|
Việc mua bán quốc
tế trầm hương liên quân đến gỗ, ván, bột, dầu và, mặc dù không
được nhận diện theo số liệu mua bán khả dụng, phần lớn những sản
phẩm hoàn tất chắc chắn như dầu thơm, nhang và dược liệu. Việc
phân loại (xếp hạng) trầm hương, và vì thế giá trị của nó, lệ
thuộc không những vào loài liên quan, mà còn vào một bộ phức tạp
những yếu tố liên quan đến kích cỡ, hàm lượng nhựa, hương liệu,
và màu sắc của trầm hương dùng để bán và, trong trường hợp dầu,
với độ thuần khiết của nó. Nước xuất xứ cũng là một yếu tố quan
trọng xác định giá trị trầm hương.
Dựa trên số liệu
mua bán khả dụng, Nam Dương và Mã Lai hình như sẽ là xuất xứ
chính của trầm hương (các loài) trong việc mua bán quốc tế.
Những số lượng xuất khẩu theo báo cáo của CITES về A.
malaccensis từ Nam Dương đứng đầu 920 t từ 1995 đến
1997. Những số lượng xuất khẩu này có thể đã bao gồm những loài
Aquilaria khác thêm vào A. malaccensis.
Trên 340 t A. malaccensis được báo cáo như xuất
khẩu từ bán đảo Mã Lai trong suốt cùng một thời gian. Số liệu
báo cáo năm của CITES về số lượng xuất khẩu từ Sabah và Sarawak
không thể sử dụng vào lúc viết báo cáo. Tuy nhiên, theo thông
tin đã nhận từ giới chức thẩm quyền quản lý của CITES, gần 530 t
A. malaccensis được xuất khẩu từ Sarawak riêng
trong năm 1998. Như với Nam Dương, số lượng xuất khẩu đã báo cáo
từ Malaxia có thể đã bao gồm loài thêm vào A. malaccensis.
Việt Nam cũng là nguồn quan trọng trầm hương trong mua bán, với
số liệu Hải Quan Đài Loan cho biết số lượng nhập khẩu trên 500 t
trầm hương từ Việt Nam từ 1993 đến 1998. Việt Nam không được tin
như là một nước trang trại trồng A. malaccensis,
và vì thế nó hình như là những chuyến gửi hàng này liên quan đến
những loài khác ví dụ A. crassna. Cả
hai Việt Nam và Thái Lan được báo cáo đã xuất khẩu trên 300 t
trầm hương từ 1993 đến 1998; chỉ Đài Loan là nước trang trại
trồng A. malaccensis. Những khảo nghiệm xa hơn là
cần để sưu tầm trong vai trò mua bán của CHND Lào và Myanmar,
cũng đã được nhận diện như những nước xuất xứ trầm hương. Phần
lớn trầm hương trong mua bán quốc tế dành cho người tiêu dùng ở
Viễn và Trung Đông, với những nơi đến của số lượng xuất khẩu
cuối từ 1995 đến 1997 gồm có Ả Rập Xê Út, những tiểu vương quốc
Ả Rập Thống nhất, Hồng Kông và Đài Loan. Tuy nhiên, số ít số
liệu nhập khẩu có thể sử dụng, với phần lớn những nước tiêu dùng
không thành công trong việc báo cáo viêc nhập khẩu A.
malaccensis trong số liệu báo cáo năm của CITES.
Nhiều điều đã biết liên quan đến nơi gởi cuối phát sinh từ xuất
khẩu báo cáo của Indonexia và Malaixia, và nhập khẩu và xuất
khẩu lại của Singapore. Nước nói sau giữ một vai trò cực kỳ quan
trọng trong việc mua bán, xuất khẩu trầm hương từ Nam và Đông
Nam Á, trong số phần lớn chắc là đa số lớn được xuất khẩu lại,
vài trong một hình thức chế biến cao, ví dụ: dầu. Singapore đã
báo cáo việc xuất khẩu lại của ước chừng 800 t A.
malaccensis từ 1995 đến 1997, ước chừng 70% số lượng
trầm hương báo cáo như là đã xuất khẩu tới Singapore bởi
Indonexia và bán đảo Malaixia trong cùng một thời gian (1113 t).
Khi một nhà cung cấp chính trầm hương cho thị trường quốc tế, Ấn
Độ hiện nay hành động cơ bản như là một trung tâm chế biến trầm
hương từ những nước trang trại khác, có dự trữ tự nhiên phần lớn
thiếu do việc khai thác quá mức
Tất cả những nước trang trại Aqualaria mà thông
tin được thu gom về khảo nghiệm này đã ban hành vài hình thức
thu hoạch và/hoặc kiểm tra việc mua bán. Những chính phủ của
Indonexia, bán đảo Malaixia, và Sarawak (nhưng không Sabah) đòi
hỏi là những nhà xuất khẩu A. malaccensis nhận
giấy phép xuất khẩu CITES. Tuy nhiên, điều này hình như không
phải là "phát hiện không gây hại " đủ đòi hỏi bởi Qui định đã
thực hiện trước khi cấp giấy phép này. Thông tin về tình trạng
loài hoang dã như là hiếm, giới hạn khả năng của những chính
quyền
trong
việc xác định xem là xuất khẩu đang được duy trì ở chừng mực bền
vững. Những cố gắng tham gia vào những yêu cầu của CITES bị ngăn
cản thêm bởi những khó khăn trong việc nhận diện loài trong việc
mua bán. Việc nhận dạng bằng mắt gỗ ở cấp loài thì khó và vượt
quá khả năng của phần lớn cán bộ áp lực. Việc nhận dạng những
sản phẩm như là dầu có thể không thực hiên được nếu không sử
dụng phương pháp trong phòng thí nghiệm. Như là một kết quả,
những thẩm quyền áp lực ở Indonexia và Malaixia hình như không
phân biệt giữa trầm hương thuộc loài Aquilaria
trong mua bán. Những vụ thu hoạch và mua bán bất hợp pháp phá
hoại thêm những cố gắng để quản lý việc khai thác loài
Aquilaria. Có những báo cáo về việc thu hoạch
trầm hương bất hợp pháp và/hoặc mua bán ở Ấn Độ, Indonexia, CHND
Lào, Malaixia, Myanmar, Papua Tân Ghi nê và Việt Nam. Những thu
hoạch bất hợp pháp từ những vùng có bảo vệ đã được báo cáo ở
Indonexia, ví dụ, và từ những trang trại trầm hương nhà nước ở
Ấn Độ. Với viễn vọng yêu cầu thường xuyên về mặt suy giảm nguồn
cung cấp, những dự án được tiến hành trong vài nước để làm tăng
sản xuất trầm hương thông qua việc trồng trọt những loài
Aquilaria (ví dụ ở Ấn Độ, Indonexia, Việt Nam) và qua
việc tìm kiếm phương pháp kích thích nhân tạo những cây trầm
hương để tạo ra trầm hương (ví dụ Indonexia, Việt Nam). Nói
chung, những cố gắng như trên chưa xuất hiện như đã thành công
trong việc sản xuất trầm hương với số lượng thương phẩm đủ để
vượt yêu cầu cho dự trữ hoang dã. Tuy nhiên, trầm hương đang
được sản xuất bởi những nông trường trầm hương A.
malaccensis ở Ấn Độ và một chương trình để kích thích
sản xuất trầm hương trên những cây Aquilaria đã
trồng ở Việt Nam được báo cáo đã thành công trên một cơ sở khảo
nghiệm.
