Phát hiện rái cá biển “tuyệt chủng”


Chu Hữu Tín

14 tháng 07 năm 2005

Rosalind Sharpe Wall, một cư dân trên bán đảo lâu dài, vừa bị lục soát thông qua vài hiệu quả của người cha quá cố, khi bà đi đến một sự biến cố ngạc nhiên nhất, Lẽ dĩ nhiên, biến cố là sự phát hiện của người cha về loài rái cá biển “tuyệt chủng”. Howard Granville Sharpe, một tác giả đã xuất bản từ cuối những năm 20, đã viết tài liệu cá nhân đầu tiên năm 1939.

 

 “Làm cách nào ông đã phát hiện ra đàn rái cá biển?”. Nhiều câu hỏi như trên đặt ra cho tôi. Khi phát hiện, 19-03-1938, tôi sở hữu một trang trại nhỏ trên bờ biển gồ ghề 13 dặm phía Nam Carmel.

Tại cổng trước, ở cạnh đá dựng, có một kính viễn vọng mạnh quan sát biển và ven bờ. Từ một cao độ 300 bộ anh (ft) nó quét Discovery Cope và Sharpe’s Point. Nhô ra biển, doi đất này tạo ra một vịnh nhỏ.

Trong một ngày bận việc, tôi không có thời gian nhìn phạm vi có hệ thống, nhưng có thể gục ngã nếu chỉ kiểm tra vài tàu qua lại, và một hòn đá tảng nằm ra ngoài “Lady Kay”. Một buổi sáng lịch sử này, không có công việc chỉ định, nhưng tôi tự hỏi Lady Kay có thể đang khóc. Nếu dòng suối nhỏ nước mặn chay qua đôi má của bà, một cơn sóng hung bạo vỗ vào mặt bà ta.

Tôi quét những thảm tảo bẹ nằm gần bờ. Di chuyển nhẹ hình như không phù hợp với mức lêm xuống bình thường. Tôi không có linh cảm là tôi đang đến gần một sự phát hiện được trù định trước để thu hút nhiều khách đến tham quan từ những miền xa nhất trên Trái Đất. Chắc là tôi không thể biết là tôi có thể tìm ra hàng triệu đô la mát trên da thú, hoặc là người đầu tiên nhìn cảnh quan không thấy bởi những cá chết trong một thế kỷ.

Với “những sinh vật ven bờ” sống trong hẻm núi gồ ghề, những sinh vật cưỡi trên chỗ phình ra trong thuỷ triều lớn không phải là tảo bẹ. Hiện nay sinh vật nổi có thể thấy, sinh vật quá đồng nhất về kich thước với "flotsam" thường.Di chuyển rõ là không lệ thuộc vào thuỷ triều. Vậy chúng có sống hay không? Những đầu lớn hơn hải cẩu đầu bóng tảo, cơ thể bóng hình như mang da thú. Những tính đồng nhất kết thúc ở đây. Là sinh vật gì có những chân chèo (flippers) có hình  thức bất thường hình như phát triển từ lưng của chúng? Một sinh vật luồn lách và lật ngược, sau đó tôi hiểu là tất cả phần còn lại bị qui đổi, lười biếng trên lưng trên những đốm tảo bẹ vàng nâu. Khoảng cách từ một bãi biển cát ở cửa sông Bixby Creek gần bằng 1120 thước anh.

Có thể chúng là những con hải mã? Có thể vài loài sinh vật bất thường, bị khùng lên do mùa đông khắc nghiệt, tưởng lầm Cali là Alaska? Không răng nanh? Sau đó có thể một “nửa nắm tay, nửa ngựa, nửa cá sấu” Davy Crocketted có đến từ biển không sử dụng. Những sinh vất này không chối cãi những động vật mang da thú…

Một kích động lạ kỳ phát sinh ở trong tôi. Ô chữ: sinh vật  nước mặn nằm nhiều trên lưng của chúng, chân sau dính thẳng, chân trước xếp lại trên ngực hoặc mõm là gì? Vài loại rái cá?

