|
Rất tình cờ đọc được một
bài của Bùi Ngọc Tấn viết về một người thơ tên Nguyễn thị Hoài
Thanh. Đọc xong, thấy Bùi Ngọc Tấn viết thiếu, chưa hết chuyện,
và có lẽ, cứ dựa theo cái giọng văn Bùi Ngọc Tấn ấy, theo ý
tưởng của Bùi Ngọc Tấn ấy thì chẳng bao giờ hết chuyện, cho dù
người tên Nguyễn thị Hoài Thanh ấy chết đi, mồ có xanh cỏ, vẫn
còn có chuyện để kể tiếp nữa. Bởi vì, con người tên là Nguyễn
thị Hoài Thanh ấy đại diện cho hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu
cuộc đời của con người Việt-Nam-bi-kịch, những con người lấy
chữ „Số Mạng đã an bài“ làm an ủi cho sự bất hạnh, lấy „Thôi,
tha đi làm phúc“ làm nguồn báo oán, lấy „Thôi! Bỏ đi! Đằng nào
cũng lỡ rồi!“ bù đắp cho sự thiệt thòi, lấy „chép miệng, thở
dài, rũ tóc...“ làm nguồn bảo hiểm, lấy „cá nhân nhỏ bé“ hòa vào
dân tộc đau khổ để quên đi những nỗi đau chùng chùng, ngợp
ngợp...
Cũng cái giọng điệu tửng
tửng, kể chuyện dấm dẳng của Bùi Ngọc Tấn, kể chuyện mà như vẽ
tranh, không phê bình một lời mà như độp cả hàng tấn báo cáo
xuống ấy, làm người đọc nào mà có máu-văn-nghệ phải lập tức thức
nguyên đêm, để ngồi hình tượng ra một người con gái trên dưới ba
mươi nõn nà, hấp dẫn đang biến đổi thành một phụ nữ trên sáu bó,
lưng vẫn thẳng nhưng gầy như cổ hạc, tóc vẫn dầy nhưng bạc lưa
thưa, khuôn mặt năm xưa đầy đặn bỗng lõm vào, cằm thanh tú bỗng
gân guốc, cặp má chỉ muốn hôn bỗng khô phát sợ. Người đàn bà tên
Nguyễn thị Hoài Thanh này, chỉ có một đặc điểm không bao giờ
thay đổi: Đôi Mắt Người Sơn Tây. Ôi, đôi mắt mà những người chưa
bao giờ một lần gặp mặt cũng có thể hình dung được: u ẩn chiều
tiễn biệt, hồn viễn xứ khôn nguôi... Đôi mắt chiều hoang vu giáo
đường. Đôi mắt Hồ Gươm, lúc nào cũng long lanh, hơi xao động
nhưng lại tàng ẩn cả một lịch sử dưới sâu. Đôi mắt hoàng hôn,
thoảng chút ánh vàng quyến rũ làm người đứng bên bờ chỉ muốn tan
vào trong cầu vồng ngũ sắc ấy, thà chết trong em còn hơn làm
khách vô tình, mà nếu có muốn quay lưng đi, chân cũng ngoái trở
lại. Loanh quanh mãi làm bãi cỏ nhầu nát như dấu vết của những
hò hẹn hôm nào.
