Mua bán trầm hương và

kiểm tra mua bán trầm hương

Aquilaria malaccensis


Chu Hữu Tín

16 tháng 06 năm 2005

Việc mua bán quốc tế trầm hương liên quân đến gỗ, ván, bột, dầu và, mặc dù không được nhận diện theo số liệu mua bán khả dụng, phần lớn những sản phẩm hoàn tất chắc chắn như dầu thơm, nhang và dược liệu. Việc phân loại (xếp hạng) trầm hương, và vì thế giá trị của nó, lệ thuộc không những vào loài liên quan, mà còn vào một bộ phức tạp những yếu tố liên quan đến kích cỡ, hàm lượng nhựa, hương liệu, và màu sắc của trầm hương dùng để bán và, trong trường hợp dầu, với độ thuần khiết của nó. Nước xuất xứ cũng là một yếu tố quan trọng xác định giá trị trầm hương.

Dựa trên số liệu mua bán khả dụng, Nam Dương và Mã Lai hình như sẽ là xuất xứ chính của trầm hương (các loài) trong việc mua bán quốc tế. Những số lượng xuất khẩu theo báo cáo của CITES về A. malaccensis từ Nam Dương đứng đầu 920 t  từ 1995 đến 1997. Những số lượng xuất khẩu này có thể đã bao gồm những loài Aquilaria khác thêm vào A. malaccensis. Trên 340 t A. malaccensis được báo cáo như xuất khẩu từ bán đảo Mã Lai trong suốt cùng một thời gian. Số liệu báo cáo năm của CITES về số lượng xuất khẩu từ Sabah và Sarawak không thể sử dụng vào lúc viết báo cáo. Tuy nhiên, theo thông tin đã nhận từ giới chức thẩm quyền quản lý của CITES, gần 530 t A. malaccensis được xuất khẩu từ Sarawak riêng trong năm 1998. Như với Nam Dương, số lượng xuất khẩu đã báo cáo từ Malaxia có thể đã bao gồm loài thêm vào A. malaccensis. Việt Nam cũng là nguồn quan trọng trầm hương trong mua bán, với số liệu Hải Quan Đài Loan cho biết số lượng nhập khẩu trên 500 t trầm hương từ Việt Nam từ 1993 đến 1998. Việt Nam không được tin như là một nước trang trại trồng A. malaccensis, và vì thế nó hình như là những chuyến gửi hàng này liên quan đến những loài khác ví dụ A. crassna. Cả hai Việt Nam và Thái Lan được báo cáo đã xuất khẩu trên 300 t trầm hương từ 1993 đến 1998; chỉ Đài Loan là nước trang trại trồng A. malaccensis. Những khảo nghiệm xa hơn là cần để sưu tầm trong vai trò mua bán của CHND Lào và Myanmar, cũng đã được nhận diện như những nước xuất xứ trầm hương. Phần lớn trầm hương trong mua bán quốc tế dành cho người tiêu dùng ở Viễn và Trung Đông, với những nơi đến của số lượng xuất khẩu cuối từ 1995 đến 1997 gồm có Ả Rập Xê Út, những tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Hồng Kông và Đài Loan. Tuy nhiên, số ít số liệu nhập khẩu có thể sử dụng, với phần lớn những nước tiêu dùng không thành công trong việc báo cáo viêc nhập khẩu A. malaccensis trong số liệu báo cáo năm của CITES. Nhiều điều đã biết liên quan đến nơi gởi cuối phát sinh từ xuất khẩu báo cáo của Indonexia và Malaixia, và nhập khẩu và xuất khẩu lại của Singapore. Nước nói sau giữ một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc mua bán, xuất khẩu trầm hương từ Nam và Đông Nam Á, trong số phần lớn chắc là đa số lớn được xuất khẩu lại, vài trong một hình thức chế biến cao, ví dụ: dầu. Singapore đã báo cáo việc xuất khẩu lại của ước chừng 800 t A. malaccensis từ 1995 đến 1997, ước chừng 70% số lượng trầm hương báo cáo như là đã xuất khẩu tới Singapore bởi Indonexia và bán đảo Malaixia trong cùng một thời gian (1113 t). Khi một nhà cung cấp chính trầm hương cho thị trường quốc tế, Ấn Độ hiện nay hành động cơ bản như là một trung tâm chế biến trầm hương từ những nước trang trại khác, có dự trữ tự nhiên phần lớn thiếu do việc khai thác quá mức

Tất cả những nước trang trại Aqualaria mà thông tin được thu gom về khảo nghiệm này đã ban hành vài hình thức thu hoạch và/hoặc kiểm tra việc mua bán. Những chính phủ của Indonexia, bán đảo Malaixia, và Sarawak (nhưng không Sabah) đòi hỏi là những nhà xuất khẩu A. malaccensis nhận giấy phép xuất khẩu CITES. Tuy nhiên, điều này hình như không phải là "phát hiện không gây hại " đủ đòi hỏi bởi Qui định đã thực hiện trước khi cấp giấy phép này. Thông tin về tình trạng loài hoang dã như là hiếm, giới hạn khả năng của những chính quyền

trong việc xác định xem là xuất khẩu đang được duy trì ở chừng mực bền vững. Những cố gắng tham gia vào những yêu cầu của CITES bị ngăn cản thêm bởi những khó khăn trong việc nhận diện loài trong việc mua bán. Việc nhận dạng bằng mắt gỗ ở cấp loài thì khó và vượt quá khả năng của phần lớn cán bộ áp lực. Việc nhận dạng những sản phẩm như là dầu có thể không thực hiên được nếu không sử dụng phương pháp trong phòng thí nghiệm. Như là một kết quả, những thẩm quyền áp lực ở Indonexia và Malaixia hình như không phân biệt giữa trầm hương thuộc loài Aquilaria trong mua bán. Những vụ thu hoạch và mua bán bất hợp pháp phá hoại thêm những cố gắng để quản lý việc khai thác loài Aquilaria. Có những báo cáo về việc thu hoạch trầm hương bất hợp pháp và/hoặc mua bán ở Ấn Độ, Indonexia, CHND Lào, Malaixia, Myanmar, Papua Tân Ghi nê và Việt Nam. Những thu hoạch bất hợp pháp từ những vùng có bảo vệ đã được báo cáo ở Indonexia, ví dụ, và từ những trang trại trầm hương nhà nước ở Ấn Độ. Với viễn vọng yêu cầu thường xuyên về mặt suy giảm nguồn cung cấp, những dự án được tiến hành trong vài nước để làm tăng sản xuất trầm hương thông qua việc trồng trọt những loài Aquilaria (ví dụ ở Ấn Độ, Indonexia, Việt Nam) và qua việc tìm kiếm phương pháp kích thích nhân tạo những cây trầm hương để tạo ra trầm hương (ví dụ Indonexia, Việt Nam). Nói chung, những cố gắng như trên chưa xuất hiện như đã thành công trong việc sản xuất trầm hương với số lượng thương phẩm đủ để vượt yêu cầu cho dự trữ hoang dã. Tuy nhiên, trầm hương đang được sản xuất bởi những nông trường trầm hương A. malaccensis ở Ấn Độ và một chương trình để kích thích sản xuất trầm hương trên những cây Aquilaria đã trồng ở Việt Nam được báo cáo đã thành công trên một cơ sở khảo nghiệm.