 Tôi nhớ lại một lần bản thân gặp với một con rái cá đất liền ở Viễn Đông từ lâu rồi. Điều này là tiếng rao hàng xa ở đoạn có hơi nước trong một hồ nhiệt đới ở Mindanao Philippin trên ban-công ở Rainbow Headlands. Nhưng tôi đã quyết định để biết, hơi mơ mộng làm cách nào có thể biết và có thể làm cho tôi mục tiêu của làn đạn trong vài ngày. Vâng, thật vậy. Thế giới có thể không bao giờ đã nghe về phát hiện của tôi nhưng trong ký ức tôi đó là đoạn rái cá đất liền.

Ý tưởng về đàn động vật lớn mang da thú này, những rái cá biển thật không làm, không thể xuất hiện trong tôi, vì vô số phát triển trên tảo bẹ dọc theo bờ biển tất cả đều chết. Điều ấy  nhất là một bản án khoa học. Nói cách khác, “Rái cá biển miền Nam” trình bày như “Latex” hoặc Enhydra Lutris Nereis Merriam,” được xác định bị quét sạch trong tài liệu khoa học, để làm đầy tổ trong lịch sử tự nhiên với một nhóm quái đản chết như chim cưu. Có thể thuộc về thời tiền sử, đến từ độ sâu đại dương.

Nếu tôi mệt mỏi vì nhìn cảnh quan, những trẻ nhỏ như cục nam châm kéo tôi trở lại. Tôi hỏi một người giúp việc trẻ:

“Có thấy gì không?”

Hắn có thấy không? Một câu hỏi kỳ lạ giữa những công việc hàng ngày. Nhưng tính chất tốt của hắn đã tiếp nhận, hắn còn thấy nhiều hơn, không chỉ xác minh “đuôi gai và bốn chân thật thay vì những chân chèo,” những hắn thấy là chân có mạng cục bộ, năm móng cho mỗi chân, mặt giống như “chuột xạ”. Lại, một nhóm nằm ngoài mà tôi lầm là tảo bẹ, là đời sống động vật thay vì. Điều này mang lại bản tính toán của tôi nhiều hơn 300 sinh vật đáng ngạc nhiên. Sau này, khi những thành phần gia đình tôi đến, tôi chỉ cho họ xem phát hiện của tôi.

Người kế tiếp thấy cảnh đặc biệt là Mr Frank Miller có may mắn lái xe ra khỏi Monterey. Báo chí đã có nói: “Một đân quê đã phát hiện rái cá biển, nhưng Capt. Lippincott, của Fish & Game Commision, đã bất ngờ đi qua, nói với ông ta là chúng…”

Hai ngày sau trong một chuyến đi đến tỉnh lỵ chúng tôi đã báo cáo sự phát hiện cho Hopkins Marine Station. Bất kỳ nơi nào chúng tôi gặp một thái độ hoài nghi khá dễ hiểu ngay với tiếng leng keng vui tai.

Hải cẩu… Sư tử biển… không gì khác nữa”

Như trên bốn viên chức của Fish and Game Commission. Họ vẫn lạnh lùng với “sinh vật tìm thấy” của chúng tôi. Lại ba tổng biên tập nhật báo phải đã “thấy không xứng đáng trong sự hài lòng của chúng tôi.” vì không một lời nói nào về đề tài mà, trong ba ngày, trở thành tin quốc tế gây ngạc nhiên, (?!!) và trong những giới hạn của khoa học tự nhiên “ “vật đào của thế kỷ.

Hai ngày sau chúng tôi gọi lần 2 cho Fish & Game, cùng một kết quả.

“Chắc không thể sinh vật gì khác ngoài hải cẩu và sư tử biển,” là một bản án được xem xét. Cựu quân nhân Capt. Lippincott hỏi:

“Làm cách nào ông biết chúng không phải là hải cẩu và sư tử biển?”

Thái độ này đập mạnh vào lòng tự trọng của tôi nhiều hơn là thô bạo. Tôi trả lời: Chúng trông không giống như hải cẩu cũng không giống như sư tử biển” Vào lúc này tôi phải đã hiểu rằng những ý kiến của thường dân khống đáng là bao. Tôi chạy qua Mr. (Frank) Miller người đã nói với tôi là báo cáo của ông đã gặp chút nghi ngờ.

Lippincott suy nghĩ về câu chuyện của tôi. Sáng hôm sau với ba cán bộ trẻ của ông xuất hiện ở Rainbow Headlands ở trang trại của tôi. Họ nhìn kỹ thông qua cảnh quan, có sự im lặng bất thường. Một viên chức quét toàn vùng, nhìn kỹ một lần nữa. Lippincott trở lai, bàn tay dụi mắt. Nhìn vào kính sinh vật chỉnh lại lỗ nhắm cho tiêu cự gần. Dần toàn thân ông căng thẳng, tiếng nói trở nên lanh lảnh:

“Rái cá biển… RÁI CÁ biển!”

Cuối cùng tôi hỏi: “Ông có chắc không?” “Làm cách nào tôi có thể nhầm lẫn được? Có thể là điều không nghi ngờ. Nhưng tất cả chúng đều đã chết … tuyệt chủng từ lâu lắm rồi?” Lippincott mỉm cười một cách dứt khoát. Trong những năm công tác, ông đã thấy những trường hợp này thay đổi. Thật ra một chương mới trong lịch sử tự nhiên sẽ được viết về “điều không thể thực hiện”. Một động vật tuyệt chủng giả định sống không cảnh báo; một đàn lớn có hàng triệu đô la mát trên những tấm da, lần đầu trong lịch sử. Một định luật không thay đổi của thiên nhiên là “Khi tuyệt chủng, luôn tuyệt chủng… “Trong số những loài đang chết dần, kỷ nguyên riêng biệt của chúng ta, chim anca và chim cưu trước năm 1800. Bồ câu Mississippi Valley, gà mái Martha ‘ s Vineyard không có vấn đề độ chính xác của sự chẩn đoán. Nhưng tất cả loài này đều là chim, nhưng trái lại bò rừng bizon, linh cẩu duyên hải phía Tây, và cá voi tinh không hoàn toàn biến đi. Chỉ sinh vật bốn chân huỷ bỏ toàn cầu từ những quyển sách trong thời đại của chúng ta lầ rái cá biển. Yêu cầu của tôi về việc bảo vệ đàn cá để ngăn cản việc bắn tỉa từ bờ biển. đường cao tốc, và tàu tuần tra ở giới hạn hai dặm người săn trộm đến kip ngay. Chim hải âu lớn là giàn phóng cảnh giác được chọn.

Nhân viên của Hopkins Marine xuất hiện, nhìn, xin lỗi Dr Heath nói:

“Ông đã báo cáo khủng long và thằn lằn cá chạy xuống hẻm núi bơi quanh, chúng tôi không thể chết lịm đi một cách tuyệt đối”.

Từ khi nào rái cá biển miền Nam đến? Không phải là chỉ từ Aleuts. Vài rái cá biển vẫn còn tìm thấy ở đó thuộc về loài hiện có khác. Đàn rái cá biển miền Nam đã biết nằm ngay trước cửa nhà tôi.

Đề nghị của tôi là chúng đến hang Rainbow Headlands chỉ số ít có thể chấp nhận so với một đàn rất lớn trên tảo bẹ, không phát hiện từ lâu rồi. Một đường hầm phân cành thông qua một trăm bộ anh và đục Rainbow Headlands từ miền Bắc đến vịnh nhỏ Discovery, cửa sông Bixby.

Một vấn đề còn lại một điều kỳ diệu bắt đầu. Không phải là từ khi R. Chapman Andrews tìm ra trứng khủng long ở Mông Cổ ở đó như là một phần góp vào thế giới khoa học, hoặc một điều trái ngược lại sự phán xét về tỷ lệ trên. Từ mọi nơi trên thế giới những tác giả đi hành hương về gần Mecca này, Rainbow Headlands. Nhóm thời sự chẳng bao lâu đến sau. Phát hiện này không xa Mông Cổ, mà ở ngay Cali.

Câu hỏi thường đặt ra: “Làm cách nào ông phát hiện rái cá biển? Tôi cười lớn và cho là tôi nuôi dưỡng chúng trong lò ấp cá hồi ở hang của tôi, hoặc nhập khẩu chúng từ Mars và đột nhiên mang chúng vào thế giới yêu thương.

Nhiều tuần sau khi phát hiện, một con cá voi sát thủ xuất hiện trong 80 bộ anh của cửa sông Bixby Creek. Đàn rái cá lặn, rải rác. Vài 90 động vật chiếm nhà ở trên lớp thảm tảo bẹ trực tiếp phía Bắc Rainbow Headlands, nhưng quá gần bờ để có an toàn, đường cao tốc quốc gia nằm vài 200 bộ anh phía trên. Mặc dầu sự cảnh giác của bảo vệ, ghi chép về số lượng vỏ trống được tìm thấy ở đầu đá dựng. Bốn ngày sau, con trai tôi William, một trẻ vị thành niên, bắt được vài người đánh bắt trộm cá. Khi tôi đến gặp hắn chúng tôi thấy một con rái cá biển đã chết, viên đạn trên cột sống, rửa sạch ở bãi biển.

Chúng tôi trao cá lại cho Fish & Game Commission, nhưng không trước khi bị bắn tỉa từ bụi và chiếc xe trong đó người đánh bắt trộm cá trốn thoát.

Vào ngày 4 tháng 7 nhiều tiếng súng ca nông vang vọng từ vùng đá dựng nơi sinh vật nhỏ bệnh nhăn mặt với sự sợ hãi sáng chói của Genus Home (giống người) và tất cả những công trình và mờ đi khỏi tầm nhìn, vài con xuất hiện trên tảo bẹ một dặm anh về phía Bắc những con khác ở vùng vịnh Discovery. Trong khi chờ đợi một phần khác đầy kích thích, hàng tá xuất hiện trên sóng vỗ tảo bẹ ngoài hẻm núi Torre, 15 dặm anh về phía Nam. Dần số lượng của chúng giảm bớt. Số ít trong đàn vẫn ở hẽm núi Torre. Năm 1958 cuộc kiểm tra được báo cáo 600 rái cá biển rải rác trong một vùng rộng.

Làm cách nào một người du khách biết sự khác biệt giữa rái cá biển và rái cá đất liền? Rái cá đất liền vượt quá số lượng rái cá biển. Chúng sống trên đất liền, săn trên sông và hồ. Rái cá biển, gấp hai lần về kích thước, sống độc quyền trên và trong nước mặn. Hải cẩu chỉ có chân chèo (flippers), rái cá biển bốn chân thật và liên quan gần với chó hoặc gấu nhiều hơn so với hải cẩu và sư tử biển.

Thời gian thai nghén của rái cá biển là chín tháng, không phải là ba tháng của rái cá trên đất liền, hải cẩu, sư tử biển. Trường hợp sinh nhiều con thì hiếm thấy.

Không giống như hải mã và động vật đi biển khác, rái cá biển không có mùa sinh sản xác lập. Con cháu đến trong khoảng 2-năm, qủa bóng da tinh khôn mang trên tảo bẹ lắc lư theo sóng vỗ đại dương. Giữ ở nơi bụng cá mẹ hàng tuần, sau đó dậy cho chúng biết bơi. Tôi đã được hỏi:"Rái cá biển lười phản ứng như con người phải không? Nói cho đúng là chúng có một triết lý Stevenson (Robert Louis), không cãi nhau, không đấu kiếm, không đấu bò, không ghen tuông tính dục.

Hiếm khi quấy rầy trên tảo bẹ bởi cá mập hoặc cá voi sát thủ, rái cá biển sống trong một Herman Mellville Utopia, con đực tất cả là cá độc thân trích tự do, con cái không phải là cá đào vàng cũng không phải là con gái lễ hội. Chúng có thể có một kỹ thuật của chính chúng, kín dáo và bẽn lẽn, nữ hoàng của số phận rái cá biển tự thoả mãn hoàn toàn.

Giao phối không theo mùa cũng không cuối tuần, chỉ là trong một thoáng thời gian hình như vậy, luôn với một phối ngẫu khác nhau. Trong một nhóm 80- ít có khi nhiều hơn một nhóm-  hai hoặc ba lớn nhất có đầu hoa râm. Một tộc trưởng tất cả là trắng, một bạch tạng. Một con khác kiêu hãnh mang một huy hiệu trên ngực "sư tử trắng chồm" và sườn. Những con này ít di chuyển ra khỏi vịnh Discovery để săn đuổi sau thảm tảo bẹ giả. Chức danh của chúng thích hợp là: Vua- Nữ Hoàng, và con trắng thứ ba của Vịnh Discovery thừa kế cho Quận công, Kronprinz

Thức ăn của rái cá biển phần lớn là bào ngư, cua, nhím biển (sea-urchin)- động vật có vỏ được xé ra khỏi thềm đại dương trực tiếp dưới "bãi đậu" của chúng.. Sau bữa ăn đến giờ nghỉ trưa, nếu ngày nắng và ấm, và sóng biển không quá mạnh. Chúng động thật quan trọng là bano (tắm), dù có hoặc không quá trình khử rận (delousing), hoặc chúng bị quấy rầy bởi bọ chét biển? Chúng lau chùi kỹ toàn thân. Một chân mạnh và bằng chân thọc mạnh lên và xuống cột sống như một bàn chải Fuller.

Khả năng của rái cá biển sử dụng công cụ: Một rái cá biển đói mang một miếng bào ngư và một hòn đá phẳng từ đáy, đặt hòn đá trên ngực của nó và đập sò hến trên nó với một tốc độ không ngờ. Điều này tạo ra tiếng "click" thỉnh thoảng có thể nghe. Một cung nhỏ đang bị gãy khỏi vỏ, thịt được hút ra và ăn.

Vỏ bị loại thường đươc một con chim mòng biển chụp, với tiếng click đầu, bắn ra theo đường thẳng đến quang cảnh của bữa tiệc lớn. Chim mòng biển chủ quan đậu trên tảo bẹ lân cận, nổ tung và rơi xuống nơi mong đợi. Quy luật của Discovery Cove: chỉ một con mòng biển đối một con rái cá.

Trong những chiến dịch quân sự tài liệu về tay đồ tể bán sỉ, người được trả lương bởi người Nga cho đến năm 1831 thay đổi bản đồ Bắc Mỹ, xác định lộ trình của vương quốc tây tiến . Để bao gồm nó trong "World's Decisive Battles" (Những trận đánh quyết định trên thế giới) không thể thực hiện, vì nạn nhân không phải là con người mà là động vật câm.

Những người Nga và Tây Ban Nha giàu có cũng như người Trung Quốc có thể mang không gì khác hơn là da thú. Đoạn trích dẫn cho biết câu truyện nguồn cung cấp giảm. Những tên cướp biển nhìn với những đôi mắt thèm muốn vào "cái vợt riêng của người Nga" và bắt đầu bắt chước Fort Ross của nước Nga. Da thú ít thích hợp ở Cali trở thành phần thưởng trong trò chơi vô vọng.

Một đàn rái cá biển, nói sẽ là lần cuối, tị nạn trên những thảm tảo bẹ của bán đảo Monterey và bị cấm chắc là trước năm 1831, theo Capt J. B. R. Cooper. Những tiêu bản đến muộn được báo cáo năm 1908, 1916, vài dặm xuống miền ven biển từ Carmel, gần cửa sông Bixby Creek. Nhưng chúng có phải là hải cẩu không (?!).

Một tài liệu khoa học Luân Đôn (1938) nói: "đáng tiếc là không có hình ảnh chính thức của một đàn rái cá biển được chụp. Latax Lutris Nereis đã chết như một đàn từ năm 1831…" Dựa vào lời tiên tri khôn ngoan này đã đến phát hiện của tôi ngày 19-03-1938. Khi những túi là hợp pháp, giá mới nhất là $3.500.

Trong cuốn sách của tôi điều kỳ diệu ngạc nhiên nhất là: Ở đâu những con rái cá biển sống trong 107 năm? Trong hang Rainbow Headlands? Không. Những hang này đầy nước trong nửa thời gian. Rái cá biển cần không khí. Chúng có trú đông không? Điều này và nhiều điều khác vẫn còn là điều kỳ diệu bắt đầu. Chúng có được giải quyết hoặc không?

Ngày 01-07-2005

Chu Hữu Tín

 

The Discovery of the “Extinct” Sea Otter 

 Rosalind Sharpe Wall, a long-time Peninsula resident, was recently rummaging through some of the effects of her late father’s, when she came upon this account of a most astounding event. The event, of course, was her father’s discovery of the ‘extinct’ sea otter. Howard Granville Sharpe, a published author since the late ‘20s, wrote this first person account in 1939. 

By HOWARD GRANVILLE SHARPE 

 “How did you discover the sea otter herd?” Many such questions are asked of me. At the time of the discovery, March 19, 1938, I owned a small ranch on the rugged coast 13 miles south of Carmel. 

On my front porch, at cliff-edge, stood a powerful telescope commanding sea and shore. From a 300 feet elevation it swept Discovery Cope and Sharpe’s Point. Jutting into the ocean, this promontory forms a cove.

In a busy day I found no time for systematic scope-gazing, but might succumb if only to inspect some passing ship, or an outlying rock “Lady Kay.” On this historic morning I had no definite object, but I wondered if Lady Kay would be weeping. If brine rivulets coursed her cheeks, a truculent tide was slapping her face. 

 

I scanned kelp beds lying farther inshore. Slight movements there seemed inconsistent with normal rise and fall. I had no premonition that I was verging on a discovery destined to draw an army of spectators from the farthest reaches of the Earth. Certainly I couldn’t know that I would find a cool million dollars in furs, or be first to gaze at a sight unseen by mortals in a century. 

To “Coasters” living in rugged Bixby Creek Canyon, objects riding the swell in a high tide aren’t kelp. Today such float was visible, objects too uniform in size for the usual flotsam. Movement obviously was independent of the tide. Were they alive? Heads larger than kelp-bulbs resembled seal, sleek bodies seemed fur-bearing. But here similarities ended. What were those odd shaped flippers that seemed growing from their backs? One object wriggled and turned over, then I realized that all the rest were inverted, lazy on their backs in patches of yellow-brown kelp. Distance from a sandy beach at Bixby Creek mouth was scarcely 120 yards. 

Could they be walrus? Perhaps some odd species, fooled by a severe winter, mistook California for Alaska? No tusks? Then perhaps a “half fist, half horse, half alligator” had Davy Crocketted up from unexplored seas. These creatures were undeniably fur-bearers... 

A strange excitement took hold of me. Puzzle: what salt water creature lies luxuriously on its back, hind legs sticking straight up, forelegs folded on its chest or muzzle? Some kind of otter? 

I remembered a personal encounter with a land otter in the Far East long ago. It was a far cry from that steaming episode in a tropical lake on Mindanao in the Philippines to my balcony at Rainbow Headlands. But I was determined to know, little dreaming how much there was to know and that it would make me the target for rifle bullets within a few days. Yes, indeed. The world might never have heard of my discovery but for my remembrance of that land otter episode.

The idea of this large herd of fur-bearers being genuine sea otters didn’t, couldn’t occur to me, because the myriads once thriving in kelp along the coast were all dead. Such at least was the scientific verdict. In other words, “Southern Sea Otter” described as “Latex” or “Enhydra Lutris Nereis Merriam,” were definitely wiped off scientific records, to fill a niche in natural history with a freakish group as dead as dodos. Could they be prehistoric, up from ocean deeps? 

If I tired of scope gazing, the little rascals proved a magnet drawing me back. I called to a young employee: 

 “Do you see what see?” 

Did he? A strange question in the midst of workday affairs. But his good nature took over, he saw even more, not only verifying my “spike tails and four genuine legs instead of flippers,” but he saw that the feet were partly webbed, five nails to each foot, faces like “muskrats.” Also, an outlying group mistaken by me for kelp, was animal life instead. This brought my estimate up to more than 300 of the amazing creatures. Later, when my family members arrived, I showed them the discovery. 

The next person to see the extraordinary sight was a Mr. Frank Miller who chanced to drive out from Monterey. The press had it: “A countryman discovered the sea otters, but Capt. Lippincott, of the Fish & Game Commission, who happened to be passing, told him that they were...” 

It was two days later that on a trip to town we reported the discovery to Hopkins Marine Station. Everywhere we met a skepticism quite understandable even when tinged with amusement. 

 “Seals...Sea Lions...Nothing else.” 

Ditto four officials of the Fish and Game Commission. Our “find” left them cold. Also, three newspaper editors must have “seen no merit in our contention,” for not a word appeared on a subject which, within three days, was to become world news astounding, [???] and within limits of natural science “the scoop of the century. 

Two days later we paid a second call on Fish & Game, with the same result. 

“Can’t possibly be anything but seals or sea lions,” was the considered verdict. Veteran officer Capt. Lippincott asked: 

“How do you know they aren’t seals or sea lions?” 

This attitude swatted my self esteem rather rudely. I replied: “They don’t look like seals...nor sea lions.” By now I should have realized that my layman’s opinions weren’t worth much. I ran across Mr. (Frank) Miller who told me that his reports met with like skepticism. 

Lippincott pondered over my story. Next morning with three juniors he appeared at Rainbow Headlands at my ranch. They peered through the scope, there came an odd silence. One officer wiped the lends, peered again. Lippincott backed away, hand across eyes. Looking at the object glass he adjusted the eyepiece to shorter focus. Gradually his body grew taut; voice came in a sharp whisper 

 “Sea otters...sea-OTTERS!” 

Finally I asked: “Are you sure?” 

“How could I mistake? There can be no doubt!” 

“But they’re all dead...extinct...years ago?” 

Lippincott smiled grimly. In years of service he had seen freak happenings. Truly a new chapter in natural history was about to be written: the “impossible” had happened. A supposedly extinct animal came to life utterly without warning; a large herd with a cool million dollars in pelts. first time in history. Nature’s immutable law was: “Once extinct, always extinct...” Of species dying out in our particular epoch: great auk and dodo by 1800, Mississippi Valley pigeon; Martha’s Vineyard sage-hen: there was no question of the accuracy of the diagnosis. But these were all birds, whereas bison, West Coast hyena, and the sperm whale never quite vanished. The only four-legged creature universally canceled from the books in our time was the sea otter. My requests for herd guards to prevent sniping from the Coast Highway, and a patrol boat at the two-mile limit for poachers were acceded to at once. The Albatross was the vigilant launch chosen. 

Hopkins Marine staff appeared, looked, apologized. Dr. Heath said: 

“Had you reported dinosaurs or ichthyosaurs running down your canyon swimming about, we couldn’t have been more utterly dumbfounded.” 

Whence came Southern sea otters? Not from the Aleuts. The few sea otters still found there belonged to the other existing species. The only known herd of Southern sea otters lay right at my doorstep. 

My suggestion that they hid in Rainbow Headlands caverns was only less plausible than “so vast a herd hid in kelp, undiscovered for ages.” One tunnel ramified through a hundred of feet and pierces Rainbow Headlands from North to Discovery Cove, Bixby Creek mouth. 

The problem remained a staggering mystery. Not since R. Chapman Andrews found dinosaur eggs in Mongolia was there such a contribution to the scientific world, or a reversal of judgment of such proportions. From all over the world writers pilgrimage to this near-Mecca, Rainbow Headlands. Newsreel crews soon followed. This find wasn’t in far off Mongolia, but right here in California. 

The question often recurred: “How did you discover the sea otters?” I was laughingly accused of rearing them in a trout-hatchery in my canyon, or importing them from Mars and suddenly springing them on a sensation-loving world. 

Weeks after the discovery, a killer whale appeared within 80 feet of Bixby Creek mouth. The herd dived; scattered. Some 90 animals took up residence in Kelp Cover directly north of Rainbow Headlands, but too near shore for safety, the state highway lying some 200 feet above. Despite guard-vigilance a score of empty cartridge shells were found at the cliff edge. Four days later my son, William, a teenager, caught some poachers. When I joined him we found a dead sea otter, bullet through its spine, washed up on the beach. 

We turned it over to the Fish & Game Commission, but not before being sniped at from bushes and the car in which the poachers fled. 

On July 4 so many cannon crackers were hurled from the cliff that the patient little creatures wrinkled up their faces in startled abhorrence of Genus Homo and all his works and faded from sight, some to appear in the kelp a mile north, others to Discovery Cove. Meantime another section teemed with excitement: dozens appeared in the wave-slapped kelp off Torre Canyon, 15 miles south. Gradually their numbers diminished. Few of the herd remained at Torre Canyon. The 1958 census reported 600 sea otters scattered over wide areas. 