Như đã
trình bày trên, sáu loài Aquilaria đã được
xem như là bị đe doạ bởi khai thác quá mức. Trừ trường hợp hành
động xa hơn để kiểm tra việc thu hoạch và mua bán trầm hương,
hình như có thể là những quần thể hoang dã của A.
malaccensis và loài sản xuất trầm hương khác sẽ tiếp tục
suy giảm. Ảnh hưởng âm tính của mức suy giảm trên sẽ cảm nhận
không những về mặt thiệt hại đa dạng sinh học mà còn về mặt mức
khả dụng giảm điều rõ là một tài nguyên rừng có giá trị cao và
được đánh giá cao. Hành động được cấp thiết đòi hỏi một số lượng
lớn mặt trận để làm giảm những mô hình thu hoạch quá mức hiện
nay và việc mua bán bất hợp pháp. Yêu cầu nhiều hơn sẽ được biết
liên quan đến tình trạng và sinh học của những loài này trong
việc mua bán, đặc biệt là ở những nước đã biết đang xuất khẩu
khối lượng lớn trầm hương, ví dụ Kampuchea, Indonexia,
Malaixia, Thái Lan và Việt Nam. Cố gắng nghiên cứu tăng ở những
nước này và những nước trang trại khác phải được cho quyền ưu
tiên cao. Yêu cầu nhiều hơn sẽ được biết liên quan đến dòng chảy
lợi tức từ việc thu hoạch và mua bán trầm hương để làm tăng
những cơ hội và khuyến khích quản lý thu hoạch và mua bán tốt
nhiều hơn. Việc kiểm tra thu hoạch và mua bán hiệu quả nhiều
hơn, gồm có việc thực thi cải tiến CITES và công cụ tốt nhiều
hơn để nhận dạng loài trong mua bán cũng là cần. Nên chú ý đặc
biệt đến việc tạo ra những phát hiện không gây hại cho A.
malaccensis ở Nam Dương và Mã Lai và việc nhận dạng loài
trong mua bán từ những nước này và những nước trang trại trồng
A. malaccensis, như là Thái Lan. Đã biết là nhiều
loài Aquilaria khác cũng bị đe doạ bởi việc khai
thác quá mức trong mua bán, bao gồm những loài này và có thể
toàn bộ giống vào trong những phụ bản CITES phải được xem xét.
Nghiên cứu thêm về tiềm tàng làm tăng sản xuất trầm hương một
cách nhân tạo cũng phải được đưa vào trong những kế hoạch quản
lý bền vững những loài này. Việc hợp tác của những gười giữ tiền
cược (stakeholders) bị ảnh hưởng bởi việc bảo tồn
Aquilaria, thu hoạch à mua bán là cần nếu những cố gắng
trên sẽ thành công trong việc đảm bảo tương lai của loài
Aquilaria và trầm hương họ sản xuất. Một khoá họp hội
thảo để cung cấp một cơ hội cho những người giữ tiền cược chia
sẻ thông tin và kinh nghiệm có thể là một bước đầu quan trọng
trong việc thúc đẩy sự hợp tác trên.
Quá trình canh tác
Aquilaria malaccensis
và sản xuất trầm hương
Aquilaria malaccensis
là một
trong 15 loài thuộc giống Aquilaria Indomalesian,
họ Thymelaeaceae, (Mabberley, 1997). Trầm hương là loài cây đại
mộc trường sinh lớn phát triển trên 15-30 m cao và 1,5-2,5 m
đường kính, và có hoa trắng (Chakrabarty et al. 1994).
A.
malaccensis
và những
loài khác trong giống Aquilaria thỉnh thoảng tạo
ra trầm hương có thấm nhựa thơm và lá của cây Aquilaria
malaccensis có giá trị cao. Có nhiều tên cho loại
gỗ nhựa này, gồm có agar, agarwood, aloeswood, eaglewood, gaharu
và kalamabak, loại gỗ này có yêu cầu cao trong y học, nhang và
hương liệu qua châu Á và Trung Đông.
Phân bố và nơi ở
Aquilaria malaccensis
được phân bố rộng ở Nam và Đông Nam châu Á. Có những giải trình
khác nhau về nước trong đó trầm hương xuất hiện. Theo Oldfield
et al. (1998), A. malaccensis được tìm thấy ở 10
nước: Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Nam Dương, Iran, Mâ Lai,
Myanmar, Philippines, Singapore và Thái Lan. Lời tuyên bố hỗ trợ
kèm theo đề xuất của Ấn Độ trình bày loài này trong những phụ
bản của Hội nghị về Thương Mại Quốc Tế loài có nguy cơ của động
và thực vật hoang dã (CITES) cũng kể tên CHND Lào và Việt Nam
như những nước trang trại. Tình trạng của A.
malaccensis trong hai nước này cần xác nhận, Oldfield et
al. (1998) ghi chép là họ là những nước trang trại trồng
A. crassna, cũng là một vấn đề liên quan đến A.
malaccensis xuất hiện ở Iran (T. Soehartono trong tài
liệu tham khảo về TRAFFIC International, 25-04-2000, H.
Heuveling van Beek, TRP, trong tltk TRAFFIC International, 2 May
2000).
Loài
Aquilaria đã thích ứng để sống trong những nơi ở khác
nhau, bao gồm những nơi ở có đá, cát, hoặc đá vôi, dốc và đỉnh
tiêu nước tốt và đất gần đầm lầy.
Chúng
điển hình phát triển giữa những cao độ 0-850 m, ở những nơi có
nhiệt độ ngày trung bình 20-22oC (Afifi, 1995, Keller
và Sidiyasa, 1994; Wiriadinata, 1995).
Tình trạng bảo tồn:
Aquilaria malaccensis
được xem "gây hại" theo bộ sách đỏ IUCN hiện nay, và được bao
gồm trong sách quốc tế cây đại mộc bị đe doạ (Oldfield et al.
1998). Áp lực thu hoạch rất lớn được ghi chép trong những nước
trang trại như là Nam Dương, Mã Lai và Thái Lan khi loài được đề
xuất đưa vào Phụ bản II. Rất ít thông tin mới công bố có thể sử
dụng liên quan đến tình trạng của loài này. Thông tin thu được
trong khi nghiên cứu chỉ dấu là việc khai thác quá mức vẫn là
mối bận tâm có ý nghĩa. Một báo cáo của Chakrabarty et al.
(1994) thu được trong mua bán ở Ấn Độ về trầm hương đã kết luận
là A. malaccensis bị đe doạ nhiều ở nước do việc
khai thác loài cho mục đích thương phẩm. Bảy loài
Aquilaria khác cũng được xem như bị đe doạ theo cấp hạng
trong Sách Đỏ IUCN, năm trong số được xem là có rủi ro vì việc
khai thác quá mức trầm hương: A. beccariana (gây
hại); A. crassna (có nguy cơ tới hạn); A.
cumingiana (có hại), A. hirta (có hại) và
A. microcarpa (có hại) (Oldfield et al. 1998).
Việc sản xuất trầm hương
Ba giả
thuyết hiện có liên quan đến việc hình thành trầm hương, như là
kêt quả của những quá trình bệnh học, gây thương tích/bệnh học
và/hoặc phi bệnh học (Ng et al. 1997).
Theo Ng et al (1997), những khảo nghiệm không đưa ra bằng chưng
kết luận với bất kỳ giả thuyết nào. Oldfield et al. (1998) nói
là việc sản xuất nhựa đáp ứng lại lây lan nấm, và Heuveling van
Beek (TRP, trong tltk TRAFFIC International. 2 -5, 2000) nghĩa
là đáp ứng lại vết thương. Ông nói thêm là lây lan nấm có thể
làm tăng sản xuất nhựa như là một phản ứng của ký chủ chống lại
thiệt hại tăng do phát triển của nấm. Cây Aquilaria
lây lan tự nhiên bởi rất nhiều
loại nấm
gồm có Aspergillus spp., Botryodyplodia
spp., Diplodia spp., Fusarium bulbiferum,
F. laterium, F. oxysporum,
F. solani, Penicillium spp., và
Pythium spp (Khuyết Danh, Ảnh cho biết cấu trúc tế bào
bên trong cây Aquilaria, vùng trắng cho biết tích
tụ nhựa. 1998a; Santoso, 1996, trình bày trong báo cáo
Soehartono và Mardiastuti, 1997, Wiriadinata, 1995). Phản ứng
sinh thái giữa cây chủ và vết thương và/hoặc nấm để tạo ra trầm
hương không biết rõ. Những nhân tố khác như là tuổi cây, những
khác biệt trên cây gây ra do biến đổi theo mùa, biến đổi môi
trường và biến đổi di truyền của Aquilaria
spp. có thể c giữ vai trò quan trọng trong hình thành trầm hương
(Ng et al 1997). Không phải là tất cả cây Aquilaria
tạo ra trầm hương, Gibson (1977, trình bày trong báo cáo Ng et
al., 1997) tính toán là chỉ ước chừng 10% Aquilaria
spp. hoang dã tạo ra nhựa. Gianno (1986, trìng bày trong báo cáo
La Frankie, 1994) đề xuất là chỉ 1/10 cây trưởng thành trên 20
cm đường kính ở bề cao ngực (dbh) tạo ra trầm hương. Theo
Chakrabarty t al. 1994, những cây bị nhiễm tạo ra nhựa từ tuổi
20 trở về sau, Sadgopal (1960, trình bày trong báo cáo của
Soehartono, 1997) gợi ý là năng suất tốt nhất nhận từ những cây
trên 50 năm tuổi hoặc trên. Những công tình nghiên cứu mới thực
hiện bởi Dự án Rừng có mưa (TRP) ở Việt Nam đã cho biết là sự
hình thành trầm hương có thể xuất hiện trên những cây trồng trẻ
như ba năm tuổi, như được xác nhận bởi phân tích hoá học (H.
Heuveling van Beek, TRP, trong tltk TRAFFIC International,
2-5-2000).
Năng
suất và chất lượng của trầm hương có nhựa tạo ra cũng thay đổi
rất nhiều (Hartadi, 1997; Ng et al. 1997; Oetomo, 1955;
Wiriadinata, 1995). Khảo nghiệm thực hiện ở Tây Kalimantan,
Indonexia, chứng minh là năng suất nhựa Aquilaria
không tương ứng với đường kính cây hoặc khối lượng gỗ, ngay cả
khi cây có những chỉ dấu lây lan giống nhau (Soehartono và
Mardiastuti, 1997). Gianno (1986, trình bày trong La Frankie,
1994) gợi ý là những cây này trên 20 cm dbh đã tạo ra trầm hương
miễn là ước chừng một kilô trầm hương mỗi cây.
Thu hoạch
Trầm
hương được trích từ những cây bằng cách đốn ngã và sẻ chúng để
lộ ra sản phẩm nhựa. Rễ của cây Aquilaria có thể
cũng có nhựa và nếu đúng vậy cũng có thể thu hoạch làm thương
phẩm. Như đã trình bày trên, chỉ số phần trăm tương đối nhỏ số
lượng cây Aquilaria có thể tạo ra trầm hương.
Những
cây đang chết được nghĩ đặc biệt có thể có trầm hương, những chỉ
dấu là cây đang chết gồm có lá vàng nhạt, những cành không lá có
những đốm phình to dọc theo cành và thân và vỏ rất khô.
Mặc dù
cây bệnh rõ là biểu hiện vài triệu chứng đã trình bày trên, điều
này không thể nhận dạng cây đang sản xuất trầm hương theo phương
pháp có thể tin cậy bằng cách kiểm tra bằng mắt. Vì thế, nhiều
cây Aquilaria không bệnh bị đốn ngã để tìm kiếm
những cây có trầm hương (Hartadi, 1997, Lambert 1992, trình bày
theo Khuyết Danh, 1994, Ng et al 1997; Oldfield et al. 1998).
Trong vài trường hợp, điều này có thể trở thành bị bệnh khi đổ
ngã. Ngoài ra, theo Heuveling van Beek (TRP, trong tltk TRAFFIC
International, 02-05-2000) nhiều cây tạo ra số lượng rất nhỏ
trầm hương chất lượng thấp khó phát hiện nếu người thu hoạch chỉ
đang tìm những nơi tích tụ nhiều chất lượng cao.
Những
cộng đồng Dayak ở Nam Dương tin là cây con đang chết và những
cây nhỏ (chỉ dấu bằng lá vàng) chứng tỏ sự lây nhiễm của cây mẹ.
Chúng xuất hiện như có thể nhận dạng cây bị nhiễm bằng cách phân
biệt giữa tiếng động tao ra do gõ trên thân cây bị nhiễm và
tiếng động tạo ra bằng cách gõ trên thân cây không bị nhiễm
(Soehartono và Mardiastuti, 1997).
Phần dẫn nhập
Sự chú ý
quốc tế vào những mối bận tâm liên quan đến tình trạng và mua
bán Aquilaria malaccensis năm 1994, khi Chính Phủ
Ấn Độ, một nước trang trại trồng loài này, đệ trình một đề xuất
để bao gồm nó trong Phụ bản II của Hội nghị về mua bán quốc tế
loài động vật và thực vật có nguy cơ (CITES). Đề xuất được chấp
nhận trong kỳ họp thứ 9 của Hội nghị các bên của CITES (Fort
Lauderdale, 1994), danh sách có hiệu lực từ 16-02-1995.
Danh
sách trong Phụ bản II đòi hỏi là những bên CITES cấp giấy phép
CITES trước khi xuất khẩu hoặc xuất khẩu lại loài này, và là
những nước đang nhập khẩu là những bên CITES xác nhận là những
giấy phép trên khi gửi hàng được nhập khẩu. Những giới chức thẩm
quyền trong những nước trang trại đang xuất khẩu bị bắt buộc đảm
bảo là xuất khẩu được duy trì ở chừng mực không có hại cho sự
sống sót của loài, và là những tiêu bản sẽ được xuất khẩu đã
được nhận trong trường hợp vi phạm luật pháp của nước đó (thông
tin thêm về yêu cầu CITES có thể nhận từ http://www.cites, org
hoặc bằng cách liên hệ với CITES Secretariat.
Uỷ Ban
Thực Vật CITES đã xác định là khảo sát việc thực thi Phụ Bản II
CITES bày về Aquilaria maclaccensis là một ưu tiên
trong quá trình mua bán có ý nghĩa CITES đối với thực vật trong
thời gian 1998-2000. Ban Thư Ký CITES sau đó hợp đồng với
TRAFFIC Network để thực hiện cuộc khảo sát trên ở những nước
trang trại chủ yếu. Khi bị nghi ngờ và khảo nghiệm xác nhận, thì
không thể khảo nghiệm việc mua bán trầm hương từ A.
malaccensis khi phân lập khỏi việc mua bán kết hợp của
tất cả loài chuyên sản xuất trầm hương. Khảo nghiệm của CITES vì
thế được mở rộng quá sự nhấn mạnh đầu để đưa những phương pháp
lớn thu hoạch trầm hương, sử dụng và mua bán. Một báo cáo tạm vè
những phát hiện của TRAFFIC được đệ trình cho Buổi họp thứ 9 của
Uỷ Ban Thực Vật CITES tháng 6-1999, và tài liệu dự án cuối đệ
trình lên Ban Thư Ký CITES và sau đó thông báo đến tất cả những
nước trang trại trồng A. malaccensis tháng 9,
1999. Khi xem xét những phát hiện của khảo nghiệm TRAFFIC'S buổi
họp lần thứ 11 của Hội Nghị các bên (Nairobi, 2000) đã định
hướng Uỷ Ban Thực Vật để thực hiện công trình thêm để giải quyết
những vấn đề nhận dạng loài, nhạn dạng những biện pháp để cải
tiến báo cáo việc mua bán, và xác định xem là những loài
Aquilaria khác xứng đáng để đưa vào Phụ Bản II của
CITES.
