|
Phần 4A: Xuôi Nam (Huế, Ðèo Hải Vân, Hội An)
Trước khi viết bài này tôi đã phải tốn mất nhiều thì giờ để ngồi
xuống xem và ghi chép lại những diễn biến chính trong phần đối
thoại. Tôi xin nhắc lại, trong phần tường trình (reporting) này,
tôi chỉ ghi lại những gì mà BN và tôi mắt thấy, tai nghe được
trong 3 cái VCD này mà thôi. Vì tính cách riêng tư của gia đình,
tôi không có thể tường trình tất cả các chi tiết của những vị đã
về trong chuyến Gọi Hồn này. Tin hay không tin về đề tài “Gọi
Hồn” là tùy vào cá nhân người đọc và tôi không muốn bàn cãi,
tranh luận về phần này.
http://www.pbase.com/bac_ninh/hue
* * *
Sau khi cô đồng ra về, chúng tôi ăn cơm trưa
và tôi ăn vội để còn xem lại 3 cuộn phim Gọi Hồn mà tôi vừa quay
xong. Tôi ngồi chăm chú nghe đoạn Bà Tổ Cô, bố mẹ tôi và anh tôi
đối thoại với vợ chồng chúng tôi. Tôi đã được người thân kể cho
nghe những chuyện rất riêng tư của gia đình chúng tôi mà các chi
tiết lại rất là chính xác. Bao nhiêu năm trước dây, tôi đã từng
thắc mắc: “Liệu thực sự vong linh Bà Tổ Cô có theo và phù hộ tôi
không hay là người coi Tử Vi cho tôi chỉ nói mò mà thôi”. Ngày
hôm đó, quả thực là vong linh của Bà đã về và Bà đã trả lời
chúng tôi: “Hai con đã thăm mộ Bà, hôm nay Bà về thăm hai con
đây!” Câu trả lời của Bà thật là bất ngờ và rất đúng sự thật vì
tuần trước đó, anh em chúng tôi đã vào từ đường và khấn vái
trước mộ Bà khi chúng tôi về thăm quê bên nội tại Bắc Ninh. Các
câu trả lời của Bà, của bố mẹ tôi, của anh tôi đã là một bằng
chứng hùng hồn là con người có linh hồn và khi một người trên
Cõi Dương “chết” thì chỉ có thân xác họ bị hủy diệt nhưng phần
hồn của họ vẫn còn tồn tại.
Tôi nở một nụ cười và trong đầu, tôi tự nói
với tôi: “Tuyệt vời! Chẳng còn nghi ngờ gì nữa”! Chẳng lẽ những
người Vô Thần còn phủ nhận sự hiện hữu của phần linh hồn hay họ
vẫn còn ngụy biện như thường lệ? Mà tôi còn rất muốn biết thêm
những người không tôn trọng Luật Trời sẽ bị quả báo ra sao, nhất
là những kẻ giết người không tanh tay sẽ phải đối diện ra sao
với linh hồn của những người đã bị chúng giết hại sau khi những
kẻ độc ác này đã chết? Tôi sẽ đi tìm trong những tài liệu của
Tây Phương và Ðông Phương về điều này!
Tôi và chú H. mang ngay 3 cuộn phim này ra
hiệu nhờ họ chuyển sang VCD hay DVD để anh em chúng tôi mỗi
người có một bộ đĩa,
phòng khi cuốn phim bị thất lạc hay bị hỏng.
Buổi tối hôm đó tại nhà chú H, tôi ngồi ngay
ở trong phòng bàn thờ. Tôi ngồi trên ghế, vừa Thiền thở vừa suy
nghĩ về cuộc đời. Tôi thấy đời sống trên Cõi Trần này rất hữu
hạn, đầy tranh chấp, tham, sân, si và tôi liên tưởng đến
cái vô hạn khi tự mình thoát ra khỏi cái “tục lệ hữu hạn của Cõi
Trần” này. Tuy là đang đêm tại Hà Nội nhưng tiếng xe cộ, tiếng
còi xe vẫn không ngừng ồn ào. Chính trong cái “động” này của Hà
Nội mà tôi lại thấy cái “tĩnh” nội tâm của tôi. Tôi chợt ngủ
thiếp đi trong lúc đang ngồi và khi tôi trở về phòng ngủ, cả nhà
ai nấy đều đã đi ngủ hết.
Ngày hôm sau, vợ chồng chúng tôi lấy xe ôm để
tới một văn phòng du lịch đón xe đi thăm phong cảnh Tam Cốc,
Ninh Bình. Tôi chụp vài tấm hình của Ô Quan Chưởng tại Hà Nội mà
âm hưởng còn vang trong đầu tôi sau 50 năm xa cách.
Ðền thờ các vị vua nhà Lê, nhà Ðinh thật
trang nghiêm trong cái tĩnh mịch, đơn giản và an bình của đồng
quê miền Bắc. Ðiều này làm tôi thấy vui mừng vì tôi rất hãi cái
không khí xô bồ đầy tiếng còi inh ỏi và đầy ô nhiễm của Hà Nội.
Nhìn những lá cờ xí đang tung bay trong gió, tôi bỗng liên tưởng
đến những chiến trận đã được mô tả trong văn chương Việt Nam.
Tôi có cảm giác là trong một tiền kiếp nào đó, tôi cũng đã từng
ra chiến trận để lại sau lưng một bà mẹ già, vợ trẻ và con thơ.
Tôi cũng hình dung ra được hình ảnh oai phong của các ông tướng
và các đoàn quân khi đang xông ra chiến trận. Tôi đã sống trên
40 năm trong thế giới Tây Phương và giờ đây không những tôi đang
được trở về với khung cảnh Việt Nam mà tôi còn đang đưọc trở về
với văn hóa và lịch sử Việt Nam nữa. Những cảm nghĩ này, tôi
thấy rất khó có thể mô tả trên giấy bút. Tôi thấy lịm người
trong cái cảm nhận riếng tư này:
“Chàng từ khi vào nơi gió cát,
Ðêm trăng này nghỉ mát nơi nao!”
Chúng tôi bước lên thuyền để đi thăm Tam Cốc.
Cũng có cảnh cây đa bến cũ nhưng “bến đò” đã được xây bằng bê
tông nên trông có vẻ “gồ ghề” (commercial) một phần nào như các
nơi du lịch khác trên thế giới. Cảnh vật thật bao la và yên
tĩnh. Tôi lắng nghe tiếng mái chèo khua nước và thấy khoan khoái
hít thở không khí trong lành. Thật là quý hóa biết bao so với
không khí ô nhiễm đầy khói xe và bụi bậm của Hà Nội. Vợ chồng
chúng tôi ngồi chiêm ngưỡng cảnh thiên nhiên, không quên chỉ cho
nhau những chỗ nào đẹp và thơ mộng. Tôi chụp hình và BN ngồi
quay phim, thật là thoải mái!
Xin mời quý vị vào xem hình ảnh:
http://www.pbase.com/bac_ninh/tam_coc
Trong chuyến về thăm Việt Nam, tôi có thói
quen mỗi ngày ghé vào Internet Cafe để đọc Email của bạn bè,
nhất là một số bạn cũ của tôi đang có mặt ở Việt Nam nhưng tôi
không thấy thoải mái mỗi lần vào Internet Cafe tại Hà Nội. Lý do
chính là vì thời gian đó đang mùa đông nên họ đóng cửa kính kín
mít cho đỡ lạnh. Tôi đã bị đau họng tại Hà Nội vì cái không khí
ô nhiễm của khói xe. Trong Internet Cafe đầy khói thuốc lá, họng
tôi lại càng thấy đau hơn và tôi ho sù sụ. Tôi cũng không chịu
nổi khi nghe tiếng chửi thề của nhiều người xung quanh cho nên
tôi chỉ đọc Email và trả lời rất ngắn gọn rồi tôi bỏ đi ngay.
Sáng sớm hôm Giáng Sinh 2005, chúng tôi lấy
xe taxi lên một khách sạn gần hồ Hoàn Kiếm để cùng “phái đoàn”
lấy xe bus ra phi trường Nội Bài rồi cùng bay vào Huế, bắt đầu
chuyến xuôi Nam. Chuyến bay không mệt nhọc gì mà lại còn
vui nữa vì tôi thấy các khuôn mặt Việt Nam trong phi hành đoàn.
Chỉ khổ mỗi tội là chúng tôi phải chia nhau sắp lại hành lý cho
đúng 25 kí lô cho mỗi người! Cũng may là BN và tôi đã để lại Hà
Nội cả một valise hành lý không còn dùng tới nữa.
Huế đón chúng tôi bằng không khí trong lành
sau một cơn mưa. Vào đến Huế, tôi thấy cái tĩnh của một thành
phố khác xa với Hà Nội: Huế không ồn ào, ít xe cộ và không khí
mát lạnh sau cơn mưa. Tôi cũng không thấy những biểu ngữ “dao to
búa lớn” như ở Hà Nội nữa. Tôi rất dị ứng thấy những sáo ngữ
“trăm voi không được một bát nước sáo”, nói tốt mà không làm
tốt, làm bậy thì lại dấu! Tôi thấy gần gũi với cái không khí an
lành, bàng bạc và những cây cối với mầu xanh tươi mát vì nhiều
mưa của Huế hơn.
Chúng tôi viếng thăm Thành Nội, lăng Tự Ðức,
lăng Minh Mạng, lăng Khải Ðịnh ... Tuy tôi không biết gì về
Phong Thủy nhưng tôi cảm nhận được sự an tĩnh, cái “phần hồn
thăm thẳm” của các địa danh mà tôi đã ghé thăm. Tôi cảm nhận
được cái “hồn sông núi” của nhiều địa danh tại đất Bắc nhưng ở
Huế, tôi cảm nhận được niềm thân thương như tôi đang được trở về
lại với một cõi xa xôi nào đó trong Tiền Kiếp nhất là khi tôi
nhìn những bức tượng, những bức tường xanh rêu, những cây xanh
rờn, những cái hồ tĩnh lặng trong các lăng tẩm.
“Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo!”
http://www.pbase.com/bac_ninh/hue
Tôi sẽ lại ra đi và mang theo những cảm xúc
nhẹ nhàng, bàng bạc mà tôi đang có. Tôi sẽ ngồi trong cái không
khí tĩnh lặng nơi trời Tây Phương để nhớ về quê cha đất tổ đang
vô hình chung đi vào cái động, còn động hơn ở Phương Tây, thật
là ngậm ngùi, xót xa!
“Phái đoàn” chúng tôi lên thuyền đi dọc theo
sông Hương. BN và tôi bắt đầu công việc của hai phó nhòm. Chùa
Thiên Mụ quả là đẹp. Tôi thích nhất cảnh đứng trong chùa Thiên
Mụ nhìn ra sông Hương lúc chiều tà.
Chúng tôi được một người quen dẫn đi thăm các
cháu nhỏ tại 2 trung tâm giữ trẻ và Hội Những Người Mù. Nhìn các
cháu đứng hát ngoài sân rồi vào ngồi ăn trưa mà lòng tôi thấy
chùng xuống với niềm thương cảm. Tội nhất cho những người mù: họ
làm chổi quét nhà rồi tự đem đi bán để lấy tiền sinh sống. Mỗi
nơi chúng tôi đều tặng một số tiền mà bạn bè, họ hàng và cá nhân
chúng tôi đã đóng góp cho công việc từ thiện trước khi chúng tôi
rời Canada để về thăm quê hương Việt Nam.
Chúng tôi đã dự trù cái lộ trình tại Việt Nam
cả mấy tháng trước khi rời Hoa Kỳ và Canada: thuê nguyên cả một
cái xe bus lớn đi từ Huế vào Hội An. Ghé Hội An vài ngày để tham
quan rồi ghé thăm Nha Trang vài ngày. Sau đó vợ chồng chúng tôi
sẽ ghé thăm Mũi Né trong khi “phái đơàn” sẽ đi thẳng về Saigon.
Từ Mũi Né, cặp vợ chồng già sẽ ở lại Thung Lũng Tình Yêu tại Ðà
Lạt hơn một tuần “trăng mật” và sau đó, chúng tôi sẽ đón xe bus
về Saigon “tiễn đưa phái đoàn” về lại Mỹ và Canada. BN và tôi sẽ
cứ tà tà sống ở Saigon một ít lâu: nếu thích thì đi chơi tiếp,
không thích thì ở lỳ tại Saigon để cho tôi có thì giờ kiếm lại
những hình ảnh, những con đường cũ của ngày xa xưa.
Trong chuyến đi xe bus từ Hà Nội về thăm Nam
Ðịnh, tôi đã rút tỉa được thêm kinh nghiệm chụp hình trên xe
bus. Ba ngưòi phó nhòm chúng tôi chia nhau công việc: một người
ngồi trước xe bus chụp thẳng, và một người ngồi bên trái và một
người ngồi bên phải để chúng tôi cố gắng thu được nhiều góc cạnh
trong chuyến đi này. Phía nào mà phong cảnh ngoạn mục là dân phó
nhòm chúng tôi đổ xô ra mà chụp hình lia lịa. Tôi luôn luôn ngồi
ngay bên cạnh cửa kính xe bus, tì máy hình cho chắc vào kính xe
và sẵn sàng chụp hình cho thật đúng lúc, đúng góc cạnh mà tôi dự
đoán. Tôi tắt flash để tránh việc hình ảnh bị lóe sáng. Tuy hình
ảnh không hoàn toàn đẹp được như ý muốn nhưng tôi cũng biết cái
thân phận “ăn mày chớ đòi xôi gấc” trong hoàn cảnh chúng tôi lúc
bấy giờ. Miễn sao là tôi ghi lại được nhiều tấm hình của quê
hương trong những lúc di chuyển - “có còn hơn không” này!-
Trời đang mưa khi chúng tôi rời Huế. Ðối với
tôi, đây là một cơ hội may mắn vì tôi rất muốn nhìn thấy cảnh
đồng ruộng Miền Trung trong cơn mưa và tôi cảm thấy “mát dạ”
được ngắm nhìn thảo mộc xanh tươi.
Chúng tôi ghé thăm một trung tâm du lịch
(resort) tại Lăng Cô để ăn trưa. Trung tâm này nằm ngay trên bờ
biển, phong cảnh khá đẹp nhưng khi tôi thấy một số phòng ốc đang
được xây cất, tôi không muốn để ý tới vì tôi được đào tạo trong
ngành công chánh tại Tây Phương luôn luôn phải quan tâm tới sự
an toàn cho người thợ, người dân nhưng mà hầu như đây là một thứ
xa xỉ phẩm tại nhiều nơi ở Việt Nam! Chúng tôi ra bãi biển để
hít thở không khí trong lành và nghe tiếng sóng biển vỗ vào bờ.
Bãi biển vùng Lăng Cô tuy không đẹp bằng các bãi biển vùng
Caribbean nhưng tôi cảm thấy nó “mặn mà” hơn đối với tôi, chắc
có lẽ tại vì nó thuộc về quê hương của tôi?
Trời lại bắt đầu mưa tiếp. Trong xe bus,
chúng tôi trò chuyện nổ như pháo rang và tôi cảm thấy rất vui vì
trên xe tất cả mọi người, trừ bác tài, đều là những người thân
của tôi. Mọi người trở nên im lặng khi xe bắt đầu đi vào đường
đèo Hải Vân.

http://www.pbase.com/bac_ninh/hai_van_and_hoi_an
Mọi người trong xe đổ xô về hướng bờ biển và
3 anh chàng phó nhòm chúng tôi bấm nút máy hình mệt nghỉ luôn.
Thoạt đầu cái nút bấm hình máy ảnh của tôi nóng lên rồi bung ra
và rớt xuống sàn xe. May mắn thay là tôi kiếm được nó. Tôi lắp
lại nhưng rồi nó lại bung ra, chung quy chỉ tại vì tôi đã bắt nó
làm việc “overtime” quá độ trong những chuyến đi Sapa, Vịnh Hạ
Long, Hà Nội, Bắc Ninh, Sơn Tây, Nam Ðịnh và Huế. Tôi
phải lấy băng keo “masking tape” ra “băng bó” cho nó và cầu trời
cho máy hình “tai qua nạn khỏi” cho tới khi chúng về lại Canada,
nếu không tôi sẽ bỏ lỡ mất quá nhiều cơ hội chụp hình trên những
chặng đường xuôi nam sắp tới!
Xe lên đèo, xuống đèo, đi vòng vèo theo con
đường đồi núi của đèo Hải Vân. Thật là ngoạn mục nhưng cũng có
đôi lúc rất hồi hộp nhất là khi xe đổ dốc quanh đèo dưới cơn
mưa. Cảnh vật mờ mờ, ảo ảo dưới thung lũng trong cơn mưa trông
giống hệt như trong những bức tranh thủy mạc. Lâu lâu tôi thấy
đó đây những cột cây số và nhất là những cái miếu bên đường. Tôi
chợt nhớ lại con đường đèo tại Venezuela mà gia đình chúng tôi
đã đi qua trong cuối thập niên 80. Xe bus đi men theo sườn núi,
lâu lâu tôi cũng thấy mấy cái nhà nhỏ bằng gỗ được đặt tại ven
đường trông chẳng khác gì những cái miếu ở ven đường bên Việt
Nam mình vậy. Tôi thấy họ để hoa trên những cái nhà nhỏ này. Tôi
gạn hỏi cô hướng dẫn viên trong xe bus về lai lịch những “căn
nhà” này và được cô cho biết rằng tại những nơi này đã có tai
nạn xe hơi chết người. Dân địa phương và khách qua đường thường
đặt hoa tại đây để tưởng nhớ đến những người đã tử nạn giao
thông. Hóa ra phong tục tại Việt Nam và Venezuela tuy hai nước
cách xa nhau hàng ngàn dặm mà lại rất giống nhau ở điểm này!
Chúng tôi ghé vào thăm Bảo Tàng Viện tại Ðà
Nẵng để xem di tích của nền văn minh người Chàm. Xe lại chuyển
bánh và chúng tôi ghé thăm một trung tâm làm đồ gốm và đồ bằng
đá. Ðồ gốm Việt Nam rất đẹp và giá cả phải chăng so với thị
trường Bắc Mỹ.
Tới Ngũ Hành Sơn khi trời bắt đầu tối. Nhìn
cảnh vật và những ngôi chùa trong Ngũ Hành Sơn lúc chiều tà, tôi
cảm thấy rất thoải mái và quen quen. Tôi linh cảm thấy trong một
tiền kiếp nào đó, tôi đã từng sống dưới cửa Phật và tôi cảm thấy
một niềm an vui, xa lánh các stress và đời sống “vật lộn” hàng
ngày của những năm tôi còn phải đi dậy tại Canada.
Chúng tôi tới Hội An vào ban đêm. Khách sạn
tương đối sạch sẽ nhưng tất cả mọi người trong “phái đoàn” đều
bị váng đầu vì mùi nước cống nồng nặc xông vào phòng ốc của
khách sạn. Lý do là vì khách sạn không có các ống dẫn mùi sình
ra thẳng bên ngoài khách sạn. Nói chung, rất nhiều các khách sạn
ở Việt Nam chưa được xây cất theo tiêu chuẩn quốc tế, nhất là
trên phương diện khám xét cách xây cất (building inspection).
Khu Phố Cổ Hội An ban đêm với các đèn lồng
trông thật là ấm cúng và lạ mắt. Trong suốt 2 ngày dừng chân tại
Hội An, tôi chỉ thích đi bộ thăm các phố xá, cửa hiệu và các
ngôi nhà cổ tại Khu Phố Cổ mà thôi. Tại đây, rất nhiều cửa hiệu
có thể may quần áo cho du khách trong vòng nửa ngày hay một
ngày. Nhưng theo tôi, quần áo tôi may tại Hội An không đẹp bằng
quần áo tôi may tại Saigon, nhất là cái “coupe” (kiểu và lối
may). Tôi vui thú và rất mê đứng xem nhiều loại đèn lồng đủ mọi
cỡ, mọi kiểu, mọi mầu sắc nên tôi đã “khuân lén” về Canada 2 cái
đèn lồng mà quên mất không xin phép “chính phủ tại gia” (spousal
government). Về tới Canada, tôi không kiếm thấy chúng đâu và tôi
gạn hỏi “chính phủ” thì “hỏi ai, ai cứ hững hờ không thưa”!
Một hôm tôi đi săn hình và shopping tại khu
Phố Cổ. Ðang lúc đói bụng, tôi nhìn thấy một bà đang bán chuối
chiên trên hè phố. Nhìn thấy miếng chuối chiên vàng còn đang bốc
khói, tôi mua 1 miếng và ăn ngay tại chỗ! Trời đất, ngon ơi là
ngon và tôi mua 10 miếng chuối chiên đem về ... “nuôi vợ”! BN và
tôi ăn hết ngay, vừa ăn, vừa tấm tắc khen ngon.
Tôi nhận thấy Sapa và Hội An là hai nơi tại
Việt Nam mà du khách Tây phưong tới thăm rất nhiều. Nhìn thấy
họ, tôi có cảm giác khá lạ lùng: họ là những người Tây Phưong mà
tôi đã từng gặp tại nhiều nơi bên trời Âu Mỹ nhưng họ lại đang
viếng thăm quê hương tôi. Sapa và Hội An thuộc về quê hương cội
nguồn VN của tôi mà tôi có cảm tưởng như là tôi đang sống ở
trong một thành phố Tây Phương vậy vì sự có mặt của rất nhiều du
khách Tây Phương! Gặp các du khách người Úc, đôi khi tôi hứng
chí nói tiếng Anh theo kiểu người người Úc (Aussie‘s English)
cho nó ...” đã” vì tôi cũng đang nhớ lại thời sinh viên của tôi
tại đất Úc! Tôi thấy vui vui vì tôi “ngộ ra” rằng đất nước tôi
đang “lột xác” để hòa mình với thế giới bên ngoài, nhất là thế
giới tự do những mong người dân lành Việt Nam thoát ra khỏi cảnh
nghèo với hy vọng bắt kịp với đà tiến của thế giới bên ngoài.
Xin xem tiếp “Phần 4B“: Xuôi Nam - Ðoạn 2
Ðàm Trung
Phán
April 18,
2007
Mississauga, Canada
Ý kiến, Phê bình xin gửi về :
damtrungphan@khoahoc.net
Print this site

Trở về Trang Chính
|