How can a traveler know the difference between sea otters and land otters? Land otters greatly outnumber sea otters. They live on land, hunt in rivers and lakes. Sea otters, about twice their size, live exclusively on and in salt water. Seals have only flippers, sea otters four true legs and are more closely related to dogs or bears than are seals or sea lions. 

Sea otter gestation period is nine months, not the three of land otter, seal, sea lion. Multiple birth is rare. 

Unlike walrus and other ocean-going animals, sea otters have no set breeding seasons. Offspring arrive at about two-year intervals, the cute, furry ball born in kelp bobbing on the ocean swells. Held on its mother’s belly for weeks, it is then taught to swim. 

I’ve been asked: “Are sea otters too lazy to react like humans?” Say rather that they have a Stevensonian philosophy (Robert Louis), no quarreling, no dueling, no bullying, no sex jealousies. 

Rarely molested in kelp by sharks or killer whales, sea otters live in a Herman Mellville Utopia, males all free-lance bachelors; females neither gold diggers nor party girls. They may have a technique of their own, these coy and demure, wholly self-satisfied sea otter queens of destiny. 

Mating is neither seasonal nor weekend, just a whim of a moment it seems, always with a different mate. In one group of 80 - there are seldom more in one group - two or three of the largest have grizzled heads. One patriarch is all white, an albino. Another proudly wears a “white lion rampant” on chest and flanks. These seldom budged from Discovery Cove to chase after false kelp beds. Their titles fit them: Emperor; empress; a third whitish one of Discovery Cove falls heir to Archduke, Kronprinz. 

Sea otter food is largely abalone, crab, sea urchin - shellfish torn from the ocean bed directly below their “parking places.” 

After eating comes the siesta, if the day is sunny and warm, and ocean swells not too lusty. The really important activity is the bano (bath); whether a delousing process, or are they pestered by marine fleas? They scrub thoroughly all over. One powerful leg and foot is thrust vigorously up and down the spine like a Fuller brush. 

 

 

SEA OTTER ABILITY TO USE TOOLS: A hungry sea otter brings an abalone and a flat stone from the bottom, places the stone on its chest and hammers the shell fish against it with incredible speed. This makes the “click” sometimes heard. A small arc being broken from the shell, the meat is readily gouged out and eaten. 

The rejected shell is customarily pounced on by a seagull which, at first click, wings its direct way to the scene of the banquet. The optimistic gull perches on neighboring kelp, bobs up and down to wait expectantly. Discovery Cove law: only one gull to an otter. 

Among military campaigns noted for wholesale slaughter, one waged by the Russians till 1831 changed North American maps, determined the course of westward empire. To include it in “World’s Decisive Battles” is impossible, for the victims weren’t human but dumb animals. 

Wealthy Russians and Spaniards as well as Chinese would wear no other furs. Higher quotations told the story of diminishing supply. Buccaneers cast greedy eyes at “Russia’s private racket” and began to colonize in imitation of Russia’s Fort Ross. California’s match less furs became the prize in the desperate scrabble. 

A sea otter herd, said to be the last, took refuge in kelp covers of Monterey Peninsula and was annihilated presumably by 1831, according the Capt. J.B.R. Cooper. Belated specimens were reported in 1908, 1916, some miles down the coast from Carmel, near Bixby Creek mouth. But were they seals? [??] 

A London scientific article (1938) states: ...”regrettable that no authentic picture of a sea otter herd ever will be taken...Latax Lutris Nereis has been dead as a herd since 1831...” 

On the heels of this sage prophecy came my sensational find of March 19, 1938. When such pelts were legal, the latest quotes were $3,500. 

In my books the most astounding mystery is: Where did the sea otter live for 107 years? In Rainbow Headlands caves? No. These caves are filled with water half the time. Sea otters need air. Did they hibernate? This and much else remain staggering mysteries. Will they ever be solved?

Friends of the Sea Otter
125 Ocean View Blvd, Suite 204
Pacific Grove, CA 93950
Phone: 831-373-2747
Fax: 831-373-2749
E-Mail: education@seaotters.org

 

Trở về Trang Chính