Tài liệu
dự án cuối tạo ra nền của báo cáo này, đưa những ý kiến vào tài
liệu dự án nhận từ những nước trang trại.
Phương pháp
Khảo
nghiệm trong Dự án này được thực hiện bởi cán bộ và tư vấn làm
việc cho TRAFFIC East Asia, TRAFFIC India, TRAFFIC Southeast
Asia và TRAFFIC International. Nơi không được mô tả đặc tính,
thông tin cung cấp được thu gom bởi cán bộ và tư vấn TRAFFIC.
Thông tin được thu gom từ Ban Quản Lý CITES và Cán Bộ Khoa Học
thông qua những mẫu câu hỏi và phỏng vấn (tiếp xúc trực tiếp
hoặc thông qua đường điện thoại) (ví dụ.Hải quan, Công an, Sở
Lâm nghiệp). Thông tin cũng được thu gom từ những nhà nghiên cứu
trầm hương, công ty quốc doanh, người mua bán (nhập khẩu, xuất
khẩu, bán sỉ và bán lẻ) và hiệp hội thương mại. Những chuyến
tham quan thị trường được thực hiện ở Ấn Độ (Mumbai (trước là
Bombay) và những bang miền đông bắc); Nam Dương (Jakarta); CHND
Lào (Vientiane); Malaixia (Kuala Lampur); Thái Lan (Bangkok);
Singapore và Việt Nam. Những chuyến tham quan cũng được thực
hiện đến những điểm thu hoạch và trung tâm chế biến ở Ấn Độ,
CHND Lào và Việt Nam. Bộ phận lớn của công trình khảo nghiệm
ngoài đồng ruộng này được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 3,
1999. Luật lệ và tài liệu tham khảo đã công bố cũng đã được hiệu
đính và xem như có thể sử dụng. Số liệu báo cáo năm của CITES về
Aquilaria malaccensis được phân tích trong những
năm 1995-1997, năm cuối đang là lần cuối với nó số liệu hoàn
toàn tương đối có thể sử
dụng.
Những số liệu này được biên tập bởi WCMC (Trung tâm Kiểm tra Bảo
tồn Quốc tế=World Conservation Monitoring Center) từ những báo
cáo năm đệ trình bởi những bên thuộc CITES, sưu tầm việc mua bán
quốc tế về những loài trình bày trong CITES. Những báo cáo năm
của CITES cần được đệ trình bởi những bên cho Ban Thư Ký của
CITES trước ngày 31-10 trong năm sau đó trong đó việc mua bán
nào đã xảy ra. Tuy nhiên, lần nạp cuối những báo cáo năm không
phổ biến thì không trình báo cáo nào cả. Số liệu trình bày trong
những báo cáo năm CITES có thể có cơ sở trên giấy phép CITES đã
cấp (vài giấy phép đã không được sử dụng), giấy phép CITES đã
dùng, hoặc trên khối lượng mua bán hiện hành. Như là một kết quả
những nhân tố này và những nhân tố khác, trong khi chúng có thể
cung cấp thông tin có ích liên quan đến mô hình và xu hướng mua
bán, những số liệu của CITES không phản ảnh chính xác khối lượng
mua bán hiện hành, Số liệu Hải Quan ở Ấn Độ, Indonexia, Malaixia
và Đài Loan cũng được biên tập và phân tích. Với số liệu CITES,
những số liệu này hỗ trợ thắp sáng việc mua bán, nhưng không tạo
ra một bức ảnh chính xác về việc mua bán hiện hành hoặc khối
lượng mua bán.
Nơi nào
giá bán trầm hương đã nhận tiền tệ khác hơn là USD, chúng phải
được qui đổi thành đô la bằng cách dùng tỷ lệ hối đoái trung
bình giữa những ngân hàng trong giai đoạn 1-1 đến 31-3, 1999,
dựa trên tỷ lệ cung cấp bởi hệ thống qui đôi tiền tệ trực tuyến
(OANDA, 2000). Tỷ lệ qui đổi sau được sử dụng. INR1 (Ru-pi Ấn) =
USD0,02353; IDR1 (Ru-pia Indonexia)= USD0,00011; MYR1 (Ringgit
Malaixia)= 0,26311; THB1 (Thai Baht)= USD0,02695. Chi phí thuế
xuất khẩu, giấy phép, giấy phép thu hoạch … đã được qui đổi
thành đô la Mỹ cùng một tỷ lệ. Nơi giá bán trầm hương lịch sử đã
nhận, giá trị của chúng đã được qui đổi thành đô la Mỹ theo tỷ
lệ hối đoái giữa ngân hàng trung bình năm trừ trường hợp có qui
định khác. Giá trị tính tròn qui đổi của vài giá trầm hương lịch
sử đã được điều chỉnh do lạm phát ở mức năm 1998, điều này mới
nhất có thể sử dụng trọn năm về tỷ lệ lạm phát vào lúc viết báo
cáo. Những điều chỉnh trên được thực hiện theo chỉ số lạm phát
Hoa Kỳ (US Gross Domestic Product Deflator inflation index) dùng
một máy tính trực tuyến (NASA 2000). Chỉ số lạm phát có cơ sở
trên tỷ lệ lạm phát trong năm tài chính của Chính Phủ Hoa Kỳ
(1-10 đên 30-9).
Mục đích
của báo cáo này, danh xưng "trầm hương" được dùng khi thông tin
không liên quan một cách đặc biệt đến Aquilaria
malaccensis. Aquilaria malaccensis (A.
malaccensis) chỉ được dùng khi sản phẩm mua bán đã được
nhận dạng một cách đặc biệt như A. malaccensis.
Công dụng và mua bán trầm hương
Hình thức trầm hương trong mua bán
Trừ trường hợp mô tả đặc tính khác, thông tin trong phần này
nhận từ Heuveling van Beek và Philips (1999). Trầm hương được
mua bán dưới vài hình thức thô, thay đổi từ những mảnh lớn của
thân đến sản phẩm hoàn tất như là nhang và hương liệu. Cành hoặc
thân là những hình thức lớn nhất trong mua bán và có thể là một
đến hai mét dài và cân nặng nhiều hơn 10-20kg. Những mảnh lớn
như trên có giá bán cao, chi phí vận chuyển tốn kém tương đối và
không dễ pha trộn. Chúng ít khi thấy trong mua bán, tuy nhiên,
vì những khó khăn trong việc tìm ra hiện nay những mảnh lớn gỗ
có nhựa. Những người mua bán được phỏng vấn gợi ý là những mảnh
lớn trầm hương hiện nay chỉ có thể sử dụng từ Indonexia. Những
mảnh cành hoặc thân trầm hương lớn cơ bản được mang bởi những
khách hàng từ Nhật Bản, hiển nhiên để sử dụng trong lăng mộ cá
thể. Những mảnh trầm hương lớn cĩng được tìm thấy trong đền
miếu, thánh thất, tu viện và những cơ sở xây dựng tôn giáo khác.
