiệu quả hơn Bam HI.
6. Vùng contig của dòng vô tính phát sinh từ BL -1 trên pBIGRZ,
che phủ vùng Pi -b
Dù cho thư viện phụ cDNA chuyên tính vùng có ích để chọn dòng vô
tính của thư viện genome cho ẩn trú Pi -b của Bl -1, sự hình
thành contig không dễ trên vùng Pi -b do sự hiện diện của tiếng
ồn đồng dạng trong bộ genome. Vì vậy, chúng tôi xây dựng đầu
tiên contig và bản đồ chi tiết của vô tính BAC 145G7 của tiêu
hoá tại chỗ của nó được chèn trong pBIGRZ. Một thư viện của kích
cỡ gien chèn khoảng 50 kB dễ xây dựng so với thư viện BL -1, vì
so sánh mô hình băng là đủ để xác minh sự trùng lắp vô tính. Sau
khi hoàn tất bản đồ contig của vô tính 145G7, chúng tôi có thể
sắp xếp các dòng vô tính chọn từ thư viện BL -1 dễ hơn so với
bản đồ hướng dẫn. Sự tiếp cận giữa các dòng vô tính được xác
nhận bởi Southern blotting. ở vùng cắt ngang sườn, hai bản đồ
trùng lắp tốt, nhưng ở vùng giữa, có khác biệt lớn giữa hai bản
đồ. (Hình 4). Các khác biệt này có thể phản ánh sự động viên bộ
genome giống như điều này là cần để làm sáng tỏ sự tiến hoá của
các gien kháng.
Hình 4 Các bản đồ contig của thư viện phụ pBIGRZ của vô tính
BAC 145G7 và BL -1 với Pi -b. Dòng vô tính trên cạnh bìa (border
sides) rất phổ biến trong khi dòng vô tính ở vùng giữa rất khác
nhau về mô hình của chúng tiêu hoá Hind III. Một Ser
/Thr-protein kinase ở trên vùng bìa trong khi một số thể tương
ứng gen kháng (RGAs) ở vùng giữa. Tất cả các dòng vô tính phát
sinh từ Bl -1 đang được biến đổi với lúa và trắc nghiệm bổ sung
được thực hiện bằng cách chủng phun dòng đạo ôn.
Có các thể tương ứng gen kháng (RGA) với vị trí liên kết
nucleotide ở giữa bản đồ, và Ser -Thr protein-kinase ở vị trí
gần bìa. Tất cả các dòng vô tính đã được biến đổi thành
Nipponbare có một hiệu quả tốt, và nơi ẩn trú các gen đã chọn
của chúng (HPT) được kiểm tra bởi PVR. Kết quả khảo nghiệm bổ
sung bởi lây lan một số dòng đạo ôn lúa có và không gien avrPi
-b và sự xác minh gien bởi phân tích phân ly bằng thế hệ RI nay
đang được tiến hành.
7. Kết luận
Phương pháp này vô tính theo vị trí trên cây trồng, gồm có 1) sự
hình thành contig thư viện BAC và 2) sự bổ sung với vectơ nhị
nguyên khả năng cao rất thay đổi với kiểu gen và thực vật bất
kỳ. Điều này sẽ là phương pháp dễ nhất để sử dụng bổ sung các
đột biến liệt, vì vô tính BAC có thể trực tiếp phục vụ như là
nguồn gien hoạt động. Để khảo sát thực địa quá trình, nay chúng
tôi đang xây dựng một thư viện genome lúa của pBIGRZ có kích
thước gien chèn trung bình (khoảng 50 kB) để dễ thu hẹp vùng mục
tiêu để sử dụng mở.
Cả đối với gien trội, việc sử dụng vô tính BAC để tham khảo sẽ
tạo thuận lợi việc xây dựng contig -phụ s?n bổ sung rất lớn.
Plasmid pBIGRZ cũng là thích hợp để tạo chuỗi gien chèn trực
tiếp.
Ngày 26-08-2006
Trở về Trang Chính
|