|
Rất
vui khi nhận thư góp ý cuả ông về bài „Dậy Học Trên Đất Mỹ“ mà
tôi viết cách đây không lâu. Vui nhất là thư của ông đến từ Cần
Thơ, một miền đất thân yêu mà chắc trong nhiều năm nữa, tôi chỉ
còn có thể gặp lại trong những giấc mơ mà thôi. Điều vui hơn là
sau khi ông gửi những thắc mắc ấy đến, tôi lại nhận đuợc một lá
thư thứ hai cũng từ một Giáo Sư ở quê nhà. Cả hai lá thư đều đặt
ra vài câu hỏi tuy khác nhau về ý nghĩa của từng câu, nhưng cùng
tương tự ở một mục tiêu là làm thế nào để nâng cao giá trị của
việc giáo dục ở Việt Nam cho kịp với sự phát triển của nền giáo
dục Mỹ, khi mà đa số học sinh Mỹ rất „quậy“, rất thiếu „Tôn Sư,
Trọng Đạo“.
Để có
thể phần nào giải thích những thắc mắc đó, tôi xin được trình
bầy tóm lược một số điểm quan trọng trong việc dậy học ở Mỹ này
để mong những người ở Việt Nam thấy được tại sao học sinh ở Mỹ
này „quậy“ như thế, lại vẫn có rất nhiều nhân tài làm cho nước
Mỹ lúc nào cũng đi đầu trong đại đa số các lãnh vực kinh tế và
khoa học trên toàn thế giới.
1-Học
sinh được đối xử như những Con Người độc lập, không phân biệt
tuổi tác, giới tính, hay xuất thân xã hội. Dù tuổi tác lớn nhỏ,
dù mới học lớp 5 hay lớp 12, dù khỏe mạnh hay tật nguyền, nhân
cách cuả học sinh vẫn được tôn trọng. Trong lớp, các học sinh có
quyền phát biểu mọi ý kiến, kể cả ý kiến chống lại Giáo Viên,
Nhà Trường mà không sợ bị trù dập. Khi có học sinh chất vấn (về
nội dung cuả bài học hay về tư cách cuả giáo viên), nguời dậy
học phải bình tĩnh mà trả lời cho đến khi học trò thông qua mới
thôi. Có những câu hỏi rất xấc xuợc, nhưng Thầy giáo vẫn phải
thản nhiên giải đáp, không coi đó là một sự tấn công cố ý mà tìm
cách trả đũa. Xin đơn cử một thí dụ về truờng hợp cuả tôi. Một
học sinh lớp 12 hỏi tôi một cách chế diễu và kỳ thị: „Ông Thầy,
ở nuớc Việt Nam cuả ông có chữ viết không? Chữ viết cuả nuớc ông
có lăng quăng như mấy con trùng không? Ông viết cho tôi một hàng
chữ xem nó như thế nào?“ Một em gái cũng lớp 12, thuộc loại
„quậy“ nhất trong lớp, kêu tôi lại gần và cho tôi xem hình cuả
đưá con cuả em, mới mấy tháng tuổi, và hỏi: „Thầy thấy con tôi
và tôi đẹp không?“ và „Thầy nhận xét về tôi như thế nào? Có sexy
không?“ Nguời trả lời những câu hỏi đó, nếu mất bình tĩnh sẽ có
thể bị „xu“ (sue), nghĩa là bị kiện ra tòa, nộp phạt, mất bằng,
mất việc...
Với
một số em lớp 11, 12, có thể kiếm cớ đi „toilet“, nhưng ra ngoài
lớp để hôn nhau, Thầy giáo phải tỉnh bơ mà gọi em vào, chứ không
đuợc mắng mỏ. Tại đại học, vài Giáo sư, vì muốn có nhiều sinh
viên theo học lớp mình, phải chấp nhận cho sinh viên vào lớp,
mang theo Hamburger và nuớc, ngồi nhai nhồm nhoàm. Nhiều em sinh
viên vào lớp vẫn đội mũ, có em ngồi gác chân lên bàn phiá truớc,
Thầy cô giáo vẫn phải lờ đi, coi như không thấy. Chỉ những Giáo
sư nổi tiếng, dậy những môn cần thiết, thì mới cảnh cáo khi sinh
viên đội mũ, trò chuyện, hay ăn uống. Sinh viên sợ phải mất
lớp, mất thời gian, nên phải nghe theo ngay.
Thầy,
Cô giáo gọi học sinh bằng tên, thường thì học sinh gọi lại bằng
Thầy giáo (teacher), Ông (Mr.), Bà (Madam), hoặc Ngài (Sir).