Như đã trình bày trên, sáu loài Aquilaria đã được xem như là bị đe doạ bởi khai thác quá mức.  Trừ trường hợp hành động xa hơn để kiểm tra việc thu hoạch và mua bán trầm hương, hình như có thể là những quần thể hoang dã của A. malaccensis và loài sản xuất trầm hương khác sẽ tiếp tục suy giảm. Ảnh hưởng âm tính của mức suy giảm trên sẽ cảm nhận không những về mặt thiệt hại đa dạng sinh học mà còn về mặt mức khả dụng giảm điều rõ là một tài nguyên rừng có giá trị cao và được đánh giá cao. Hành động được cấp thiết đòi hỏi một số lượng lớn mặt trận để làm giảm những mô hình thu hoạch quá mức hiện nay và việc mua bán bất hợp pháp. Yêu cầu nhiều hơn sẽ được biết liên quan đến tình trạng và sinh học của những loài này trong việc mua bán, đặc biệt là ở những nước đã biết đang xuất khẩu khối lượng lớn trầm hương, ví dụ  Kampuchea, Indonexia, Malaixia, Thái Lan và Việt Nam. Cố gắng nghiên cứu tăng ở những nước này và những nước trang trại khác phải được cho quyền ưu tiên cao. Yêu cầu nhiều hơn sẽ được biết liên quan đến dòng chảy lợi tức từ việc thu hoạch và mua bán trầm hương để làm tăng những cơ hội và khuyến khích quản lý thu hoạch và mua bán tốt nhiều hơn. Việc kiểm tra thu hoạch và mua bán hiệu quả nhiều hơn, gồm có việc thực thi cải tiến CITES và công cụ tốt nhiều hơn để nhận dạng loài trong mua bán cũng là cần. Nên chú ý đặc biệt đến việc tạo ra những phát hiện không gây hại cho A. malaccensis ở Nam Dương và Mã Lai và việc nhận dạng loài trong mua bán từ những nước này và những nước trang trại trồng A. malaccensis, như là Thái Lan. Đã biết là nhiều loài Aquilaria khác cũng bị đe doạ bởi việc khai thác quá mức trong mua bán, bao gồm những loài này và có thể toàn bộ giống vào trong những phụ bản CITES phải được xem xét. Nghiên cứu thêm về tiềm tàng làm tăng sản xuất trầm hương một cách nhân tạo cũng phải được đưa vào trong những kế hoạch quản lý bền vững những loài này. Việc hợp tác của những gười giữ tiền cược (stakeholders) bị ảnh hưởng bởi việc bảo tồn Aquilaria, thu hoạch à mua bán là cần nếu những cố gắng trên sẽ thành công trong việc đảm bảo tương lai của loài Aquilaria và trầm hương họ sản xuất. Một khoá họp hội thảo để cung cấp một cơ hội cho những người giữ tiền cược chia sẻ thông tin và kinh nghiệm có thể là một bước đầu quan trọng trong việc thúc đẩy sự hợp tác trên.

Quá trình canh tác

Aquilaria malaccensis và sản xuất trầm hương

Aquilaria malaccensis là một trong 15 loài thuộc giống Aquilaria Indomalesian, họ Thymelaeaceae, (Mabberley, 1997). Trầm hương là loài cây đại mộc trường sinh lớn phát triển trên 15-30 m cao và 1,5-2,5 m đường kính, và có hoa trắng (Chakrabarty et al. 1994).

A. malaccensis và những loài khác trong giống Aquilaria thỉnh thoảng tạo ra trầm hương có thấm nhựa thơm và lá của cây Aquilaria malaccensis có giá trị cao. Có nhiều tên cho loại gỗ nhựa này, gồm có agar, agarwood, aloeswood, eaglewood, gaharu và kalamabak, loại gỗ này có yêu cầu cao trong y học, nhang và hương liệu qua châu Á và Trung Đông.

Phân bố và nơi ở

Aquilaria malaccensis được phân bố rộng ở Nam và Đông Nam châu Á. Có những giải trình khác nhau về nước trong đó trầm hương xuất hiện. Theo Oldfield et al. (1998), A. malaccensis được tìm thấy ở 10 nước: Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Nam Dương, Iran, Mâ Lai, Myanmar, Philippines, Singapore và Thái Lan. Lời tuyên bố hỗ trợ kèm theo đề xuất của Ấn Độ trình bày loài này trong những phụ bản của Hội nghị về Thương Mại Quốc Tế loài có nguy cơ của động và thực vật hoang dã (CITES) cũng kể tên CHND Lào và Việt Nam như những nước trang trại. Tình trạng của A. malaccensis trong hai nước này cần xác nhận, Oldfield et al. (1998) ghi chép là họ là những nước trang trại trồng A. crassna, cũng là một vấn đề liên quan đến A. malaccensis xuất hiện ở Iran (T. Soehartono trong tài liệu tham khảo về TRAFFIC International, 25-04-2000, H. Heuveling van Beek, TRP, trong tltk TRAFFIC International, 2 May 2000).

Loài Aquilaria đã thích ứng để sống trong những nơi ở khác nhau, bao gồm những nơi ở có đá, cát, hoặc đá vôi, dốc và đỉnh tiêu nước tốt và đất gần đầm lầy.

Chúng điển hình phát triển giữa những cao độ 0-850 m, ở những nơi có nhiệt độ ngày trung bình 20-22oC (Afifi, 1995, Keller và Sidiyasa, 1994; Wiriadinata, 1995).

Tình trạng bảo tồn:

Aquilaria malaccensis được xem "gây hại" theo bộ sách đỏ IUCN hiện nay, và được bao gồm trong sách quốc tế cây đại mộc bị đe doạ (Oldfield et al. 1998). Áp lực thu hoạch rất lớn được ghi chép trong những nước trang trại như là Nam Dương, Mã Lai và Thái Lan khi loài được đề xuất đưa vào Phụ bản II. Rất ít thông tin mới công bố có thể sử dụng liên quan đến tình trạng của loài này. Thông tin thu được trong khi nghiên cứu chỉ dấu là việc khai thác quá mức vẫn là mối bận tâm có ý nghĩa. Một báo cáo của Chakrabarty et al. (1994) thu được trong mua bán ở Ấn Độ về trầm hương đã kết luận là A. malaccensis bị đe doạ nhiều ở nước do việc khai thác loài cho mục đích thương phẩm. Bảy loài Aquilaria khác cũng được xem như bị đe doạ theo cấp hạng trong Sách Đỏ IUCN, năm trong số được xem là có rủi ro vì việc khai thác quá mức trầm hương: A. beccariana (gây hại); A. crassna (có nguy cơ tới hạn); A. cumingiana (có hại), A. hirta (có hại) và A. microcarpa (có hại) (Oldfield et al. 1998).

Việc sản xuất trầm hương

Ba giả thuyết hiện có liên quan đến việc hình thành trầm hương, như là kêt quả của những quá trình bệnh học, gây thương tích/bệnh học và/hoặc phi bệnh học (Ng et al. 1997).