Dưới đôi mắt ấy, còn cặp
môi. Dù cho có đói run người, dù cho gió bấc lạnh làm tím tái,
cũng vẫn thốt ra những lời nhỏ nhẹ, dịu dàng. Những lời thơ sâu
thẳm, cũng tửng tửng như văn Bùi Ngọc Tấn, nhưng lại có thể dìm
chết những trái tim nào biết thương yêu thật sự, có thể làm bạc
tóc những nhà hiền triết, và làm cho cơn mất ngủ ào vào giường
chiếu của những kẻ có tính đam mê. Không viết không được, phải
tiếp nối cái tửng tửng của Bùi Ngọc Tấn, bằng không thì óc vỡ
tung ra. Mà viết gì đây? Tả lại cái đẹp quyến rũ của người con
gái trên dưới ba mươi ấy, gái một con, gái hai con, mà đi qua
đâu cũng làm nhiều cái đầu ngoảnh lại, muốn huýt sáo, muốn kêu
lên một tiếng, muốn làm thơ? Người đi qua đời tôi, không nhớ gì
sao, người? Hay nói về một người mẹ trẻ, sớm tối lủi thủi đi về
chỗ dấu hai đứa con yêu dấu, tay chân dính đầy bụi đất vội chùi
vào quần để bế lấy đứa bé đang dang rộng hai cánh tay non nớt
bíu lấy cổ mẹ?
Buổi sáng em đi, mặt
trời chưa mở mắt.
Những chú chim non còn
dấu mỏ, ngáy dài.
Buổi chiều em về, những
ánh vàng vừa tắt.
Mấy mỏ chim lại cọ quẹt
bên vai
Kể về một thiếu phụ trẻ đi
chở than bùn, cố bịt mặt đẩy đống than nặng hàng tấn kia vào nhà
bạn, không dám thốt lên một lời vì sợ bạn nhận diện ra cái tàn
mạt của mình?
Em lội giữa đống than
như cá con mắc cạn
Cố
vẫy vùng cho vượt khỏi gian truân
Những mảnh da thiếu phụ trắng ngần
Thấp
thoáng giữa biển than đen nhẻm
Hoặc kể
lại cảnh người đàn bà ấy bị xe đụng, què tay, cánh tay dập nát,
máu đổ ra ướt áo, nhưng vẫn cố chống cánh tay còn lại, đứng dậy,
nhìn kẻ đụng mình với một sự an ủi, không an ủi mình, nhưng lại
nói với kẻ gây ra tai nạn: “thôi, đừng lo! chẳng có sao đâu! đời
có số cả?” Câu nói tha thứ ấy vẫn được thốt ra bởi những trái
tim nhân hậu, và những người biết rằng cái “số” kia là do hệ
thống xã hội xếp đặt rồi. Xã hội chằng chịt những mối dây thòng
lọt, xiết cổ con người bất hạnh, không tiền, không thế lực,
nhưng lại mở toang với kẻ có địa vị ăn trên, ngồi trước.
Cũng có
thể tả lại hoàn cảnh của người đàn bà nhất định không cho những
bàn tay nham nhúa đụng đến thân thể mình và chấp nhận bị mất
việc, mất cả tương lai, rồi “đời tàn trong ngõ hẹp”? Những người
đàn bà luôn bị coi như các đối tượng giải trí qua đường của mấy
tay có quyền, có thế, trong khung cảnh mà mà thân phận con người
còn nhẹ hơn cả mấy chú chó của tầng lớp tư bản đỏ? Người ta có
thể thản nhiên đứng nhìn một cuộc đời, ngàn triệu cuộc đời tàn
tạ khốn khổ, loi ngoi, lúc nhúc trong cặn bã bùn đen của xã hội.
Gặp lớp bùn như thế, những kẻ cai trị dân kia vội vã vén gấu
quần lên, bỏ chạy thật xa, không cần biết trong lớp bùn than đó
cũng là những con người có trái tim, có máu nóng, có yêu thương,
hờn giận; những con người rất Việt Nam. Trên hết, trong lớp bùn
than đen bị bỏ quên đó, có tâm hồn rất thơ Nguyễn thị Hoài
Thanh. Những câu thơ của em như các mảnh vàng lóng lánh trong
bùn, quý giá và hiếm có.