Trong một vài trường hợp, học sinh lớp 11, 12 và đại học, khi
thân mật, cũng có thể gọi Thầy Cô giáo bằng tên tục. Thầy trò
đối xử với nhau bình đẳng, nhiều người coi việc dậy học là một
„business“, một việc làm thương mại. Thầy đổi việc dậy học để
lấy thù lao. Không có „Quân, Sư , Phụ“ lỗi thời và lạc hậu. Học
sinh nào thích học thì có tương lai tốt, lười thì ráng chịu,
không ai có áy náy lương tâm. Đối với học sinh lớn tuổi, Thầy Cô
có thể gọi bằng „Mr.“ (Ông) hay „Ms“ (Cô). Không có mắng mỏ,
trừng phạt bằng tay chân. Tuyệt đối, không có nhéo tai, cốc lên
đầu. Với học sinh Trung Học, nếu gặp trường hợp quá đáng thì
thầy yêu cầu trò ra ngoài, hoặc vào báo cáo với hiệu trưởng, để
vị này sẽ gọi trò vào nói chuyện, hoặc nặng hơn, thì gọi bố mẹ
học sinh đến trường. Ở Đại học, nếu „quậy“, mời ra ngoài và cho
con „D“ hay „F“. Thế là xong. Bởi vậy, nếu ở bên Mỹ mà khoe là:
„tôi làm nghề gõ đầu trẻ „, thì có thể bị hiểu lầm và bị cảnh
sát còng tay, dẫn đi. Do đó, học sinh và sinh viên thấy trường
học là nơi thoải mái sinh hoạt, từ đó, đại đa số các em thích
học, và vì thích học, óc sáng tạo các em phát triển tối đa.
2-Học
sinh có quyền tự do chọn lựa môn học mà mình thích. Ở cấp Tiểu
Học, học sinh không biết lựa môn học, nên học đúng theo học
trình. Khi lên Trung Học, học sinh có Tự Do chọn lựa môn học mà
mình thích. Các em có thể sắp xếp giờ nào học môn gì tùy ý. Đến
Đại Học, sinh viên lại còn nhiều Tự Do chọn lựa hơn nữa. Cha Mẹ
và trường học không có quyền bắt học theo chương trình mình
thích. Trong khi chờ sinh viên tìm đúng loại Bằng cấp mà mình
muốn có, họ có thể theo những lớp học chung (genral education)
để tìm hiểu trước, sau đó mới quyết định. Nhà trường lại cho
phép sinh viên tự lựa chương trình học cho riêng mình mà không
phải theo đúng điều kiện của trường đưa ra. Xin thêm một thí dụ
về trường hợp của người viết. Khi mới sang Mỹ, tôi ghi tên học
lại ngay. Đọc chương trình thấy có nhiều môn học mà tôi không
thích, tôi xin gặp Giáo Sư Cố Vấn để thảo luận. Sau khi hỏi về
khả năng của tôi, Giáo sư đề nghị với tôi một loại văn bằng là
„Creative Writing“ (Văn Chương Sáng Tạo) và đưa ra danh sách tất
cả các lớp của trường cho tôi chọn lựa, đa số là thơ, văn, triết
học, chỉ có vài môn khoa học cần thiết. Sau khi tôi lựa xong,
Giáo sư Cố Vấn ghi các lớp đó vào mẫu đơn xin học theo „Thematic
Plan“ (Chương trình học theo chủ đề) và trình lên ông Khoa
Trưởng xin thuận. Được chữ ký của ông Khoa Trưởng, tôi chuyển
qua phòng Học Vụ, nơi đây ghi lại trên „computer“, và tôi cứ
theo các lớp mà tôi thích cho đến khi thi hết, thì trường cấp
Văn bằng. Kết quả là một mình tôi có mảnh bằng „không giống ai“,
không theo trình tự của trường và các môn học đều do tôi lựa
chọn. Sau đó, khi ghi tên học Sư Phạm (Teaching Credentials),
tôi cũng có Tự Do lựa những môn mà mình có nhiều thuận lợi,
không bị bắt buộc phải theo đúng giáo trình của trường. Đó là
một lý do tại sao các sinh viên Mỹ có thể phát triển tối đa khả
năng của mình, và nếu ai có sáng kiến về Khoa Học, nhất định sẽ
vượt lên trên các bạn cùng khóa khác rất xa.
3-Sáng kiến được khuyến khích. Từ Tiểu Học đến Đại Học, Thầy, Cô
giáo có nhiệm vụ hướng dẫn học sinh hiểu bài bằng bất cứ phương
sách nào, có thể cho học sinh xem phim hay đọc báo, đọc sách,
thảo luận, đi đến tận địa điểm có liên hệ đến bài học...để hiểu
rõ những gì mà Thầy, Cô giáo đang giảng dậy. Học sinh Tiểu Học
được đến Sở thú, Viện Bảo Tàng... để nhìn ngắm và làm quen với
thiên nhiên. Sinh Viên học về Cơ thể học được ra sa mạc ban đêm
để tìm hiểu về côn trùng và loài bò sát. Sinh viên học về Địa
Chất được đến thẳng chỗ có lằn nứt để quan sát về động đất, về
núi lửa.... Những buổi khảo sát này được Thầy, Cô giáo tự do bầy
ra, và học sinh có Tự do ghi tên đi hay không đi. Không phải vì
không đi xem thì phải phạt, hoặc bị trừ điểm. Không có „sinh
hoạt dã ngoại“ gì đó như ở Việt Nam, chỉ để vui chơi. Nếu muốn
đi „picnic“, học sinh tự tổ chức lấy, có xe, có bản đồ, có túi
đồ ăn, và có Tự Do, muốn làm gì thì làm. Học sinh có rất nhiều
dịp để gặp gỡ nhau, ăn nhậu, nhẩy nhót. Từ những cuộc bầu cử đại
diện, đến những „party“ chung trong trường, rồi „party“ ở
nhà...Trong khi đó, nhà trường khuyến khích học sinh phát triển
khả năng của mình qua các cuộc thi tài năng, sáng kiến, thi vẽ,
thi đánh vần (Tiểu Học), thi thể dục, thể thao... Các học sinh
tha hồ trình bầy sáng kiến khoa học của mình với Thầy Cô và được
giúp đỡ để hoàn thành sáng kiến đó. Những sáng kiến khoa học đặc
biệt có thể được chính phủ giúp „grant“ để nghiên cứu thêm. Từ
đó, nhân tài được „nhân“ lên gấp bội.
4-Không có chế độ điểm hạnh kiểm, báo cáo, chào cờ, học chính
trị... gò bó tinh thần của học sinh. Không có việc học sinh đi
„giao ban“ vói hiệu trưởng để báo cáo lén, báo cáo láo về Thầy
Cô. (Năm 1982, khi tôi dậy Anh Văn buổi tối tại trường Trung Học
Phú Nhuận, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Dịch Thuật Thành Phố, cứ
mỗi thứ hai, giữa giờ nghỉ, học sinh trưởng lớp đi qua bàn tôi,
gõ gõ vào bàn nói: „Ông Thầy, tui đi giao ban nè! Thầy có điều
gì muốn đệ đạt không?“ Khi bị tôi nạt đùa đi, hắn xuống báo cáo
là tôi dậy sai văn phạm, ông Hiệu Trưởng Đinh văn Đệ, gọi máy
phóng thanh ầm ĩ kêu tôi xuống lầu để sửa sai! Tự ái, tôi bỏ
trường ngay, đi dậy nơi khác.). Ở Mỹ, hễ cứ làm bài được thì
đậu, làm không được bài thì rớt, học lại. Nhận điểm xấu mà không
chấp nhận có thể xin khiếu nại với Thầy, Cô. Còn tư tưởng chính
trị, tư cách của học sinh không phải là căn bản để tính điểm lên
lớp. Học trò quậy phá trong lớp, Thầy Cô báo lên hiệu trưởng, vị
này sẽ cho mời học sinh đó vào văn phòng, giải thích và khuyến
cáo, nếu tái phạm nhiều lần, sẽ bị đuổi học. Nếu ngoan trở lại,
mà làm bài được A,B, hay C thì được học tiếp lên, không ai để ý
theo dõi, trừng phạt, hoặc trả thù... Không có những lớp dậy về
cách làm người, cách cư xử với người khác, chỉ có những lớp dậy
cách chọn tương lai, chọn việc làm (career planning) và những
bản huớng dẫn cách đối xử trong trường học, cách tránh bị tội
„quấy nhiễu tình dục“ (sexual harrassment)... được treo khắp
nơi. Vì cách học ở Mỹ là hiểu bài, không học kiểu con vẹt, nên
dù không có hình phạt về vắng mặt, sinh viên Mỹ vẫn ít dám trốn
học đi chơi. Vắng mặt một buổi có thể mất bài giảng, không hiểu
bài, đến khi thi, làm bài không được thì điểm kém, học lại. Có 5
hạng điểm: A, B, C, D, và F (rớt). C là hạng trung bình. Từ các
hạng này mà suy ra „chỉ số điểm“, Nếu các bài toàn C, thì được
Hai Chấm (2.0). Các cơ sở tuyển người hoặc các trường dậy Tiến
Sĩ, Cao Học, Bác Sĩ nhận người dựa trên số chấm. Cùng tốt nghiệp
như nhau, những người có số điểm gần bốn chấm (4. 00) mới có
việc làm hoặc được vào học Bác sĩ, còn người kia cũng có bằng,
nhưng chỉ có Hai chấm ( 2.00) thì xin chào thua! Sinh viên vì
ngại không có việc làm hoặc không được lên cao, nên ráng học mà
thôi, chứ không ai sợ mất điểm hạnh kiểm cả. Cuối khóa ở Đại
Học, có bản định giá Thầy Cô gửi cho từng sinh viên để họ phê
bình công khai. Từ đó, mà Thầy Cô phải làm hết sức mình, kẻo học
trò phê bình xấu thì có thể mất việc làm.
Tóm
lại, nước Mỹ có nhiều nhân tài là do học sinh được Tự Do, thoải
mái trong việc học, được đối xử bình đẳng, lại được hỗ trợ tối
đa về tài chánh, về phương tiện, nên cho đến thế kỷ này, nước Mỹ
vẫn dẫn đầu về nhiều phương diện khoa học, kỹ thuật, và xã hội.
Biết đến bao giờ Việt Nam yêu dấu của chúng ta mới bắt kịp được
một phần ba, phần tư của họ?
Chu Tất Tiến.
Ý Kiến, Phê bình xin gửi
về :
chutattien@khoahoc.net
Print this site

Trở về Trang Chính |