Những mảnh lớn như trên ít khi, nêu không bao giờ, cung cấp số
lượng và chất lượng đồng nhất của vật liệu nhựa, nhưng hình dạng
gỗ được nghĩ giữ một phần trong việc chọn lọc khách hàng. Những
đoạn và mảnh nhỏ trầm hương, thay đổi về
kích cỡ
mảnh từ cành hoặc thân đến lát mỏng (chíp) hoặc vảy (flakes),
được tìm kiếm nhiều nhất bởi người tiêu dùng từ Trung Đông.
Những
lát mỏng và vảy là những hình thức trầm hương phổ biến nhất
trong mua bán. Chỉ 10-20% những thanh hoặc mảnh trầm hương lớn
có thể rút ra thành lát mỏng và vảy, với phần còn lại bán như
bột/bụi hoặc sử dụng để chưng cất dầu. Sự chưng cất giữa bột
trầm hương và vảy phần lớn là vấn đề về kích cỡ.
Vảy bao
gồm việc cạo hoặc mảnh đã vỡ trong quá trình thu hoạch và vận
chuyển, cũng như những mảnh nhỏ tạo ra một cách thận trọng. Bột
trầm hương tường là bột mịn có kích cỡ hạt đều đặn và phải không
bị nhầm lẫn với bột thải rẻ tiền nhiều hơn, là sản phẩm phụ của
việc chưng cất dầu (xem dưới).
Bột rất
dễ nhiễm pha trộn, và thường được trộn chung với bột từ gỗ
Aquilaria khoẻ. Không ngạc nhiên, bột trầm hương
thường là ít tốn kém so với lát mỏng hoặc vảy, với giá thay đổi
từ khoảng USD20-60/kg.
Dầu trầm
hương có một giá trị cao và thường mua bán sản phẩm. Dầu được
tạo ra bắng hiện tượng chưng cất hơi nước thuường là của những
lát mỏng và bột trầm hương cấp hạng tấp. Mặc dù việc chưng cất
là một phương pháp chi phí-hiệu quả của việc sử dụng sản phẩm
trầm hương thứ cấp, năng suất dầu thường là rất thấp và quá
trình chiết xuất được báo cáo rất tỉ mỉ và tốn nhiều thời gian.
Những thành phần cấu thành chính của dầu trầm hương là
sesquiterpenes (Jantan 1990), cấu trúc hoá học làm cho chúng rất
khó thực hiện, và vì thế tốn kếm rất nhiều, để tổng hợp (D.
Erhardt, Senior Chemist, TRP Agarwood Project, thư riêng với
Heuveling van Beek, trình bày trong báo cáo của Heuveling van
Beek và Philips, 1999). Mặc dù những hợp chất trầm hương tổng
hợp được sử dụng để tạo ra hương liệu chất lượng tồi và thẻ
nhang, hiện nay không có chất thay thế tổng hợp nhanh hoặc dầu
cấp cao số 5, hoặc dầu. Đầu trầm hương tổng hợp bán ít hơn
USD100/kg (Heuveling van Beek và Philips 1999).
Phân loại trầm hương trong mua bán
Trầm hương không phải là một sản phẩm đồng nhất, nhưng thay vì
có những tính trạng khác nhau. Trầm hương được phân loại theo
những hệ thống phân loại khác nhau thay đổi theo sản phẩm trong
mua bán và nước trong đó việc mua bán xảy ra. Cấp hạng (và vì
thế giá trị) của trầm hương và chất dẫn xuất từ trầm hương như
là dầu được xác định bởi nhiều nhân tố phức tạp gồm có nước xuất
xứ, lực và tuổi thọ của hương liệu, tỷ trọng gỗ, độ thuần khiết
sản phẩm, hàm lượng nhựa, màu và kích thước của hình thức được
mua bán. Loại và số cấp hạng trầm hương đã dùng trong một cấp
hạng trầm hương đã biết có thể thay đổi rộng rãi. Một nhà buôn
bán lớn ở Singapore, ví dụ, thường cho vảy hoặc lát mỏng từ năm
hoặc sáu nước, trầm hương từ mỗi nước chia thành ba đến năm cấp
hạng (Heuveling van Beek và Philips, 1999). Những thành phần cấu
thành hoá học của những cấp hạng khác nhau đã được khảo nghiệm
(Ishihara et al. 1991, trình bày trong báo cáo của Ng et al.
1997). Yoneda et al (1984, trình bày trong báo cáo của Ng et al.
1997) gợi ý là đặc tính sấy khô và phân loại sản phẩm hàng hoá
đã đăng ký A hoá học của trầm hương tay đổi theo lát mỏng trầm
hương loài ở Jakarta, Indonexia. Có hay không điều này là một
tình huống, căn bản là nước xuất xứ và chất lượng của gỗ, và
không cần loài từ đó trầm hương phát sinh, điều này có tầm quan
trọng lớn nhất đối với người tiêu dùng và vì thế người mua bán.
Một người buôn bán trầm hương trên nền Dubai được phỏng vấn ở
Mumbai khảo sát là chất lượng tốt nhất của trầm hương nhận được
(giả định là cung cấp hiện có) từ những nước trang trại sau theo
thứ tự giá trị giảm: Butan, Ấn Độ, Myanmar, CHND Lào, Kampuchea,
Việt Nam và Indonexia. Một thứ tự tương tự tuỳ chọn được cho bởi
Công Ty Mua Bán Trầm Hương lớn nhất ở Ấn độ về mặt trầm hương
gửi đến thị trường Trung Đông, mặc dù công ty báo cáo trầm hương
từ Assam sẽ được
tìm kiếm nhiều nhất theo (Heuveling van Beek và Philips, 1999).
Ng et al. (1997) báo cáo là trầm hương chất lượng cao là trầm
hương nhận từ Aquilaria baillonii (Cambodia),
A. crassna (Thailand), A.
grandiflora (Hainan, China) và A. agallocha,
mà họ coi như sẽ là một thể biến đổi của A. malaccensis
tìm thấy ở Bangladesh, Bhutan, Myanmar, và, ở Ấn Độ, ở Assam và
những quận huyên biên giới đông bắc. Người tiêu dùng và người
mua bán ở Đài Loan tin là những chất lượng cao nhất của trầm
hương phát sinh từ Sumatra, Borneo và từ vài hòn đảo khác ở quần
đảo Mã Lai (TRAFFIC East Asia-Taipei trong tltk TRAFFIC
International, 2, tháng 5, 2000). Heuveling van Beek và Philips
(1999) đã khảo sát là những người tiêu dùng ở những nước khác
nhau có những ưu tiên khác nhau để đánh giá chất lượng của trầm
hương, liên quan đến việc sử dụng có ý đồ nó. Những khách hàng
từ Trung Đông xem hương liệu sẽ là chất lượng quan trọng nhất và
ở Ấn Độ một số lượng có ý nghĩa dầu trầm hương được dùng trong
công nghệ dầu thơm, vì thế chất lượng mùi thơm quan trọng hàng
dầu.Người tiêu dùng từ Đài Loan mua số lượng quan trọng trầm
hương cho mục đích y học và trong những trường hợp trên không
phải là hương liệu của trầm hương mà là số lượng và thành phần
vật liệu nhựa trong gỗ có tầm quan trọng lớn nhất (Heuveling van
Beek and Phillips, 1999).
Trong nước Đài
Loan, số lượng trầm hương được đánh giá có hoặc không chìm trong
nước. Từ Trung Quốc dùng cho trầm hương (Ch'en
Hsiang/ChenXiang/Chen Xiang) nghĩa theo văn học "gỗ chìm".
Những mảnh trầm
hương chìm được giả định sẽ có một hàm lượng nhựa cao, (và vì
thế cấp hạng cao) so với những mảnh nổi. "Năng suất" của trầm
hương trong nước được trình bày với người tiêu dùng như là phản
ánh chất lượng của nó, mặc dù khảo nghiệm tình trạng chìm ít khi
được chứng minh cho người khách hàng. Những mảnh "nổi" phổ biến
ở Đài Loan nhiều hơn so với những mảnh "chìm" vì chúng không đắt
tiền. Đốt một mẫu nhỏ trầm hương là phương pháp phổ biến nhất
trong việc xác định thêm
cấp
hạng của những mảnh "chìm" hoặc "nổi", vì nhựa có thể thấy tiết
ra một hình thức giống như bọt khi gỗ bị đốt cháy. Điều này còn
cho người tiêu dùng cơ hội để đánh giá hương liệu trước khi mua
(TRAFFIC East Asia-Taipei, trong tltk TRAFFIC International
2-5-2000). Cấp hạng cao nhất được biết như là Chi-Nan và không
tfể sử dụng bằng mắt, tin sẽ là một kết quả thu hoạch quá mức.
Trong những tình huống rất hiếm khi bán, được báo cáo là thanh
toán trên USD11500/kg. Chất lượng tốt hạng 2 (Hui-An) phát sinh
từ Việt Nam. Điều này được báo là nhiều người thu gom trầm hương
chôn trầm hương không trưởng thành trong đất trong vài tháng để
kích sự phân huỷ. Điều này làm cho nó đồng nhất vảy đen, và sản
phẩm kết quả có thể bán như trầm hương cấp hạng thấp (Heuveling
van Beek và Philips, 1999).
Theo Heuveling van
Beek và Philips (1999), dầu trầm hương được chia cấp hạng trên
cơ sở chất lượng vật liệu thô, phương pháp chưng cất và kỹ năng
dùng trong quá trình chế biến. Điều nói sẽ là không thể sử dụng
bằng mắt để tìm ra dầu trầm hương thuần khiết (mặc dù mẫu thuần
khiết theo giả định nhân bởi TRP từ một nhóm thương mại trầm
hương quốc tế lớn ở Dubai.) Những người mua bán đã trình bày giá
cả cho dầu trầm hương thuần khiết cao bằng USD30000/kg, chất dầu
trên chỉ được thực hiện theo đơn đặt hàng. Dầu loại 2 giá ước
chừng USD15000/kg, nhưng thường giá dầu ở giữa USD5000/kg và
USD100000/kg. Tuy nhiên, dầu rẻ tiền, dễ pha trộn với có thể một
hỗn hợp của sandalwood (gố đàn hương) và dầu hạt mè, có thể được
mua với giá vài trăm đô la mỗi kilô. Hiện nay vài người mua bán,
nếu có, có thể đánh giá chất lượng và độ thuần khiết của dầu và
không rõ là độ thuần nhất giữa các kho dự trữ dầu. Chỉ một công
ty mua bán trầm hương lớn hình như là có thể khảo nghiệm độ
thuần của dầu bằng cách sử dụng phép ghi sắc ga (gas
chromatography) và phép ghi sắc nước năng suất cao.
Công dụng của trầm
hương
Trầm hương có ba
công dụng chủ yếu: y học, hương liệu và hương nhang. Nhứng số
lượng nhỏ được dùng cho những mục đích khác, như là điêu khắc.
Những công dụng này được trình bày chi tiết nhiều hơn dưới đây.
Công dụng trong y
học
Trầm hương đã được
dùng cho mục đích y học hàng ngàn năm, và tiếp tục sẽ được sử
dụng trong y học truyền thống ở Ayuvedic, Tây Tạng và Đông Á, ví
dụ (Chakrabarty et al. 1994; Fratkin 1994). Sahih Muslim, ghi
ngày tháng lui lại khoảng thế kỷ thứ 8, liên quan đến công dụng
của trầm hương trong việc điều trị bệnh viêm màng phổi
(pleurisy) và công dụng của nó được tham khảo trong sách y học
Ayuvedic Susruta Samhita. Trầm hương được kê đơn thuốc trong y
học Đông Á truyền thống để kích dòng chảy của qi, làm giảm đau
nhức, chặn đứng nôn mửa bằng cách làm ấm dạ dầy, và làm giảm
bệnh hen suyễn (Khuyết danh, 1995a). Bột trầm hương cấp hạng cao
được kê toa thuốc trong y hoc Trung Quốc (Yaacob, 1999) và cũng
được sử dụng trong việc sản xuất chất nhuộm trong dược học
(Heuveling van Beek và Philips, 1999). Burkill (1966) báo cáo là
người Mã Lai đã dùng trầm hương trộn chung với dầu dừa như một
loại dầu xoa, và cũng trong pha chế đun sôi để điều trị bệnh
thấp khớp và dau nhức cơ thể khác. Chakrabarty et al. (1994) đã
báo cáo là gỗ không nhiễm bị loại thường được dùng như
Kayugahuru lemppong bởi người Mã Lai để điều trị bệnh vàng da và
những bệnh đau nhức cơ thể khác. Bull (1930) trình bày trong báo
cáo của Chakrabarty et al. 1994) ghi chép công dụng của trầm
hương như là một loại thuốc mỡ (ointment) dung cho bệnh đậu mùa
(smallpox) và những bệnh đau bụng khác.
Trầm hương cũng
được kê toa thuốc cho bệnh phù thũng (dropsy) như là một loại
thuốc làm đánh rắm (carminative), thuốc kích thích cho nhịp đập
của tim, và như là một loại thuốc bổ dùng đặc biệt trong thời kỳ
thai nghén, sau khi sinh nở và với những loại bệnh cơ quan sinh
dục nữ (Chakrabarty et al. 1994).
Công dụng trong chế
tạo hương liệu
Công dụng của trầm
hương trong công nghệ hương liệu lui lại hàng ngàn năm, và được
tham khảo, ví dụ, trong Cựu ước (the Old Testament) vài lần bằng
cách sử dụng danh xưng "aloes" (cây lô hội). Khói và dầu trầm
hương thường dùng như hương liệu ở Trung Đông (Chakrabarty et
al. 1994). Ở Ấn Độ, nhiều cấp hạng khác nhau của trầm hương được
chưng cất riêng biệt trước khi pha trộn để tạo ra một "attar"
(tinh dầu hoa hồng) cuối dầu Minyak attaris một
loại hương liệu trong nền nước có dầu trầm hương, được dùng theo
truyền thống bởi những người Hồi (Muslims) để làm dải buộc quần
áo tụng kinh (Yaacob, 1999). Những loại hương liệu trầm hương ít
khi là dầu trầm hương thuần khiết, nhưng thay vì sử dụng một thể
mang (carrier) cồn hoặc phi-cồn, như là dầu "sandaloil" (gỗ đàn
hương). Hương liệu trầm hương rẻ tiền nhất là tổng hợp hoặc pha
trộn nhiều loại dầu với nhau, mỗi loại có chất lượng và mùi thơm
khác nhau. Mặc dầu có vài phức hương liệu trầm hương tổng hợp
thương phẩm, chúng có thể tạo ra chỉ những loại hương liệu chất
lượng thấp, do cấu trúc hoá học của dầu tự nhiên (Heuveling van
Beek và Philips, 1999). Tinh chất trầm hương hiện được dùng như
một loại hương liệu trong xà bông và dầu gội dầu (Kadir et al.
1997; trình bày trong báo cáo Schippmann, 1999). Trầm hương nghe
nói có giá cao bởi những người mua bán dầu thơm ở giữa những năm
1990 (trình bày trong báo cáo của Chakrabarty et al. 1994).
Công dụng trong sản
xuất nhang
Nhang trầm hương
được đốt cháy để tạo ra một mùi thơm dễ chịu, công dụng của nó
thay đổi từ một hương liệu tổng hợp đến một yếu tố lễ hội tôn
giáo quan trọng. Thân không đều của cây trầm hương, thường là
vài centimet dài và trọng lượng 10-200 g, có thể cắt hoặc bẻ ra
thành những mảnh nhỏ và sau đó đốt, thường là trong một công cụ
đốt nhang chế tạo đặc biệt (Heuveling van Beek và Philips,
1999). Bột và bụi trầm hương không thể đốt trực tiếp trên những
cây giữ nhang nhưng có thể sử dụng để tạo ra nhang cây hoặc
nhang cuộn để cho thơm trong nhà, và còn được dùng cho mục đích
tôn giáo bởi người Hồi, Phật giáo và Ấn Độ giáo (Yaacob, 1999).
Người tiêu dùng Đài
Loan mua trầm hương để tạo ra nhang thẻ bày bán ở Đài loan.,
1998. Nhang cây được dùng trong những buỗi lễ tụng kinh trong
nhiều nghi lễ truyền thống và hội diễn để mang lại bình yên và
may mắn (TRAFFIC East Asia-Taipei, trong tltk với TRAFFIC
International, 2-5-2000). Người Ấn Độ và người Trung Quốc đã
dùng trầm hương như một thành phần cấu thành chính của nhang thẻ
trong quá khứ, nhưng hiện nay nhang thẻ thường không có trầm
hương, mặc dù những người buôn bán Ấn Độ báo cáo là nhang thẻ Ấn
Độ có chất lượng dành để xuất khẩu có thể có một giọt dầu trầm
hương thêm vào chúng (Chakrabarty et al. 1994). Agarbatti là
nhang hình nón, lúc đầu cũng có bột trầm hương nhưng ngày nay
rất hiếm làm như vậy vì giá trầm hương cao. Thay vì, vật liệu
thải hình thức bột kem/nâu sáng nhận từ việc chưng cất dầu (có
ít hoặc không hàm lượng nhựa) được dùng để tạo ra một thể mang
cơ bản cho thành tố thơm, rẻ tiền khác. Bột trầm hương thải này
bán ước chừng USD5/kg.
Sản phẩm nhang của
Nhật Bản rất là khác nhau, với phần lớn sản phẩm cấp hạng cao
tạo ra bằng cách sử dụng nguyên vật liệu tự nhiên bao gồm chất
trích tràm hương nghiền kết hợp với thành tố khác như là gỗ đàn
hương và benzoin và sau đó cẩn thận đúc khuôn và đóng bánh. Trầm
hương thuần khiết cũng được đốt cháy như nhang ở Nhật bản. Người
sử dụng bẻ ra thành mảnh và đốt những mảnh nhỏ nếu cần, vì thế
những mảnh gỗ lớn sẽ kéo dài trong nhiều năm (Heuveling van Beek
và Philips 1999). Ở Nhật Bản, sự tái sinh trong nền nghệ thuật
cổ đại của Kodok, lế dâng hương, đã làm sống lại mối bận tâm về
trầm hương (Katz, 1996). Malayxia, người Hồi giáo đốt những
mảnh vụn trầm hương hoặc lát mỏng để tạo ra nhang trong những
buổi lễ tôn giáo đặc biệt, nhất là ở buổi lễ gặt, và nhang trầm
hương đã được ghi chép đang sử dụng ở đây trong những ngày tụng
kinh Ramadan (Chakrabarty et al. 1994). Vài bộ lạc Malaixia hun
khói đồng ruộng lúa với khói trầm hương để an ủi thần thánh địa
phương (Chakrabarty et al. 1994).
Nhang trầm hương
được dùng cho nhiều mục đích khác nhau ở Trung Đông, đặc biệt
trong những buổi lế cầu nguyện (Yaacob, 1999). Những lát mỏng
trầm hương và mảnh vụn cũng được đốt trong phòng tắm và nhang
được dùng như một hương liệu thông dụng. Những gia chủ buổi lễ
hội đặt những lát mỏng trầm hương trên than nóng, mùi thơm có ý
nghiã vào cuối buổi lễ hội.
Cái gạt tàn nhang
trầm hương với một Other dùng những mảnh gỗ Aquilaria đi cùng.
Burkill (1966) đã báo cáo là trầm hương vỉ lò (grated
Aquilaria) đã được dùng ở Malaixia cho mục đích mỹ phẩm,
đặc biệt là trong khi bệnh và sau khi sanh. Việc sử dụng vỏ trầm
hương như một vật liệu viết cũng đã được sưu tầm rộng và trầm
hương được dùng cho sử biên niên (chronicles) của những sách
quan trọng và tôn giáo thiêng liêng. Công dụng như một chất thay
thế giấy cũng được biết từ những người miền núi Trung Bộ (Việt
Nam) và từ Trung Quốc (Chakrabarty et al. 1994). Cuộn được báo
cáo chế tạo từ Aquilaria ở Malacca (một tỉnh của
Malaixia) (Chakrabarty et al. 1994).
Mặc dù có thể sử
dụng cho sức khoẻ gỗ trầm hương tạo ra những hộp hoa kiểng giản
đơn, loại gỗ này điển hình là quá sáng và có sợi (giống như loai
gỗ balsa (loại gỗ nhẹ).thích hợp cho việc đóng bàn ghế, xây dựng
hoặc cả điêu khắc. Vài nhà kiểm lâm ở Ấn Độ đã gợi ý dùng loai
gỗ Aquilaria để chế tạo những hộp chè (Chakrabarty
et al 1994). Vỏ Aquilaria được báo cáo dùng cho
mục đích này trong thế kỷ 19 (Heuveling van Beek và Philips,
1999). Có một số lượng rất lớn cửa hàng thủ công nghệ bán những
sản phẩm điêu khắc "trầm hương" tôn giáo, tường là những tượng
Phật. Mặc dù một tỷ lệ trầm hương chưa trưởng thành được dung
trong việc mua bán này, phần lớn những bức tượng không được tạo
ra với gỗ trầm hương, do đặc tính mềm và có vảy, làm cho nó
không thích hợp cho việc điêu khắc. Thay vì, gỗ cứng nhiệt đới
được xử lý sao cho giống gỗ trầm hương. Gỗ được mun hoá bằng
cách tiêm dầu hoặc nhựa đường vào trong thân cây và có thể cũng
là nhúng với hương liệu trầm hương (Heuveling van Beek và
Philips 1999). Trầm hương được dùng để tạo ra tượng và đồ vật
tôn giáo (ví dụ tượng Phât) ở Đài Loan (TRAFFIC East
Asia-Taipei, trong tltk TRAFFIC International, Tháng 8. 1999).
Với những đồ vật
điêu khắc, phần lớn chuỗi tràng hạt trầm hương và hột tràng hạt
mang bán là hàng giả mạo (fake), do chi phí xac định hình dạng
và khoan hoàn toàn những hột tròn của trầm hương chính thống.
Thay vì, những loại gỗ tối khác có thể ngâm trong dầu trầm hương
trong vài tuần lễ cho đến khi mùi thơm của trầm hương đã được
hấp thụ và những thứ này sau đó dùng thay cho trầm hương. Những
vòng cổ bằng hạt trầm hương giá ước chừng USD1500/kg (Heuveling
van Beek và Philips, 1999).
Trầm hương được
dùng như là một thành tố thơm của Chu-yeh Chiang và Vo Ka Pywine
ở Đài Loan (TRAFFIC East Asia-Taipei trong tltk TRAFFIC
International, tháng 5, 1999). Bột trầm hương được biết phun tia
trên quần áo và da như một chất xua đuổi côn trùng hiêu quả
chống lại bọ xít và chấy rận (Heuveling van Beek và Philips
1999). Sahih Muslims liên quan đến việc sử dụng trầm hương cho
mục đích xông khói.
Trầm hương có thể
cũng được thêm vào giàn thiêu thi thể (Chakrabarty et al. 1994)
và được dùng liệm thi thể để chôn (Yaacob, 1999). Ở Malaixia,
trầm hương được dùng như rảy rượu cúng (libation) trên những
thành ngôi mộ. (Chakrabarty et al. 1994).cho biết trầm hương đã
được cung cấp vào Trung Quốc từ Borneo, Sumatra, Java, bán đảo
Mã Lai và Kampuchea (chakrabarty et al 1994). Mô hình tương mại
trầm hương mới được tóm tắt dưới đây. Việc mua bán quốc tế trong
số liệu báo cáo năm của CITES về Aquilaria malaccensis
được tóm tắt trong Bảng 1. Đến nay, báo cáo năm của CITES về
việc mua bán A. malaccensis không nhất quán và,
tong tình huống nhiều nước tiêu dùng, không hiện có. Độ chính
xác của số liệu báo cáo năm của CITES về việc mua bán A.
malaccensis được thoả hiệp không chỉ bởi báo cáo lỏng
lẻo, mà còn bởi sự khó khăn trong việc nhận dạng trầm hương ở
cấp loài. Nhiều hơn một loài chuyên sản xuất trầm hương của
giống Aquilaria xuất hiện và được thu hoạch trong
những nước trang trại A. malaccensis chủ yếu. Việc
nhận dạng trầm hương ở cấp loài vượt quá khả năng của phần lớn
cán bộ thi hành luật: những tính trạng phân biêt của trầm hương
trong mua bán không liên quan đến loài, nhưng liên quan đúng hơn
đến số lượng và loại của hàm lượng nhựa. Như là một kết quả,
trầm hương được khai báo như A. malaccensis có thể
bao gồm những loài Aquilaria khác, và trầm hương
không khai báo như trên có thể không có vật liệu từ loài. Chính
phủ Indonexia đã đáp ứng lại tình huống này bằng cách đổi hỏi
giấy phép xuất khẩu của CITES đối với hầu hết ca xuất khẩu trầm
hương, với kết quả là những trường hợp xuất khẩu có báo cáo của
A. malaccensis từ Indonexia có thể gồm có không
nhữngl oài này, mà còn trầm hương từ những loài Aquilaria
khác. Hình như có thể là vài trường hợp xuất khẩu từ Malaixia có
giấy phép CITES cũng bao gồm những loài khác hơn là A.
malaccensis.
Một cách đan xen,
điều có thể cũng là A. malaccensis, được khai báo
như một loài khác, đang được xuất khẩu mà không đi kèm giấy phép
CITES. Như đã giải trình trong những phương pháp, vì thế số liệu
tiếp theo là được xem như những chỉ dấu tổng hợp của việc mua
bán trầm hương, và đặc biệt là ở A. malaccemsis,
nhiều hơn là như phản ảnh chính xác về khối lượng thương phẩm.
Trong số 14 nước
trang trại đã biết hoặc có thể thực hiện việc trồng
Aquilaria malaccensis, tất cả nhưng hai nước- Butan và
CHND Lào- là những bên CITES. Trong số 12 nước trang trại thành
phần, bốn nước- Indonexia, Malaixia, Singapore và Thái Lan- đã
ghi chép xuất khẩu/xuất khẩu lại A. malaccensis
trong những báo cáo năm CITES của họ. Số liệu trong báo cáo năm
của CITES trong thời gian này đối với Malaixia và Thái Lan có
thể phản ảnh dưới mức khối lượng xuất khẩu tổng cộng của loài từ
hai nước này. Trong trường hợp Malaixia, báo cáo năm của CITES
chỉ được đệ trình bởi Bán đảo Malaixia vào lúc viết báo cáo. Số
liệu xuất khẩu Sarawak, được biết xuất khẩu số lượng có ý nghĩa
trầm hương, và với Sabah, vì thế không thể sử dụng. Sarawak được
tin đã đệ trình những báo cáo năm trong thời gian từ 1995 đến
1997 lên Ban Thư ký CITES tháng 3, 2000. Số liệu này không thể
sử dụng cho báo cáo này với hiệu quả là thương mại đã báo cáo
CITES của Sarawak không trình bày dưới đây. Số liệu báo cáo năm
của CITES cho biết xuất khẩu ít hơn một tấn A. malaccensis
từ Thái Lan thời gian từ 1995-1997, ngược lại trên 177 t trầm
hương nhập khẩu từ Thái Lan đã ghi chép trong số liệu thống kê
của Hải Quan Đài Loan trong cùng thời gian. Mặc dù những số liệu
hải quan này không mô tả đặc tính loài, hình như có thể là ít
nhất vài loài trong mua bán liên quan đến A. malaccensis.
Trong số 15 bên với
họ Aquilaria malaccensis được xuất khẩu giữa 1995
và 1997, theo số liệu báo cáo năm của CITES, chỉ năm nước đã ghi
chép nhập khẩu A. malaccensis. Những bên này là
Canada, Ấn độ, Hong Kong, Nhật Bản và Singapore (Xem Bảng 1).
Những bên này đã báo cáo như nơi nhận xuất khẩu nhưng nước không
báo cáo nhập khẩu tương ứng là Bangladesh, Trung Quốc, Ai Cập,
Nam Dương, CH Triều Tiên, Ma Rốc, Saudi Arabia, Tây Ban Nha,
Thái Lan và những nước Tiểu Vương quốc Ả Rập (xem Bảng 1). Trong
số, ba không cung cấp báo cáo năm CITES trong những năm trong đó
xuất khẩu đã được báo cáo (Bangladesh, Ai Cập và Saudi Arabia).
Bốn nước không thành phần (Bhutan, Kuwait, Oman và Qatar) được
ghi chép như nước nhận xuất khẩu, như Đài Loan.
Số liệu trong báo
cáo năm của CITES cho biết việc mua bán thuần tổng số trầm hương
dưới hình thức thô hoặc nửa chế biến (ví dụ gỗ, lát mỏng và
bột) của trên 1350 t từ 1995 đến 1997. Việc mua bán này chỉ là
một phần mua bán quốc tế tổng cộng trầm hương, như đã chứng minh
bởi số liệu nhập khẩu Hải Quan từ Đài Loan, cho biết nhập khẩu
tổng công ước chừng 2050 t trầm hương trong cùng thời gian.
Thông tin không đủ để nhận dạng số phần trăm nhập khẩu có thể đã
có liên quan đến Aquilaria malaccensis.
Tất cả việc mua bán
do CITES báo cáo đang có mục đích thương mại và được ghi chép về
mặt trọng lượng.
Số phần trăm trọng
lượng của tống số lượng trầm hương mua bán (từ 1995 đến 1997)
với những hình thức khác nhau là: lát mỏng, 95,95%; gỗ 2,99%;
bột 1,04% và dầu 0,02%. Trên 90% Aquilaria malaccensis
báo cáo trong mua bán có xuất xứ hoang dã. Không có ghi chép nào
nhân giống nhân tạo A. malaccensis trong mua bán.
Xuất xứ xuất khẩu lại, dự trữ trước Qui Định A. malaccensis cho
15 nước bởi Hong Kong và Singapore thường không được báo cáo.
Tiếng Việt: Chu
Hữu Tín (19-05-2005)
Trở về Trang Chính
|