Lời
thơ em, tự nhiên như sơn ca hót
Buổi
chiều trong veo, cây cỏ lắng nghe
Đóa
hồng nhung được cánh bướm chở che
Cũng
ửng má nghe lời ca thánh thót
Lời
thơ em, chân thành như giòng suối
Dù
ngàn đời vẫn chung thủy trôi xuôi
Đón
cánh hoa rơi, và lũ lục bình trôi
Em
lặng lẽ với nụ cười diệu vợi
Ôi! Viết về những người
phụ nữ như thế này chẳng bao giờ hết được, vì đó chính là Âu Cơ
thời đại. Những Âu Cơ nguyên thủy, sinh con rồi, lặng lẽ bế con
lên rừng, không cần nhìn lại người đã tặng cho một lũ bầu bì ai
oán đầy trách nhiệm kia, rồi lặng lẽ phát cỏ, dựng lều, căng
võng cho con, cho con bú sữa mà cũng không cần tìm hiểu tại sao
lại có vú sữa. Coi như cây cỏ, nhú mầm rồi thành lá, lá non
thành lá già, rồi rụng xuống âm thầm. Xong! Vũ trụ xoay vần, vũ
trụ cuốn hút con người như những chú thiêu thân, lao đầu vào lửa
cho cháy cánh, rớt xuống xèo xèo, không một tiếng kêu „Trời Ơi!
Cứu tôi với! Nóng Quá!“
Những người phụ nữ như thế
này, ở đâu nhỉ? Quanh ta, ở xứ sở tự do này, có hàng vạn đôi
chân với hàng vạn dáng đi, dáng đứng, nhưng tìm đâu cho thấy
dáng đi tất tả ấy, vừa cứng vừa mềm? Cứng vì nhất định không
chịu dừng lại, mềm vì cơn đói làm muốn lả đi. Dáng đi ấy chỉ có
ở quê hương nước mắt chan hòa, lặng lẽ rơi rồi lặng lẽ khô. Chấp
nhận, chịu đựng cho qua kiếp người. Cần chi những „áo nàng vàng,
anh về yêu hoa cúc; áo nàng xanh, anh mến lá sân trường!“ Nghe
làm chi „bàn tay đưa anh khỏi cuộc đời, một đêm trăng sao hơi
thở tuyệt vời!“ Chuyện cung trăng! Chỉ có trên cung trăng mới có
những người yêu nhau lãng mạn, còn trái đất chỉ toàn những người
thích làm khổ nhau, thích dầy vò nhau cho nhũn nát rồi đạp lên,
thích nhìn người mà mình tàn phá vẫy vùng trong tuyệt vọng. Quê
ơi! Phải vậy không, Quê?
Nào đâu làng tôi với tiếng
sáo diều vi vút? Những cô gánh lúa với cặp mắt tình tứ, ngọt
ngào. Nào đâu những con sông đầy tiếng „Hò ơ! ơ! Nhà Bè nước
chẩy chia hai, Ai dìa Gia Định, Đồng Nai thì dìa?“ Nào đâu thành
phố tôi với những tâm hồn thoải mái yêu thương? Những ngọn đèn
đường làm chứng cho các cuộc tình học trò trong sạch? Quê tôi
bây giờ chỉ toàn là Nguyễn thị Hoài Thanh, kêu hoài mà trời
không thấu. Những bước chân vất vả ngược xuôi, những mánh mung
đổi chác, những thân phận bên lề, mẹ già nhăn nheo ngồi bên mẹt
nước chè lạnh ngắt, nải chuối con con, cục kẹo mà vất đi, chó
nhà giầu không thèm gặm... Quê tôi, bên cạnh những tiếng cười
ròn tan của các công tử, các cô chiêu thời đại thuốc „lắc“, là
một bể nước mắt âm thầm của những con
người-không-được-coi-như-con-người Nguyễn thị Hoài Thanh. Thôi,
em, chỉ có một tiếng ủi an là chờ kiếp sau mới khá, mà kiếp sau
... làm sao chứng minh được nhỉ?
Chu Tất Tiến.
Ý Kiến, Phê bình xin gửi
về :
chutattien@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |