|
Rosalind Sharpe
Wall, một cư dân trên bán đảo lâu dài, vừa bị lục soát thông qua
vài hiệu quả của người cha quá cố, khi bà đi đến một sự biến cố
ngạc nhiên nhất, Lẽ dĩ nhiên, biến cố là sự phát hiện của người
cha về loài rái cá biển “tuyệt chủng”. Howard Granville Sharpe,
một tác giả đã xuất bản từ cuối những năm 20, đã viết tài liệu
cá nhân đầu tiên năm 1939.
“Làm cách nào ông
đã phát hiện ra đàn rái cá biển?”. Nhiều câu hỏi như trên đặt ra
cho tôi. Khi phát hiện, 19-03-1938, tôi sở hữu một trang trại
nhỏ trên bờ biển gồ ghề 13 dặm phía Nam Carmel.
Tại cổng trước, ở
cạnh đá dựng, có một kính viễn vọng mạnh quan sát biển và ven
bờ. Từ một cao độ 300 bộ anh (ft) nó quét Discovery Cope và
Sharpe’s Point. Nhô ra biển, doi đất này tạo ra một vịnh nhỏ.
Trong một ngày bận
việc, tôi không có thời gian nhìn phạm vi có hệ thống, nhưng có
thể gục ngã nếu chỉ kiểm tra vài tàu qua lại, và một hòn đá tảng
nằm ra ngoài “Lady Kay”. Một buổi sáng lịch sử này, không có
công việc chỉ định, nhưng tôi tự hỏi Lady Kay có thể đang khóc.
Nếu dòng suối nhỏ nước mặn chay qua đôi má của bà, một cơn sóng
hung bạo vỗ vào mặt bà ta.
Tôi quét những thảm
tảo bẹ nằm gần bờ. Di chuyển nhẹ hình như không phù hợp với mức
lêm xuống bình thường. Tôi không có linh cảm là tôi đang đến gần
một sự phát hiện được trù định trước để thu hút nhiều khách đến
tham quan từ những miền xa nhất trên Trái Đất. Chắc là tôi không
thể biết là tôi có thể tìm ra hàng triệu đô la mát trên da thú,
hoặc là người đầu tiên nhìn cảnh quan không thấy bởi những cá
chết trong một thế kỷ.
Với “những sinh vật
ven bờ” sống trong hẻm núi gồ ghề, những sinh vật cưỡi trên chỗ
phình ra trong thuỷ triều lớn không phải là tảo bẹ. Hiện nay
sinh vật nổi có thể thấy, sinh vật quá đồng nhất về kich thước
với "flotsam" thường.Di chuyển rõ là không lệ thuộc vào thuỷ
triều. Vậy chúng có sống hay không? Những đầu lớn hơn hải cẩu
đầu bóng tảo, cơ thể bóng hình như mang da thú. Những tính đồng
nhất kết thúc ở đây. Là sinh vật gì có những chân chèo
(flippers) có hình thức bất thường hình như phát triển từ lưng
của chúng? Một sinh vật luồn lách và lật ngược, sau đó tôi hiểu
là tất cả phần còn lại bị qui đổi, lười biếng trên lưng trên
những đốm tảo bẹ vàng nâu. Khoảng cách từ một bãi biển cát ở cửa
sông Bixby Creek gần bằng 1120 thước anh.
Có thể chúng là
những con hải mã? Có thể vài loài sinh vật bất thường, bị khùng
lên do mùa đông khắc nghiệt, tưởng lầm Cali là Alaska? Không
răng nanh? Sau đó có thể một “nửa nắm tay, nửa ngựa, nửa cá sấu”
Davy Crocketted có đến từ biển không sử dụng. Những sinh vất này
không chối cãi những động vật mang da thú…
Một kích động lạ kỳ
phát sinh ở trong tôi. Ô chữ: sinh vật nước mặn nằm nhiều trên
lưng của chúng, chân sau dính thẳng, chân trước xếp lại trên
ngực hoặc mõm là gì? Vài loại rái cá?
Tôi nhớ lại một lần
bản thân gặp với một con rái cá đất liền ở Viễn Đông từ lâu rồi.
Điều này là tiếng rao hàng xa ở đoạn có hơi nước trong một hồ
nhiệt đới ở Mindanao Philippin trên ban-công ở Rainbow
Headlands. Nhưng tôi đã quyết định để biết, hơi mơ mộng làm cách
nào có thể biết và có thể làm cho tôi mục tiêu của làn đạn trong
vài ngày. Vâng, thật vậy. Thế giới có thể không bao giờ đã nghe
về phát hiện của tôi nhưng trong ký ức tôi đó là đoạn rái cá đất
liền.
Ý tưởng về đàn động
vật lớn mang da thú này, những rái cá biển thật không làm, không
thể xuất hiện trong tôi, vì vô số phát triển trên tảo bẹ dọc
theo bờ biển tất cả đều chết. Điều ấy nhất là một bản án khoa
học. Nói cách khác, “Rái cá biển miền Nam” trình bày như “Latex”
hoặc Enhydra Lutris Nereis Merriam,” được xác định bị quét sạch
trong tài liệu khoa học, để làm đầy tổ trong lịch sử tự nhiên
với một nhóm quái đản chết như chim cưu. Có thể thuộc về thời
tiền sử, đến từ độ sâu đại dương.
Nếu tôi mệt mỏi vì
nhìn cảnh quan, những trẻ nhỏ như cục nam châm kéo tôi trở lại.
Tôi hỏi một người giúp việc trẻ:
“Có thấy gì không?”
Hắn có thấy không?
Một câu hỏi kỳ lạ giữa những công việc hàng ngày. Nhưng tính
chất tốt của hắn đã tiếp nhận, hắn còn thấy nhiều hơn, không chỉ
xác minh “đuôi gai và bốn chân thật thay vì những chân chèo,”
những hắn thấy là chân có mạng cục bộ, năm móng cho mỗi chân,
mặt giống như “chuột xạ”. Lại, một nhóm nằm ngoài mà tôi lầm là
tảo bẹ, là đời sống động vật thay vì. Điều này mang lại bản tính
toán của tôi nhiều hơn 300 sinh vật đáng ngạc nhiên. Sau này,
khi những thành phần gia đình tôi đến, tôi chỉ cho họ xem phát
hiện của tôi.
Người kế tiếp thấy
cảnh đặc biệt là Mr Frank Miller có may mắn lái xe ra khỏi
Monterey. Báo chí đã có nói: “Một đân quê đã phát hiện rái cá
biển, nhưng Capt. Lippincott, của Fish & Game Commision, đã bất
ngờ đi qua, nói với ông ta là chúng…”
Hai ngày sau trong
một chuyến đi đến tỉnh lỵ chúng tôi đã báo cáo sự phát hiện cho
Hopkins Marine Station. Bất kỳ nơi nào chúng tôi gặp một thái độ
hoài nghi khá dễ hiểu ngay với tiếng leng keng vui tai.
Hải cẩu… Sư tử biển…
không gì khác nữa”
Như trên bốn viên
chức của Fish and Game Commission. Họ vẫn lạnh lùng với “sinh
vật tìm thấy” của chúng tôi. Lại ba tổng biên tập nhật báo phải
đã “thấy không xứng đáng trong sự hài lòng của chúng tôi.” vì
không một lời nói nào về đề tài mà, trong ba ngày, trở thành tin
quốc tế gây ngạc nhiên, (?!!) và trong những giới hạn của khoa
học tự nhiên “ “vật đào của thế kỷ.
Hai ngày sau chúng
tôi gọi lần 2 cho Fish & Game, cùng một kết quả.
“Chắc không thể sinh
vật gì khác ngoài hải cẩu và sư tử biển,” là một bản án được xem
xét. Cựu quân nhân Capt. Lippincott hỏi:
“Làm cách nào ông
biết chúng không phải là hải cẩu và sư tử biển?”
Thái độ này đập mạnh
vào lòng tự trọng của tôi nhiều hơn là thô bạo. Tôi trả lời:
Chúng trông không giống như hải cẩu cũng không giống như sư tử
biển” Vào lúc này tôi phải đã hiểu rằng những ý kiến của thường
dân khống đáng là bao. Tôi chạy qua Mr. (Frank) Miller người đã
nói với tôi là báo cáo của ông đã gặp chút nghi ngờ.
Lippincott suy nghĩ
về câu chuyện của tôi. Sáng hôm sau với ba cán bộ trẻ của ông
xuất hiện ở Rainbow Headlands ở trang trại của tôi. Họ nhìn kỹ
thông qua cảnh quan, có sự im lặng bất thường. Một viên chức
quét toàn vùng, nhìn kỹ một lần nữa. Lippincott trở lai, bàn tay
dụi mắt. Nhìn vào kính sinh vật chỉnh lại lỗ nhắm cho tiêu cự
gần. Dần toàn thân ông căng thẳng, tiếng nói trở nên lanh lảnh:
“Rái cá biển… RÁI CÁ
biển!”
Cuối cùng tôi hỏi:
“Ông có chắc không?” “Làm cách nào tôi có thể nhầm lẫn được? Có
thể là điều không nghi ngờ. Nhưng tất cả chúng đều đã chết …
tuyệt chủng từ lâu lắm rồi?” Lippincott mỉm cười một cách dứt
khoát. Trong những năm công tác, ông đã thấy những trường hợp
này thay đổi. Thật ra một chương mới trong lịch sử tự nhiên sẽ
được viết về “điều không thể thực hiện”. Một động vật tuyệt
chủng giả định sống không cảnh báo; một đàn lớn có hàng triệu đô
la mát trên những tấm da, lần đầu trong lịch sử. Một định luật
không thay đổi của thiên nhiên là “Khi tuyệt chủng, luôn tuyệt
chủng… “Trong số những loài đang chết dần, kỷ nguyên riêng biệt
của chúng ta, chim anca và chim cưu trước năm 1800. Bồ câu
Mississippi Valley, gà mái Martha ‘ s Vineyard không có vấn đề
độ chính xác của sự chẩn đoán. Nhưng tất cả loài này đều là
chim, nhưng trái lại bò rừng bizon, linh cẩu duyên hải phía Tây,
và cá voi tinh không hoàn toàn biến đi. Chỉ sinh vật bốn chân
huỷ bỏ toàn cầu từ những quyển sách trong thời đại của chúng ta
lầ rái cá biển. Yêu cầu của tôi về việc bảo vệ đàn cá để ngăn
cản việc bắn tỉa từ bờ biển. đường cao tốc, và tàu tuần tra ở
giới hạn hai dặm người săn trộm đến kip ngay. Chim hải âu lớn là
giàn phóng cảnh giác được chọn.
Nhân viên của
Hopkins Marine xuất hiện, nhìn, xin lỗi Dr Heath nói:
“Ông đã báo cáo
khủng long và thằn lằn cá chạy xuống hẻm núi bơi quanh, chúng
tôi không thể chết lịm đi một cách tuyệt đối”.
Từ khi nào rái cá
biển miền Nam đến? Không phải là chỉ từ Aleuts. Vài rái cá biển
vẫn còn tìm thấy ở đó thuộc về loài hiện có khác. Đàn rái cá
biển miền Nam đã biết nằm ngay trước cửa nhà tôi.
Đề nghị của tôi là
chúng đến hang Rainbow Headlands chỉ số ít có thể chấp nhận so
với một đàn rất lớn trên tảo bẹ, không phát hiện từ lâu rồi. Một
đường hầm phân cành thông qua một trăm bộ anh và đục Rainbow
Headlands từ miền Bắc đến vịnh nhỏ Discovery, cửa sông Bixby.
Một vấn đề còn lại
một điều kỳ diệu bắt đầu. Không phải là từ khi R. Chapman
Andrews tìm ra trứng khủng long ở Mông Cổ ở đó như là một phần
góp vào thế giới khoa học, hoặc một điều trái ngược lại sự phán
xét về tỷ lệ trên. Từ mọi nơi trên thế giới những tác giả đi
hành hương về gần Mecca này, Rainbow Headlands. Nhóm thời sự
chẳng bao lâu đến sau. Phát hiện này không xa Mông Cổ, mà ở ngay
Cali.
Câu hỏi thường đặt
ra: “Làm cách nào ông phát hiện rái cá biển? Tôi cười lớn và cho
là tôi nuôi dưỡng chúng trong lò ấp cá hồi ở hang của tôi, hoặc
nhập khẩu chúng từ Mars và đột nhiên mang chúng vào thế giới yêu
thương.
Nhiều tuần sau khi
phát hiện, một con cá voi sát thủ xuất hiện trong 80 bộ anh của
cửa sông Bixby Creek. Đàn rái cá lặn, rải rác. Vài 90 động vật
chiếm nhà ở trên lớp thảm tảo bẹ trực tiếp phía Bắc Rainbow
Headlands, nhưng quá gần bờ để có an toàn, đường cao tốc quốc
gia nằm vài 200 bộ anh phía trên. Mặc dầu sự cảnh giác của bảo
vệ, ghi chép về số lượng vỏ trống được tìm thấy ở đầu đá dựng.
Bốn ngày sau, con trai tôi William, một trẻ vị thành niên, bắt
được vài người đánh bắt trộm cá. Khi tôi đến gặp hắn chúng tôi
thấy một con rái cá biển đã chết, viên đạn trên cột sống, rửa
sạch ở bãi biển.
Chúng tôi trao cá
lại cho Fish & Game Commission, nhưng không trước khi bị bắn tỉa
từ bụi và chiếc xe trong đó người đánh bắt trộm cá trốn thoát.
Vào ngày 4 tháng 7
nhiều tiếng súng ca nông vang vọng từ vùng đá dựng nơi sinh vật
nhỏ bệnh nhăn mặt với sự sợ hãi sáng chói của Genus Home (giống
người) và tất cả những công trình và mờ đi khỏi tầm nhìn, vài
con xuất hiện trên tảo bẹ một dặm anh về phía Bắc những con khác
ở vùng vịnh Discovery. Trong khi chờ đợi một phần khác đầy kích
thích, hàng tá xuất hiện trên sóng vỗ tảo bẹ ngoài hẻm núi
Torre, 15 dặm anh về phía Nam. Dần số lượng của chúng giảm bớt.
Số ít trong đàn vẫn ở hẽm núi Torre. Năm 1958 cuộc kiểm tra được
báo cáo 600 rái cá biển rải rác trong một vùng rộng.
Làm cách nào một
người du khách biết sự khác biệt giữa rái cá biển và rái cá đất
liền? Rái cá đất liền vượt quá số lượng rái cá biển. Chúng sống
trên đất liền, săn trên sông và hồ. Rái cá biển, gấp hai lần về
kích thước, sống độc quyền trên và trong nước mặn. Hải cẩu chỉ
có chân chèo (flippers), rái cá biển bốn chân thật và liên quan
gần với chó hoặc gấu nhiều hơn so với hải cẩu và sư tử biển.
Thời gian thai nghén
của rái cá biển là chín tháng, không phải là ba tháng của rái cá
trên đất liền, hải cẩu, sư tử biển. Trường hợp sinh nhiều con
thì hiếm thấy.
Không giống như hải
mã và động vật đi biển khác, rái cá biển không có mùa sinh sản
xác lập. Con cháu đến trong khoảng 2-năm, qủa bóng da tinh khôn
mang trên tảo bẹ lắc lư theo sóng vỗ đại dương. Giữ ở nơi bụng
cá mẹ hàng tuần, sau đó dậy cho chúng biết bơi. Tôi đã được
hỏi:"Rái cá biển lười phản ứng như con người phải không? Nói cho
đúng là chúng có một triết lý Stevenson (Robert Louis), không
cãi nhau, không đấu kiếm, không đấu bò, không ghen tuông tính
dục.
Hiếm khi quấy rầy
trên tảo bẹ bởi cá mập hoặc cá voi sát thủ, rái cá biển sống
trong một Herman Mellville Utopia, con đực tất cả là cá độc thân
trích tự do, con cái không phải là cá đào vàng cũng không phải
là con gái lễ hội. Chúng có thể có một kỹ thuật của chính chúng,
kín dáo và bẽn lẽn, nữ hoàng của số phận rái cá biển tự thoả mãn
hoàn toàn.
Giao phối không theo
mùa cũng không cuối tuần, chỉ là trong một thoáng thời gian hình
như vậy, luôn với một phối ngẫu khác nhau. Trong một nhóm 80- ít
có khi nhiều hơn một nhóm- hai hoặc ba lớn nhất có đầu hoa râm.
Một tộc trưởng tất cả là trắng, một bạch tạng. Một con khác kiêu
hãnh mang một huy hiệu trên ngực "sư tử trắng chồm" và sườn.
Những con này ít di chuyển ra khỏi vịnh Discovery để săn đuổi
sau thảm tảo bẹ giả. Chức danh của chúng thích hợp là: Vua- Nữ
Hoàng, và con trắng thứ ba của Vịnh Discovery thừa kế cho Quận
công, Kronprinz
Thức ăn của rái cá
biển phần lớn là bào ngư, cua, nhím biển (sea-urchin)- động vật
có vỏ được xé ra khỏi thềm đại dương trực tiếp dưới "bãi đậu"
của chúng.. Sau bữa ăn đến giờ nghỉ trưa, nếu ngày nắng và ấm,
và sóng biển không quá mạnh. Chúng động thật quan trọng là bano
(tắm), dù có hoặc không quá trình khử rận (delousing), hoặc
chúng bị quấy rầy bởi bọ chét biển? Chúng lau chùi kỹ toàn thân.
Một chân mạnh và bằng chân thọc mạnh lên và xuống cột sống như
một bàn chải Fuller.
Khả năng của rái cá
biển sử dụng công cụ:
Một rái cá biển đói mang một miếng bào ngư và một hòn đá phẳng
từ đáy, đặt hòn đá trên ngực của nó và đập sò hến trên nó với
một tốc độ không ngờ. Điều này tạo ra tiếng "click" thỉnh thoảng
có thể nghe. Một cung nhỏ đang bị gãy khỏi vỏ, thịt được hút ra
và ăn.
Vỏ bị loại thường
đươc một con chim mòng biển chụp, với tiếng click đầu, bắn ra
theo đường thẳng đến quang cảnh của bữa tiệc lớn. Chim mòng biển
chủ quan đậu trên tảo bẹ lân cận, nổ tung và rơi xuống nơi mong
đợi. Quy luật của Discovery Cove: chỉ một con mòng biển đối một
con rái cá.
Trong những chiến
dịch quân sự tài liệu về tay đồ tể bán sỉ, người được trả lương
bởi người Nga cho đến năm 1831 thay đổi bản đồ Bắc Mỹ, xác định
lộ trình của vương quốc tây tiến . Để bao gồm nó trong "World's
Decisive Battles" (Những trận đánh quyết định trên thế giới)
không thể thực hiện, vì nạn nhân không phải là con người mà là
động vật câm.
Những người Nga và
Tây Ban Nha giàu có cũng như người Trung Quốc có thể mang không
gì khác hơn là da thú. Đoạn trích dẫn cho biết câu truyện nguồn
cung cấp giảm. Những tên cướp biển nhìn với những đôi mắt thèm
muốn vào "cái vợt riêng của người Nga" và bắt đầu bắt chước Fort
Ross của nước Nga. Da thú ít thích hợp ở Cali trở thành phần
thưởng trong trò chơi vô vọng.
Một đàn rái cá biển,
nói sẽ là lần cuối, tị nạn trên những thảm tảo bẹ của bán đảo
Monterey và bị cấm chắc là trước năm 1831, theo Capt J. B. R.
Cooper. Những tiêu bản đến muộn được báo cáo năm 1908, 1916, vài
dặm xuống miền ven biển từ Carmel, gần cửa sông Bixby Creek.
Nhưng chúng có phải là hải cẩu không (?!).
Một tài liệu khoa
học Luân Đôn (1938) nói: "đáng tiếc là không có hình ảnh chính
thức của một đàn rái cá biển được chụp. Latax Lutris Nereis đã
chết như một đàn từ năm 1831…" Dựa vào lời tiên tri khôn ngoan
này đã đến phát hiện của tôi ngày 19-03-1938. Khi những túi là
hợp pháp, giá mới nhất là $3.500.
Trong cuốn sách của
tôi điều kỳ diệu ngạc nhiên nhất là: Ở đâu những con rái cá biển
sống trong 107 năm? Trong hang Rainbow Headlands? Không. Những
hang này đầy nước trong nửa thời gian. Rái cá biển cần không
khí. Chúng có trú đông không? Điều này và nhiều điều khác vẫn
còn là điều kỳ diệu bắt đầu. Chúng có được giải quyết hoặc
không?
Ngày 01-07-2005
Chu Hữu Tín
The Discovery of the
“Extinct” Sea Otter
Rosalind Sharpe
Wall, a long-time Peninsula resident, was recently rummaging
through some of the effects of her late father’s, when she came
upon this account of a most astounding event. The event, of
course, was her father’s discovery of the ‘extinct’ sea otter.
Howard Granville Sharpe, a published author since the late ‘20s,
wrote this first person account in 1939.
By HOWARD GRANVILLE
SHARPE
“How did you
discover the sea otter herd?” Many such questions are asked of
me. At the time of the discovery, March 19, 1938, I owned a
small ranch on the rugged coast 13 miles south of Carmel.
On my front porch,
at cliff-edge, stood a powerful telescope commanding sea and
shore. From a 300 feet elevation it swept Discovery Cope and
Sharpe’s Point. Jutting into the ocean, this promontory forms a
cove.
In a busy day I
found no time for systematic scope-gazing, but might succumb if
only to inspect some passing ship, or an outlying rock “Lady
Kay.” On this historic morning I had no definite object, but I
wondered if Lady Kay would be weeping. If brine rivulets coursed
her cheeks, a truculent tide was slapping her face.
I scanned kelp beds
lying farther inshore. Slight movements there seemed
inconsistent with normal rise and fall. I had no premonition
that I was verging on a discovery destined to draw an army of
spectators from the farthest reaches of the Earth. Certainly I
couldn’t know that I would find a cool million dollars in furs,
or be first to gaze at a sight unseen by mortals in a century.
To “Coasters” living
in rugged Bixby Creek Canyon, objects riding the swell in a high
tide aren’t kelp. Today such float was visible, objects too
uniform in size for the usual flotsam. Movement obviously was
independent of the tide. Were they alive? Heads larger than
kelp-bulbs resembled seal, sleek bodies seemed fur-bearing. But
here similarities ended. What were those odd shaped flippers
that seemed growing from their backs? One object wriggled and
turned over, then I realized that all the rest were inverted,
lazy on their backs in patches of yellow-brown kelp. Distance
from a sandy beach at Bixby Creek mouth was scarcely 120 yards.
Could they be
walrus? Perhaps some odd species, fooled by a severe winter,
mistook California for Alaska? No tusks? Then perhaps a “half
fist, half horse, half alligator” had Davy Crocketted up from
unexplored seas. These creatures were undeniably fur-bearers...
A strange excitement
took hold of me. Puzzle: what salt water creature lies
luxuriously on its back, hind legs sticking straight up,
forelegs folded on its chest or muzzle? Some kind of otter?
I remembered a
personal encounter with a land otter in the Far East long ago.
It was a far cry from that steaming episode in a tropical lake
on Mindanao in the Philippines to my balcony at Rainbow
Headlands. But I was determined to know, little dreaming how
much there was to know and that it would make me the target for
rifle bullets within a few days. Yes, indeed. The world might
never have heard of my discovery but for my remembrance of that
land otter episode.
The idea of this
large herd of fur-bearers being genuine sea otters didn’t,
couldn’t occur to me, because the myriads once thriving in kelp
along the coast were all dead. Such at least was the scientific
verdict. In other words, “Southern Sea Otter” described as
“Latex” or “Enhydra Lutris Nereis Merriam,” were definitely
wiped off scientific records, to fill a niche in natural history
with a freakish group as dead as dodos. Could they be
prehistoric, up from ocean deeps?
If I tired of scope
gazing, the little rascals proved a magnet drawing me back. I
called to a young employee:
“Do you see what
see?”
Did he? A strange
question in the midst of workday affairs. But his good nature
took over, he saw even more, not only verifying my “spike tails
and four genuine legs instead of flippers,” but he saw that the
feet were partly webbed, five nails to each foot, faces like
“muskrats.” Also, an outlying group mistaken by me for kelp, was
animal life instead. This brought my estimate up to more than
300 of the amazing creatures. Later, when my family members
arrived, I showed them the discovery.
The next person to
see the extraordinary sight was a Mr. Frank Miller who chanced
to drive out from Monterey. The press had it: “A countryman
discovered the sea otters, but Capt. Lippincott, of the Fish &
Game Commission, who happened to be passing, told him that they
were...”
It was two days
later that on a trip to town we reported the discovery to
Hopkins Marine Station. Everywhere we met a skepticism quite
understandable even when tinged with amusement.
“Seals...Sea
Lions...Nothing else.”
Ditto four officials
of the Fish and Game Commission. Our “find” left them cold.
Also, three newspaper editors must have “seen no merit in our
contention,” for not a word appeared on a subject which, within
three days, was to become world news astounding, [???] and
within limits of natural science “the scoop of the century.
Two days later we
paid a second call on Fish & Game, with the same result.
“Can’t possibly be
anything but seals or sea lions,” was the considered verdict.
Veteran officer Capt. Lippincott asked:
“How do you know
they aren’t seals or sea lions?”
This attitude
swatted my self esteem rather rudely. I replied: “They don’t
look like seals...nor sea lions.” By now I should have realized
that my layman’s opinions weren’t worth much. I ran across Mr.
(Frank) Miller who told me that his reports met with like
skepticism.
Lippincott pondered
over my story. Next morning with three juniors he appeared at
Rainbow Headlands at my ranch. They peered through the scope,
there came an odd silence. One officer wiped the lends, peered
again. Lippincott backed away, hand across eyes. Looking at the
object glass he adjusted the eyepiece to shorter focus.
Gradually his body grew taut; voice came in a sharp whisper
“Sea
otters...sea-OTTERS!”
Finally I asked:
“Are you sure?”
“How could I
mistake? There can be no doubt!”
“But they’re all
dead...extinct...years ago?”
Lippincott smiled
grimly. In years of service he had seen freak happenings. Truly
a new chapter in natural history was about to be written: the
“impossible” had happened. A supposedly extinct animal came to
life utterly without warning; a large herd with a cool million
dollars in pelts. first time in history. Nature’s immutable law
was: “Once extinct, always extinct...” Of species dying out in
our particular epoch: great auk and dodo by 1800, Mississippi
Valley pigeon; Martha’s Vineyard sage-hen: there was no question
of the accuracy of the diagnosis. But these were all birds,
whereas bison, West Coast hyena, and the sperm whale never quite
vanished. The only four-legged creature universally canceled
from the books in our time was the sea otter. My requests for
herd guards to prevent sniping from the Coast Highway, and a
patrol boat at the two-mile limit for poachers were acceded to
at once. The Albatross was the vigilant launch chosen.
Hopkins Marine staff
appeared, looked, apologized. Dr. Heath said:
“Had you reported
dinosaurs or ichthyosaurs running down your canyon swimming
about, we couldn’t have been more utterly dumbfounded.”
Whence came Southern
sea otters? Not from the Aleuts. The few sea otters still found
there belonged to the other existing species. The only known
herd of Southern sea otters lay right at my doorstep.
My suggestion that
they hid in Rainbow Headlands caverns was only less plausible
than “so vast a herd hid in kelp, undiscovered for ages.” One
tunnel ramified through a hundred of feet and pierces Rainbow
Headlands from North to Discovery Cove, Bixby Creek mouth.
The problem remained
a staggering mystery. Not since R. Chapman Andrews found
dinosaur eggs in Mongolia was there such a contribution to the
scientific world, or a reversal of judgment of such proportions.
From all over the world writers pilgrimage to this near-Mecca,
Rainbow Headlands. Newsreel crews soon followed. This find
wasn’t in far off Mongolia, but right here in California.
The question often
recurred: “How did you discover the sea otters?” I was
laughingly accused of rearing them in a trout-hatchery in my
canyon, or importing them from Mars and suddenly springing them
on a sensation-loving world.
Weeks after the
discovery, a killer whale appeared within 80 feet of Bixby Creek
mouth. The herd dived; scattered. Some 90 animals took up
residence in Kelp Cover directly north of Rainbow Headlands, but
too near shore for safety, the state highway lying some 200 feet
above. Despite guard-vigilance a score of empty cartridge shells
were found at the cliff edge. Four days later my son, William, a
teenager, caught some poachers. When I joined him we found a
dead sea otter, bullet through its spine, washed up on the
beach.
We turned it over to
the Fish & Game Commission, but not before being sniped at from
bushes and the car in which the poachers fled.
On July 4 so many
cannon crackers were hurled from the cliff that the patient
little creatures wrinkled up their faces in startled abhorrence
of Genus Homo and all his works and faded from sight, some to
appear in the kelp a mile north, others to Discovery Cove.
Meantime another section teemed with excitement: dozens appeared
in the wave-slapped kelp off Torre Canyon, 15 miles south.
Gradually their numbers diminished. Few of the herd remained at
Torre Canyon. The 1958 census reported 600 sea otters scattered
over wide areas.
How can a traveler
know the difference between sea otters and land otters? Land
otters greatly outnumber sea otters. They live on land, hunt in
rivers and lakes. Sea otters, about twice their size, live
exclusively on and in salt water. Seals have only flippers, sea
otters four true legs and are more closely related to dogs or
bears than are seals or sea lions.
Sea otter gestation
period is nine months, not the three of land otter, seal, sea
lion. Multiple birth is rare.
Unlike walrus and
other ocean-going animals, sea otters have no set breeding
seasons. Offspring arrive at about two-year intervals, the cute,
furry ball born in kelp bobbing on the ocean swells. Held on its
mother’s belly for weeks, it is then taught to swim.
I’ve been asked:
“Are sea otters too lazy to react like humans?” Say rather that
they have a Stevensonian philosophy (Robert Louis), no
quarreling, no dueling, no bullying, no sex jealousies.
Rarely molested in
kelp by sharks or killer whales, sea otters live in a Herman
Mellville Utopia, males all free-lance bachelors; females
neither gold diggers nor party girls. They may have a technique
of their own, these coy and demure, wholly self-satisfied sea
otter queens of destiny.
Mating is neither
seasonal nor weekend, just a whim of a moment it seems, always
with a different mate. In one group of 80 - there are seldom
more in one group - two or three of the largest have grizzled
heads. One patriarch is all white, an albino. Another proudly
wears a “white lion rampant” on chest and flanks. These seldom
budged from Discovery Cove to chase after false kelp beds. Their
titles fit them: Emperor; empress; a third whitish one of
Discovery Cove falls heir to Archduke, Kronprinz.
Sea otter food is
largely abalone, crab, sea urchin - shellfish torn from the
ocean bed directly below their “parking places.”
After eating comes
the siesta, if the day is sunny and warm, and ocean swells not
too lusty. The really important activity is the bano (bath);
whether a delousing process, or are they pestered by marine
fleas? They scrub thoroughly all over. One powerful leg and foot
is thrust vigorously up and down the spine like a Fuller brush.
SEA OTTER ABILITY TO
USE TOOLS: A hungry sea otter brings an abalone and a flat stone
from the bottom, places the stone on its chest and hammers the
shell fish against it with incredible speed. This makes the
“click” sometimes heard. A small arc being broken from the
shell, the meat is readily gouged out and eaten.
The rejected shell
is customarily pounced on by a seagull which, at first click,
wings its direct way to the scene of the banquet. The optimistic
gull perches on neighboring kelp, bobs up and down to wait
expectantly. Discovery Cove law: only one gull to an otter.
Among military
campaigns noted for wholesale slaughter, one waged by the
Russians till 1831 changed North American maps, determined the
course of westward empire. To include it in “World’s Decisive
Battles” is impossible, for the victims weren’t human but dumb
animals.
Wealthy Russians and
Spaniards as well as Chinese would wear no other furs. Higher
quotations told the story of diminishing supply. Buccaneers cast
greedy eyes at “Russia’s private racket” and began to colonize
in imitation of Russia’s Fort Ross. California’s match less furs
became the prize in the desperate scrabble.
A sea otter herd,
said to be the last, took refuge in kelp covers of Monterey
Peninsula and was annihilated presumably by 1831, according the
Capt. J.B.R. Cooper. Belated specimens were reported in 1908,
1916, some miles down the coast from Carmel, near Bixby Creek
mouth. But were they seals? [??]
A London scientific
article (1938) states: ...”regrettable that no authentic picture
of a sea otter herd ever will be taken...Latax Lutris Nereis has
been dead as a herd since 1831...”
On the heels of this
sage prophecy came my sensational find of March 19, 1938. When
such pelts were legal, the latest quotes were $3,500.
In my books the most
astounding mystery is: Where did the sea otter live for 107
years? In Rainbow Headlands caves? No. These caves are filled
with water half the time. Sea otters need air. Did they
hibernate? This and much else remain staggering mysteries. Will
they ever be solved?
|
Friends of the Sea Otter
125 Ocean View Blvd, Suite 204
Pacific Grove, CA 93950
Phone: 831-373-2747
Fax: 831-373-2749
E-Mail:
education@seaotters.org |
Trở về Trang Chính
|