Theo Ng et al (1997), những khảo nghiệm không đưa ra bằng chưng kết luận với bất kỳ giả thuyết nào. Oldfield et al. (1998) nói là việc sản xuất nhựa đáp ứng lại lây lan nấm, và Heuveling van Beek (TRP, trong tltk TRAFFIC International. 2 -5, 2000) nghĩa là đáp ứng lại vết thương. Ông nói thêm là lây lan nấm  có thể làm tăng sản xuất nhựa như là một phản ứng của ký chủ chống lại thiệt hại tăng do phát triển của nấm. Cây Aquilaria lây lan tự nhiên bởi rất nhiều

loại nấm gồm có Aspergillus spp., Botryodyplodia spp., Diplodia spp., Fusarium bulbiferum, F. laterium, F. oxysporum, F. solani, Penicillium spp., và Pythium spp (Khuyết Danh, Ảnh cho biết cấu trúc tế bào bên trong cây Aquilaria, vùng trắng cho biết tích tụ nhựa. 1998a; Santoso, 1996, trình bày trong báo cáo Soehartono và Mardiastuti, 1997, Wiriadinata, 1995). Phản ứng sinh thái giữa cây chủ và vết thương và/hoặc nấm để tạo ra trầm hương không biết rõ. Những nhân tố khác như là tuổi cây, những khác biệt trên cây gây ra do biến đổi theo mùa, biến đổi môi trường và biến đổi di truyền của Aquilaria spp. có thể c giữ vai trò quan trọng trong hình thành trầm hương (Ng et al 1997). Không phải là tất cả cây Aquilaria tạo ra trầm hương, Gibson (1977, trình bày trong báo cáo Ng et al., 1997) tính toán là chỉ ước chừng 10% Aquilaria spp. hoang dã tạo ra nhựa. Gianno (1986, trìng bày trong báo cáo La Frankie, 1994) đề xuất là chỉ 1/10 cây trưởng thành trên 20 cm đường kính ở bề cao ngực (dbh) tạo ra trầm hương. Theo Chakrabarty t al. 1994, những cây bị nhiễm tạo ra nhựa từ tuổi 20 trở về sau, Sadgopal (1960, trình bày trong báo cáo của Soehartono, 1997) gợi ý là năng suất tốt nhất nhận từ những cây trên 50 năm tuổi hoặc trên. Những công tình nghiên cứu mới thực hiện bởi Dự án Rừng có mưa (TRP) ở Việt Nam đã cho biết là sự hình thành trầm hương có thể xuất hiện trên những cây trồng trẻ như ba năm tuổi, như được xác nhận bởi phân tích hoá học (H. Heuveling van Beek, TRP, trong tltk TRAFFIC International, 2-5-2000).

Năng suất và chất lượng của trầm hương có nhựa tạo ra cũng thay đổi rất nhiều (Hartadi, 1997; Ng et al. 1997; Oetomo, 1955; Wiriadinata, 1995). Khảo nghiệm thực hiện ở Tây Kalimantan, Indonexia, chứng minh là năng suất nhựa Aquilaria không tương ứng với đường kính cây hoặc khối lượng gỗ, ngay cả khi cây có những chỉ dấu lây lan giống nhau (Soehartono và Mardiastuti, 1997). Gianno (1986, trình bày trong La Frankie, 1994) gợi ý là những cây này trên 20 cm dbh đã tạo ra trầm hương miễn là ước chừng một kilô trầm hương mỗi cây.

Thu hoạch

Trầm hương được trích từ những cây bằng cách đốn ngã và sẻ chúng để lộ ra sản phẩm nhựa. Rễ của cây Aquilaria có thể cũng có nhựa và nếu đúng vậy cũng có thể thu hoạch làm thương phẩm. Như đã trình bày trên, chỉ số phần trăm tương đối nhỏ số lượng cây Aquilaria có thể tạo ra trầm hương.

Những cây đang chết được nghĩ đặc biệt có thể có trầm hương, những chỉ dấu là cây đang chết gồm có lá vàng nhạt, những cành không lá có những đốm phình to dọc theo cành và thân và vỏ rất khô.

Mặc dù cây bệnh rõ là biểu hiện vài triệu chứng đã trình bày trên, điều này không thể nhận dạng cây đang sản xuất trầm hương theo phương pháp có thể tin cậy bằng cách kiểm tra bằng mắt. Vì thế, nhiều cây Aquilaria không bệnh bị đốn ngã để tìm kiếm những cây có trầm hương (Hartadi, 1997, Lambert 1992, trình bày theo Khuyết Danh, 1994, Ng et al 1997; Oldfield et al. 1998). Trong vài trường hợp, điều này có thể trở thành bị bệnh khi đổ ngã. Ngoài ra, theo Heuveling van Beek (TRP, trong tltk TRAFFIC International, 02-05-2000) nhiều cây tạo ra số lượng rất nhỏ trầm hương chất lượng thấp khó phát hiện nếu người thu hoạch chỉ đang tìm  những nơi tích tụ nhiều chất lượng cao.

Những cộng đồng Dayak ở Nam Dương tin là cây con đang chết và những cây nhỏ (chỉ dấu bằng lá vàng) chứng tỏ sự lây nhiễm của cây mẹ. Chúng xuất hiện như có thể nhận dạng cây bị nhiễm bằng cách phân biệt giữa tiếng động tao ra do gõ trên thân cây bị nhiễm và tiếng động tạo ra bằng cách gõ trên thân cây không bị nhiễm (Soehartono và Mardiastuti, 1997).

Phần dẫn nhập

Sự chú ý quốc tế vào những mối bận tâm liên quan đến tình trạng và mua bán Aquilaria malaccensis năm 1994, khi Chính Phủ Ấn Độ, một nước trang trại trồng loài này, đệ trình một đề xuất để bao gồm nó trong Phụ bản II của Hội nghị về mua bán quốc tế loài động vật và thực vật có nguy cơ (CITES). Đề xuất được chấp nhận trong kỳ họp thứ 9 của Hội nghị các bên của CITES   (Fort Lauderdale, 1994), danh sách có hiệu lực từ 16-02-1995.

Danh sách trong Phụ bản II đòi hỏi là những bên CITES  cấp giấy phép CITES trước khi xuất khẩu hoặc xuất khẩu lại loài này, và là những nước đang nhập khẩu là những bên CITES xác nhận là những giấy phép trên khi gửi hàng được nhập khẩu. Những giới chức thẩm quyền trong những nước trang trại đang xuất khẩu bị bắt buộc đảm bảo là xuất khẩu được duy trì ở chừng mực không có hại cho sự sống sót của loài, và là những tiêu bản sẽ được xuất khẩu đã được nhận trong trường hợp vi phạm luật pháp của nước đó (thông tin thêm về yêu cầu CITES có thể nhận từ http://www.cites, org hoặc bằng cách liên hệ với CITES Secretariat.

Uỷ Ban Thực Vật CITES đã xác định là khảo sát việc thực thi Phụ Bản II CITES bày về Aquilaria maclaccensis là một ưu tiên trong quá trình mua bán có ý nghĩa CITES đối với thực vật trong thời gian 1998-2000. Ban Thư Ký CITES sau đó hợp đồng với TRAFFIC Network để thực hiện cuộc khảo sát trên ở những nước trang trại chủ yếu. Khi bị nghi ngờ và khảo nghiệm xác nhận, thì không thể khảo nghiệm việc mua bán trầm hương từ A. malaccensis khi phân lập khỏi việc mua bán kết hợp của tất cả loài chuyên sản xuất trầm hương. Khảo nghiệm của CITES vì thế được mở rộng quá sự nhấn mạnh đầu để đưa những phương pháp lớn thu hoạch trầm hương, sử dụng và mua bán. Một báo cáo tạm vè những phát hiện của TRAFFIC được đệ trình cho Buổi họp thứ 9 của Uỷ Ban Thực Vật CITES tháng 6-1999, và tài liệu dự án cuối đệ trình lên Ban Thư Ký CITES và sau đó thông báo đến tất cả những nước trang trại trồng A. malaccensis tháng 9, 1999. Khi xem xét những phát hiện của khảo nghiệm TRAFFIC'S buổi họp lần thứ 11 của Hội Nghị các bên (Nairobi, 2000) đã định hướng Uỷ Ban Thực Vật để thực hiện công trình thêm để giải quyết những vấn đề nhận dạng loài, nhạn dạng những biện pháp để cải tiến báo cáo việc mua bán, và xác định xem là những loài Aquilaria khác xứng đáng để đưa vào Phụ Bản II của CITES.

Tài liệu dự án cuối tạo ra nền của báo cáo này, đưa những ý kiến vào tài liệu dự án nhận từ những nước trang trại.

Phương pháp

Khảo nghiệm trong Dự án này được thực hiện bởi cán bộ và tư vấn làm việc cho TRAFFIC East Asia, TRAFFIC India, TRAFFIC Southeast Asia và TRAFFIC International. Nơi không được mô tả đặc tính, thông tin cung cấp được thu gom bởi cán bộ và tư vấn TRAFFIC.

Thông tin được thu gom từ Ban Quản Lý CITES và Cán Bộ Khoa Học thông qua  những mẫu câu hỏi và phỏng vấn (tiếp xúc trực tiếp hoặc thông qua đường điện thoại) (ví dụ.Hải quan, Công an, Sở Lâm nghiệp). Thông tin cũng được thu gom từ những nhà nghiên cứu trầm hương, công ty quốc doanh, người mua bán (nhập khẩu, xuất khẩu, bán sỉ và bán lẻ) và hiệp hội thương mại. Những chuyến tham quan thị trường được thực hiện ở Ấn Độ (Mumbai (trước là Bombay) và những bang miền đông bắc); Nam Dương (Jakarta); CHND Lào (Vientiane); Malaixia (Kuala Lampur); Thái Lan (Bangkok); Singapore và Việt Nam. Những chuyến tham quan cũng được thực hiện đến những điểm thu hoạch và trung tâm chế biến ở Ấn Độ, CHND Lào và Việt Nam. Bộ phận lớn của công trình khảo nghiệm ngoài đồng ruộng này được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 3, 1999. Luật lệ và tài liệu tham khảo đã công bố cũng đã được hiệu đính và xem như có thể sử dụng. Số liệu báo cáo năm của CITES về Aquilaria malaccensis được phân tích trong những năm 1995-1997, năm cuối đang là lần cuối với nó số liệu hoàn toàn tương đối có thể sử dụng. Những số liệu này được biên tập bởi WCMC (Trung tâm Kiểm tra Bảo tồn Quốc tế=World Conservation Monitoring Center) từ những báo cáo năm đệ trình bởi những bên thuộc CITES, sưu tầm việc mua bán quốc tế về những loài trình bày trong CITES. Những báo cáo năm của CITES cần được đệ trình bởi những bên cho Ban Thư Ký của CITES trước ngày 31-10 trong năm sau đó trong đó việc mua bán nào đã xảy ra. Tuy nhiên, lần nạp cuối những báo cáo năm không phổ biến thì không trình báo cáo nào cả. Số liệu trình bày trong những báo cáo năm CITES có thể có cơ sở trên giấy phép CITES đã cấp (vài giấy phép đã không được sử dụng), giấy phép CITES đã dùng, hoặc trên khối lượng mua bán hiện hành. Như là một kết quả những nhân tố này và những nhân tố khác, trong khi chúng có thể cung cấp thông tin có ích liên quan đến mô hình và xu hướng mua bán, những số liệu của CITES không phản ảnh chính xác khối lượng mua bán hiện hành, Số liệu Hải Quan ở Ấn Độ, Indonexia, Malaixia và Đài Loan cũng được biên tập và phân tích. Với số liệu CITES, những số liệu này hỗ trợ thắp sáng việc mua bán, nhưng không tạo ra một bức ảnh chính xác về việc mua bán hiện hành hoặc khối lượng mua bán.

Nơi nào giá bán trầm hương đã nhận tiền tệ khác hơn là USD, chúng phải được qui đổi thành đô la bằng cách dùng tỷ lệ hối đoái trung bình giữa những ngân hàng trong giai đoạn 1-1 đến 31-3, 1999, dựa trên tỷ lệ cung cấp bởi hệ thống qui đôi tiền tệ trực tuyến (OANDA, 2000). Tỷ lệ qui đổi sau được sử dụng. INR1 (Ru-pi Ấn) = USD0,02353; IDR1 (Ru-pia Indonexia)= USD0,00011; MYR1 (Ringgit Malaixia)= 0,26311; THB1 (Thai Baht)= USD0,02695. Chi phí thuế xuất khẩu, giấy phép, giấy phép thu hoạch … đã được qui đổi thành đô la Mỹ cùng một tỷ lệ. Nơi giá bán trầm hương lịch sử đã nhận, giá trị của chúng đã được qui đổi thành đô la Mỹ theo tỷ lệ hối đoái giữa ngân hàng trung bình năm trừ trường hợp có qui định khác. Giá trị tính tròn qui đổi của vài giá trầm hương lịch sử đã được điều chỉnh do lạm phát ở mức năm 1998, điều này mới nhất có thể sử dụng trọn năm về tỷ lệ lạm phát vào lúc viết báo cáo. Những điều chỉnh trên được thực hiện theo chỉ số lạm phát Hoa Kỳ (US Gross Domestic Product Deflator inflation index) dùng một máy tính trực tuyến (NASA 2000). Chỉ số lạm phát có cơ sở trên tỷ lệ lạm phát trong năm tài chính của Chính Phủ Hoa Kỳ (1-10 đên 30-9).

Mục đích của báo cáo này, danh xưng "trầm hương" được dùng khi thông tin không liên quan một cách đặc biệt đến Aquilaria malaccensis. Aquilaria malaccensis (A. malaccensis) chỉ được dùng khi sản phẩm mua bán đã được nhận dạng một cách đặc biệt như A. malaccensis.

Công dụng và mua bán trầm hương

 

Hình thức trầm hương trong mua bán

Trừ trường hợp mô tả đặc tính khác, thông tin trong phần này nhận từ Heuveling van Beek và Philips (1999). Trầm hương được mua bán dưới vài hình thức thô, thay đổi từ những mảnh lớn của thân đến sản phẩm hoàn tất như là nhang và hương liệu. Cành hoặc thân là những hình thức lớn nhất trong mua bán và có thể là một đến hai mét dài và cân nặng nhiều hơn 10-20kg. Những mảnh lớn như trên có giá bán cao, chi phí vận chuyển tốn kém tương đối và không dễ pha trộn. Chúng ít khi thấy trong mua bán, tuy nhiên, vì những khó khăn trong việc tìm ra hiện nay những mảnh lớn gỗ có nhựa. Những người mua bán được phỏng vấn gợi ý là những mảnh lớn trầm hương hiện nay chỉ có thể sử dụng từ Indonexia. Những mảnh cành hoặc thân trầm hương lớn cơ bản được mang bởi những khách hàng từ Nhật Bản, hiển nhiên để sử dụng trong lăng mộ cá thể. Những mảnh trầm hương lớn cĩng được tìm thấy trong đền miếu, thánh thất, tu viện và những cơ sở xây dựng tôn giáo khác. Những mảnh lớn như trên ít khi, nêu không bao giờ, cung cấp số lượng và chất lượng đồng nhất của vật liệu nhựa, nhưng hình dạng gỗ được nghĩ giữ một phần trong việc chọn lọc khách hàng. Những đoạn và mảnh nhỏ trầm hương, thay đổi về kích cỡ mảnh từ cành hoặc thân đến lát mỏng (chíp) hoặc vảy (flakes), được tìm kiếm nhiều nhất bởi người tiêu dùng từ Trung Đông.

Những lát mỏng và vảy là những hình thức trầm hương phổ biến nhất trong mua bán. Chỉ 10-20% những thanh hoặc mảnh trầm hương lớn có thể rút ra thành lát mỏng và vảy, với phần còn lại bán như bột/bụi hoặc sử dụng để chưng cất dầu. Sự chưng cất giữa bột trầm hương và vảy phần lớn là vấn đề về kích cỡ.

Vảy bao gồm việc cạo hoặc mảnh đã vỡ trong quá trình thu hoạch và vận chuyển, cũng như những mảnh nhỏ tạo ra một cách thận trọng. Bột trầm hương tường là bột mịn có kích cỡ hạt đều đặn và phải không bị nhầm lẫn với bột thải rẻ tiền nhiều hơn, là sản phẩm phụ của việc chưng cất dầu (xem dưới).

Bột rất dễ nhiễm pha trộn, và thường được trộn chung với bột từ gỗ Aquilaria khoẻ. Không ngạc nhiên, bột trầm hương thường là ít tốn kém so với lát mỏng hoặc vảy, với giá thay đổi từ khoảng USD20-60/kg.

Dầu trầm hương có một giá trị cao và thường mua bán sản phẩm. Dầu được tạo ra bắng hiện tượng chưng cất hơi nước thuường là của những lát mỏng và bột trầm hương cấp hạng tấp. Mặc dù việc chưng cất  là một phương pháp chi phí-hiệu quả của việc sử dụng sản phẩm trầm hương thứ cấp, năng suất dầu thường là rất thấp và quá trình chiết xuất được báo cáo rất tỉ mỉ và tốn nhiều thời gian. Những thành phần cấu thành chính của dầu trầm hương là sesquiterpenes (Jantan 1990), cấu trúc hoá học làm cho chúng rất khó thực hiện, và vì thế tốn kếm rất nhiều, để tổng hợp (D. Erhardt, Senior Chemist, TRP Agarwood Project, thư riêng với Heuveling van Beek, trình bày trong báo cáo của Heuveling van Beek và Philips, 1999). Mặc dù những hợp chất trầm hương tổng hợp được sử dụng để tạo ra hương liệu chất lượng tồi và thẻ nhang, hiện nay không có chất thay thế tổng hợp nhanh hoặc dầu cấp cao số 5, hoặc dầu. Đầu trầm hương tổng hợp bán ít hơn USD100/kg (Heuveling van Beek và Philips 1999).

Phân loại trầm hương trong mua bán

Trầm hương không phải là một sản phẩm đồng nhất, nhưng thay vì có những tính trạng khác nhau. Trầm hương được phân loại theo những hệ thống phân loại khác nhau thay đổi theo sản phẩm trong mua bán và nước trong đó việc mua bán xảy ra. Cấp hạng (và vì thế giá trị) của trầm hương và chất dẫn xuất từ trầm hương như là dầu được xác định bởi nhiều nhân tố phức tạp gồm có nước xuất xứ, lực và tuổi thọ của hương liệu, tỷ trọng gỗ, độ thuần khiết sản phẩm, hàm lượng nhựa, màu và kích thước của hình thức được mua bán. Loại và số cấp hạng trầm hương đã dùng trong một cấp hạng trầm hương đã biết có thể thay đổi rộng rãi. Một nhà buôn bán lớn ở Singapore, ví dụ, thường cho vảy hoặc lát mỏng từ năm hoặc sáu nước, trầm hương từ mỗi nước chia thành ba đến năm cấp hạng (Heuveling van Beek và Philips, 1999). Những thành phần cấu thành hoá học của những cấp hạng khác nhau đã được khảo nghiệm (Ishihara et al. 1991, trình bày trong báo cáo của Ng et al. 1997). Yoneda et al (1984, trình bày trong báo cáo của Ng et al. 1997)  gợi ý là đặc tính sấy khô và phân loại sản phẩm hàng hoá đã đăng ký A hoá học của trầm hương tay đổi theo lát mỏng trầm hương loài ở Jakarta, Indonexia. Có hay không điều này là một tình huống, căn bản là nước xuất xứ và chất lượng của gỗ, và không cần loài từ đó trầm hương phát sinh, điều này có tầm quan trọng lớn nhất đối với người tiêu dùng và vì thế người mua bán. Một người buôn bán trầm hương trên nền Dubai được phỏng vấn ở Mumbai khảo sát là chất lượng tốt nhất của trầm hương nhận được (giả định là cung cấp hiện có) từ những nước trang trại sau theo thứ tự giá trị giảm: Butan, Ấn Độ, Myanmar, CHND Lào, Kampuchea, Việt Nam và Indonexia. Một thứ tự tương tự tuỳ chọn được cho bởi Công Ty Mua Bán Trầm Hương lớn nhất ở Ấn độ về mặt trầm hương gửi đến thị trường Trung Đông, mặc dù công ty báo cáo trầm hương  từ Assam sẽ được tìm kiếm nhiều nhất theo (Heuveling van Beek và Philips, 1999). Ng et al. (1997) báo cáo là trầm hương chất lượng cao là trầm hương nhận từ Aquilaria baillonii (Cambodia), A. crassna (Thailand), A. grandiflora (Hainan, China) và A. agallocha, mà họ coi như sẽ là một thể biến đổi của A. malaccensis tìm thấy ở Bangladesh, Bhutan, Myanmar, và, ở Ấn Độ, ở Assam và những quận huyên biên giới đông bắc. Người tiêu dùng và người mua bán ở Đài Loan tin là những chất lượng cao nhất của trầm hương phát sinh từ Sumatra, Borneo và từ vài hòn đảo khác ở quần đảo Mã Lai (TRAFFIC East Asia-Taipei trong tltk TRAFFIC International, 2, tháng 5, 2000). Heuveling van Beek và Philips (1999) đã khảo sát là những người tiêu dùng ở những nước khác nhau có những ưu tiên khác nhau để đánh giá chất lượng của trầm hương, liên quan đến việc sử dụng có ý đồ nó. Những khách hàng từ Trung Đông xem hương liệu sẽ là chất lượng quan trọng nhất và ở Ấn Độ một số lượng có ý nghĩa dầu trầm hương được dùng trong công nghệ dầu thơm, vì thế chất lượng mùi thơm quan trọng hàng dầu.Người tiêu dùng từ Đài Loan mua số lượng quan trọng trầm hương cho mục đích y học và trong những trường hợp trên không phải là hương liệu của trầm hương mà là số lượng và thành phần vật liệu nhựa trong gỗ có tầm quan trọng lớn nhất (Heuveling van Beek and Phillips, 1999).

Trong nước Đài Loan, số lượng trầm hương được đánh giá có hoặc không chìm trong nước. Từ Trung Quốc dùng cho trầm hương (Ch'en Hsiang/ChenXiang/Chen Xiang) nghĩa theo văn học "gỗ chìm".

Những mảnh trầm hương chìm được giả định sẽ có một hàm lượng nhựa cao, (và vì thế cấp hạng cao) so với những mảnh nổi. "Năng suất" của trầm hương trong nước được trình bày với người tiêu dùng như là phản ánh chất lượng của nó, mặc dù khảo nghiệm tình trạng chìm ít khi được chứng minh cho người khách hàng. Những mảnh "nổi" phổ biến ở Đài Loan nhiều hơn so với những mảnh "chìm" vì chúng không đắt tiền. Đốt một mẫu nhỏ trầm hương là phương pháp phổ biến nhất trong việc xác định thêm                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                              cấp hạng của những mảnh "chìm" hoặc "nổi", vì nhựa có thể thấy tiết ra một hình thức giống như bọt khi gỗ bị đốt cháy. Điều này còn cho người tiêu dùng cơ hội để đánh giá hương liệu trước khi mua (TRAFFIC East Asia-Taipei, trong tltk TRAFFIC International 2-5-2000). Cấp hạng cao nhất được biết như là Chi-Nan và không tfể sử dụng bằng mắt, tin sẽ là một kết quả thu hoạch quá mức. Trong những tình huống rất hiếm khi bán, được báo cáo là thanh toán trên USD11500/kg. Chất lượng tốt hạng 2 (Hui-An) phát sinh từ Việt Nam. Điều này được báo là nhiều người thu gom trầm hương chôn trầm hương không trưởng thành trong đất trong vài tháng để kích sự phân huỷ. Điều này làm cho nó đồng nhất vảy đen, và sản phẩm kết quả có thể bán như trầm hương cấp hạng thấp (Heuveling van Beek và Philips, 1999).

Theo Heuveling van Beek và Philips (1999), dầu trầm hương được chia cấp hạng trên cơ sở chất lượng vật liệu thô, phương pháp chưng cất và kỹ năng dùng trong quá trình chế biến. Điều nói sẽ là không thể sử dụng bằng mắt để tìm ra dầu trầm hương thuần khiết (mặc dù mẫu thuần khiết theo giả định nhân bởi TRP từ một nhóm thương mại trầm hương quốc tế lớn ở Dubai.) Những người mua bán đã trình bày giá cả cho dầu trầm hương thuần khiết cao bằng USD30000/kg, chất dầu trên chỉ được thực hiện theo đơn đặt hàng. Dầu loại 2 giá ước chừng USD15000/kg, nhưng thường giá dầu ở giữa USD5000/kg và USD100000/kg. Tuy nhiên, dầu rẻ tiền, dễ pha trộn với có thể một hỗn hợp của sandalwood (gố đàn hương) và dầu hạt mè, có thể được mua với giá vài trăm đô la mỗi kilô. Hiện nay vài người mua bán, nếu có, có thể đánh giá chất lượng và độ thuần khiết của dầu và không rõ là  độ thuần nhất giữa các kho dự trữ dầu. Chỉ một công ty mua bán trầm hương lớn hình như là có thể khảo nghiệm độ thuần của dầu bằng cách sử dụng phép ghi sắc ga (gas chromatography) và phép ghi sắc nước năng suất cao.

Công dụng của trầm hương

Trầm hương có ba công dụng chủ yếu: y học, hương liệu và hương nhang. Nhứng số lượng nhỏ được dùng cho những mục đích khác, như là điêu khắc. Những công dụng này được trình bày chi tiết nhiều hơn dưới đây.

Công dụng trong y học

Trầm hương đã được dùng cho mục đích y học hàng ngàn năm, và tiếp tục sẽ được sử dụng trong y học truyền thống ở Ayuvedic, Tây Tạng và Đông Á, ví dụ (Chakrabarty et al. 1994; Fratkin 1994). Sahih Muslim, ghi ngày tháng lui lại khoảng thế kỷ thứ 8, liên quan đến công dụng của trầm hương trong việc điều trị bệnh viêm màng phổi (pleurisy) và công dụng của nó được tham khảo trong sách y học Ayuvedic Susruta Samhita. Trầm hương được kê đơn thuốc trong y học Đông Á truyền thống để kích dòng chảy của qi, làm giảm đau nhức, chặn đứng nôn mửa bằng cách làm ấm dạ dầy, và làm giảm bệnh hen suyễn (Khuyết danh, 1995a). Bột trầm hương cấp hạng cao được kê toa thuốc trong y hoc Trung Quốc (Yaacob, 1999) và cũng được sử dụng trong việc sản xuất chất nhuộm trong dược học (Heuveling van Beek và Philips, 1999). Burkill (1966) báo cáo là người Mã Lai đã dùng trầm hương trộn chung với dầu dừa như một loại dầu xoa, và cũng trong pha chế đun sôi để điều trị bệnh thấp khớp và dau nhức cơ thể khác. Chakrabarty et al. (1994) đã báo cáo là gỗ không nhiễm bị loại thường được dùng như Kayugahuru lemppong bởi người Mã Lai để điều trị bệnh vàng da và những bệnh đau nhức cơ thể khác. Bull (1930) trình bày trong báo cáo của Chakrabarty et al. 1994) ghi chép công dụng của trầm hương như là một loại thuốc mỡ (ointment) dung cho bệnh đậu mùa (smallpox) và những bệnh đau bụng khác.

Trầm hương cũng được kê toa thuốc cho bệnh phù thũng (dropsy) như là một loại thuốc làm đánh rắm (carminative), thuốc kích thích cho nhịp đập của tim, và như là một loại thuốc bổ dùng đặc biệt trong thời kỳ thai nghén, sau khi sinh nở và với những loại bệnh cơ quan sinh dục nữ (Chakrabarty et al. 1994).

 

Công dụng trong chế tạo hương liệu

Công dụng của trầm hương trong công nghệ hương liệu lui lại hàng ngàn năm, và được tham khảo, ví dụ, trong Cựu ước (the Old Testament) vài lần bằng cách sử dụng danh xưng "aloes" (cây lô hội). Khói và dầu trầm hương thường dùng như hương liệu ở Trung Đông (Chakrabarty et al. 1994). Ở Ấn Độ, nhiều cấp hạng khác nhau của trầm hương được chưng cất riêng biệt trước khi pha trộn để tạo ra một "attar" (tinh dầu hoa hồng) cuối dầu Minyak attaris một loại hương liệu trong nền nước có dầu trầm hương, được dùng theo truyền thống bởi những người Hồi (Muslims) để làm dải buộc quần áo tụng kinh (Yaacob, 1999). Những loại hương liệu trầm hương ít khi là dầu trầm hương thuần khiết, nhưng thay vì sử dụng một thể mang (carrier) cồn hoặc phi-cồn, như là dầu "sandaloil" (gỗ đàn hương). Hương liệu trầm hương rẻ tiền nhất là tổng hợp hoặc pha trộn nhiều loại dầu với nhau, mỗi loại có chất lượng và mùi thơm khác nhau.  Mặc dầu có vài phức hương liệu trầm hương tổng hợp thương phẩm, chúng có thể tạo ra chỉ những loại hương liệu chất lượng thấp, do cấu trúc hoá học của dầu tự nhiên (Heuveling van Beek và Philips, 1999). Tinh chất trầm hương hiện được dùng như một loại hương liệu trong xà bông và dầu gội dầu (Kadir et al. 1997; trình bày trong báo cáo Schippmann, 1999). Trầm hương nghe nói có giá cao bởi những người mua bán dầu thơm ở giữa những năm 1990 (trình bày trong báo cáo của Chakrabarty et al. 1994).

Công dụng trong sản xuất nhang

Nhang trầm hương được đốt cháy để tạo ra một mùi thơm dễ chịu, công dụng của nó thay đổi từ một hương liệu tổng hợp đến một yếu tố lễ hội tôn giáo quan trọng. Thân không đều của cây trầm hương, thường là vài centimet dài và trọng lượng 10-200 g, có thể cắt hoặc bẻ ra thành những mảnh nhỏ và sau đó đốt, thường là trong một công cụ đốt nhang chế tạo đặc biệt (Heuveling van Beek và Philips, 1999). Bột và bụi trầm hương không thể đốt trực tiếp trên những cây giữ nhang nhưng có thể sử dụng để tạo ra nhang cây hoặc nhang cuộn để cho thơm trong nhà, và còn được dùng cho mục đích tôn giáo bởi người Hồi, Phật giáo và Ấn Độ giáo (Yaacob, 1999).

Người tiêu dùng Đài Loan mua trầm hương để tạo ra nhang thẻ bày bán ở Đài loan., 1998. Nhang cây được dùng trong những buỗi lễ tụng kinh trong nhiều nghi lễ truyền thống và hội diễn để mang lại bình yên và may mắn (TRAFFIC East Asia-Taipei, trong tltk với TRAFFIC International, 2-5-2000). Người Ấn Độ và người Trung Quốc đã dùng trầm hương như một thành phần cấu thành chính của nhang thẻ trong quá khứ, nhưng hiện nay nhang thẻ thường không có trầm hương, mặc dù những người buôn bán Ấn Độ báo cáo là nhang thẻ Ấn Độ có chất lượng dành để xuất khẩu có thể có một giọt dầu trầm hương thêm vào chúng (Chakrabarty et al. 1994). Agarbatti là nhang hình nón, lúc đầu cũng có bột trầm hương nhưng ngày nay rất hiếm làm như vậy vì giá trầm hương cao. Thay vì, vật liệu thải hình thức bột kem/nâu sáng  nhận từ việc chưng cất dầu (có ít hoặc không hàm lượng nhựa) được dùng để tạo ra một thể mang cơ bản cho thành tố thơm, rẻ tiền khác. Bột trầm hương thải này bán ước chừng USD5/kg.

Sản phẩm nhang của Nhật Bản rất là khác nhau, với phần lớn sản phẩm cấp hạng cao tạo ra bằng cách sử dụng nguyên vật liệu tự nhiên bao gồm chất trích tràm hương nghiền kết hợp với thành tố khác như là gỗ đàn hương và benzoin và sau đó cẩn thận đúc khuôn và đóng bánh. Trầm hương thuần khiết cũng được đốt cháy như nhang ở Nhật bản. Người sử dụng bẻ ra thành mảnh và đốt những mảnh nhỏ nếu cần, vì thế những mảnh gỗ lớn sẽ kéo dài trong nhiều năm (Heuveling van Beek và Philips 1999). Ở Nhật Bản, sự tái sinh trong nền nghệ thuật cổ đại của Kodok, lế dâng hương, đã làm sống lại mối bận tâm về trầm hương (Katz, 1996).  Malayxia, người Hồi giáo đốt những mảnh vụn trầm hương hoặc lát mỏng để tạo ra nhang trong những buổi lễ tôn giáo đặc biệt, nhất là ở buổi lễ gặt, và nhang trầm hương đã được ghi chép đang sử dụng ở đây trong những ngày tụng kinh Ramadan (Chakrabarty et al. 1994). Vài bộ lạc Malaixia hun khói đồng ruộng lúa với khói trầm hương để an ủi thần thánh địa phương (Chakrabarty et al. 1994).

Nhang trầm hương được dùng cho nhiều mục đích khác nhau ở Trung Đông, đặc biệt trong những buổi lế cầu nguyện (Yaacob, 1999). Những lát mỏng trầm hương và mảnh vụn cũng được đốt trong phòng tắm và nhang được dùng như một hương liệu thông dụng. Những gia chủ buổi lễ hội đặt những lát mỏng trầm hương trên than nóng, mùi thơm có ý nghiã vào cuối buổi lễ hội.

Cái gạt tàn nhang trầm hương với một Other dùng những mảnh gỗ Aquilaria đi cùng. Burkill (1966) đã báo cáo là trầm hương vỉ lò (grated Aquilaria) đã được dùng ở Malaixia cho mục đích mỹ phẩm, đặc biệt là trong khi bệnh và sau khi sanh. Việc sử dụng vỏ trầm hương như một vật liệu viết cũng đã được sưu tầm rộng và trầm hương được dùng cho sử biên niên (chronicles) của những sách quan trọng và tôn giáo thiêng liêng. Công dụng như một chất thay thế giấy cũng được biết từ những người miền núi Trung Bộ (Việt Nam) và từ Trung Quốc (Chakrabarty et al. 1994). Cuộn được báo cáo chế tạo từ Aquilaria ở Malacca (một tỉnh của Malaixia) (Chakrabarty et al. 1994).

Mặc dù có thể sử dụng cho sức khoẻ gỗ trầm hương tạo ra những hộp hoa kiểng giản đơn, loại gỗ này điển hình là quá sáng và có sợi (giống như loai gỗ balsa (loại gỗ nhẹ).thích hợp cho việc đóng bàn ghế, xây dựng hoặc cả điêu khắc. Vài nhà kiểm lâm ở Ấn Độ đã gợi ý dùng loai gỗ Aquilaria để chế tạo những hộp chè (Chakrabarty et al 1994). Vỏ Aquilaria được báo cáo dùng cho mục đích này trong thế kỷ 19 (Heuveling van Beek và Philips, 1999). Có một số lượng rất lớn cửa hàng thủ công nghệ bán những sản phẩm điêu khắc "trầm hương" tôn giáo, tường là những tượng Phật. Mặc dù một tỷ lệ trầm hương chưa trưởng thành được dung trong việc mua bán này, phần lớn những bức tượng không được tạo ra với gỗ trầm hương, do đặc tính mềm và có vảy, làm cho nó không thích hợp cho việc điêu khắc. Thay vì, gỗ cứng nhiệt đới được xử lý sao cho giống gỗ trầm hương. Gỗ được mun hoá bằng cách tiêm dầu hoặc nhựa đường vào trong thân cây và có thể cũng là nhúng với hương liệu trầm hương (Heuveling van Beek và Philips 1999). Trầm hương được dùng để tạo ra tượng và đồ vật tôn giáo (ví dụ tượng Phât) ở Đài Loan (TRAFFIC  East Asia-Taipei, trong tltk TRAFFIC International, Tháng 8. 1999).

Với những đồ vật điêu khắc, phần lớn chuỗi tràng hạt trầm hương và hột tràng hạt mang bán là hàng giả mạo (fake), do chi phí xac định hình dạng và khoan hoàn toàn những hột tròn của trầm hương chính thống. Thay vì, những loại gỗ tối khác có thể ngâm trong dầu trầm hương trong vài tuần lễ cho đến khi mùi thơm của trầm hương đã được hấp thụ và những thứ này sau đó dùng thay cho trầm hương. Những vòng cổ bằng hạt trầm hương giá ước chừng USD1500/kg (Heuveling van Beek và Philips, 1999).

Trầm hương được dùng như là một thành tố thơm của Chu-yeh Chiang và Vo Ka Pywine ở Đài Loan (TRAFFIC East Asia-Taipei trong tltk TRAFFIC International, tháng 5, 1999). Bột trầm hương được biết phun tia trên quần áo và da như một chất xua đuổi côn trùng hiêu quả chống lại bọ xít và chấy rận (Heuveling van Beek và Philips 1999). Sahih Muslims liên quan đến việc sử dụng trầm hương cho mục đích xông khói.

Trầm hương có thể cũng được thêm vào giàn thiêu thi thể (Chakrabarty et al. 1994) và được dùng liệm thi thể để chôn (Yaacob, 1999). Ở Malaixia, trầm hương được dùng như rảy rượu cúng (libation) trên những thành ngôi mộ. (Chakrabarty et al. 1994).cho biết trầm hương đã được cung cấp vào Trung Quốc từ Borneo, Sumatra, Java, bán đảo Mã Lai và Kampuchea (chakrabarty et al 1994). Mô hình tương mại trầm hương mới được tóm tắt dưới đây. Việc mua bán quốc tế trong số liệu báo cáo năm của CITES về Aquilaria malaccensis được tóm tắt trong Bảng 1. Đến nay, báo cáo năm của CITES về việc mua bán A. malaccensis không nhất quán và, tong tình huống nhiều nước tiêu dùng, không hiện có. Độ chính xác của số liệu báo cáo năm của CITES về việc mua bán A. malaccensis được thoả hiệp không chỉ bởi báo cáo lỏng lẻo, mà còn bởi sự khó khăn trong việc nhận dạng trầm hương ở cấp loài. Nhiều hơn một loài chuyên sản xuất trầm hương của giống Aquilaria xuất hiện và được thu hoạch trong những nước trang trại A. malaccensis chủ yếu. Việc nhận dạng trầm hương ở cấp loài vượt quá khả năng của phần lớn cán bộ thi hành luật: những tính trạng phân biêt của trầm hương trong mua bán không liên quan đến loài, nhưng liên quan đúng hơn đến số lượng và loại của hàm lượng nhựa. Như là một kết quả, trầm hương được khai báo như A. malaccensis có thể bao gồm những loài Aquilaria khác, và trầm hương không khai báo như trên có thể không có vật liệu từ loài. Chính phủ Indonexia đã đáp ứng lại tình huống này bằng cách đổi hỏi giấy phép xuất khẩu của CITES đối với hầu hết ca xuất khẩu trầm hương, với kết quả là những trường hợp xuất khẩu có báo cáo của A. malaccensis từ Indonexia có thể gồm có không nhữngl oài này, mà còn trầm hương từ những loài Aquilaria khác. Hình như có thể là vài trường hợp xuất khẩu từ Malaixia có giấy phép CITES cũng bao gồm những loài khác hơn là A. malaccensis.

Một cách đan xen, điều có thể cũng là A. malaccensis, được khai báo như một loài khác, đang được xuất khẩu mà không đi kèm giấy phép CITES. Như đã giải trình trong những phương pháp, vì thế số liệu tiếp theo là được xem như những chỉ dấu tổng hợp của việc mua bán trầm hương, và đặc biệt là ở A. malaccemsis, nhiều hơn là như phản ảnh chính xác về khối lượng thương phẩm.

Trong số 14 nước trang trại đã biết hoặc có thể thực hiện việc trồng Aquilaria malaccensis, tất cả nhưng hai nước- Butan và CHND Lào- là những bên CITES. Trong số 12 nước trang trại thành phần, bốn nước- Indonexia, Malaixia, Singapore và Thái Lan- đã ghi chép xuất khẩu/xuất khẩu lại A. malaccensis trong những báo cáo năm CITES của họ. Số liệu trong báo cáo năm của CITES trong thời gian này đối với Malaixia và Thái Lan có thể phản ảnh dưới mức khối lượng xuất khẩu tổng cộng của loài từ hai nước này. Trong trường hợp Malaixia, báo cáo năm của CITES chỉ được đệ trình bởi Bán đảo Malaixia vào lúc viết báo cáo. Số liệu xuất khẩu Sarawak, được biết xuất khẩu số lượng có ý nghĩa trầm hương, và với Sabah, vì thế không thể sử dụng. Sarawak được tin đã đệ trình những báo cáo năm trong thời gian từ 1995 đến 1997 lên Ban Thư ký CITES tháng 3, 2000. Số liệu này không thể sử dụng cho báo cáo này với hiệu quả là thương mại đã báo cáo CITES của Sarawak không trình bày dưới đây. Số liệu báo cáo năm của CITES cho biết xuất khẩu ít hơn một tấn A. malaccensis từ Thái Lan thời gian từ 1995-1997, ngược lại trên 177 t trầm hương nhập khẩu từ Thái Lan đã ghi chép trong số liệu thống kê của Hải Quan Đài Loan trong cùng thời gian. Mặc dù những số liệu hải quan này không mô tả đặc tính loài, hình như có thể là ít nhất vài loài trong mua bán liên quan đến A. malaccensis.

Trong số 15 bên với họ Aquilaria malaccensis được xuất khẩu giữa 1995 và 1997, theo số liệu báo cáo năm của CITES, chỉ năm nước đã ghi chép nhập khẩu A. malaccensis. Những bên này là Canada, Ấn độ, Hong Kong, Nhật Bản và Singapore (Xem Bảng 1). Những bên này đã báo cáo như nơi nhận xuất khẩu nhưng nước không báo cáo nhập khẩu tương ứng là Bangladesh, Trung Quốc, Ai Cập, Nam Dương, CH Triều Tiên, Ma Rốc, Saudi Arabia, Tây Ban Nha, Thái Lan và những nước Tiểu Vương quốc Ả Rập (xem Bảng 1). Trong số, ba không cung cấp báo cáo năm CITES trong những năm trong đó xuất khẩu đã được báo cáo (Bangladesh, Ai Cập và Saudi Arabia). Bốn nước không thành phần (Bhutan, Kuwait, Oman và Qatar) được ghi chép như nước nhận xuất khẩu, như Đài Loan.

Số liệu trong báo cáo năm của CITES cho biết việc mua bán thuần tổng số trầm hương dưới hình  thức thô hoặc nửa chế biến (ví dụ gỗ, lát mỏng và bột) của trên 1350 t từ 1995 đến 1997. Việc mua bán này chỉ là một phần mua bán quốc tế tổng cộng trầm hương, như đã chứng minh bởi số liệu nhập khẩu Hải Quan từ Đài Loan, cho biết nhập khẩu  tổng công ước chừng 2050 t trầm hương trong cùng thời gian. Thông tin không đủ để nhận dạng số phần trăm nhập khẩu có thể đã có liên quan đến Aquilaria malaccensis.

Tất cả việc mua bán do CITES báo cáo đang có mục đích thương mại và được ghi chép về mặt trọng lượng.

Số phần trăm trọng lượng của tống số lượng trầm hương mua bán (từ 1995 đến 1997) với những hình thức khác nhau là: lát mỏng, 95,95%; gỗ 2,99%; bột 1,04% và dầu 0,02%. Trên 90% Aquilaria malaccensis báo cáo trong mua bán có xuất xứ hoang dã. Không có ghi chép nào nhân giống nhân tạo A. malaccensis trong mua bán. Xuất xứ xuất khẩu lại, dự trữ trước Qui Định A. malaccensis cho 15 nước bởi Hong Kong và Singapore thường không được báo cáo.

 

Tiếng Việt: Chu Hữu Tín (19-05-2005)

 

Trở về Trang Chính