|
Sáng nay, khi thức
dậy, tôi chợt thấy lành lạnh. Cái lạnh từ ngọn gió
thổi qua cửa sổ
vào nhà. Dụi mắt, nhìn cái hàn thử biểu thấy 12 độ C, tôi thầm
nghĩ:
-
Nàng Thu
thực sự đến rồi!
Tôi
định bụng sẽ ra khỏi nhà ngay để đi bộ ra cái park gần nhà với ý
định vừa tập thể dục và vừa để chụp hình lá vàng rồi “ngồi trên
ghế gỗ công viên” mà viết bài .
Tôi
muốn tránh những cú phôn, tôi cũng muốn tạm lánh cái computer để
mà được thực sự đối diện với con người tôi và lật trang nhật ký
dĩ vãng cuộc đời để tìm kiếm lại những hình ảnh về cha tôi và
những cảm xúc đã từng làm tôi vui buồn lẫn lộn trong nhiều năm
qua.
Nhiều
người xung quanh thường có bà mẹ già sống ở một nơi chốn xa xôi
để mà thương, mà nhớ. Riêng tôi, tôi không có cái “may mắn” đó
vì anh chị em chúng tôi đã phải mất mẹ từ lâu lắm rồi, khi chúng
tôi còn nhỏ dại . Mất mẹ, ba anh em trai nhỏ tuổi nhất trong gia
đình chúng tôi sống với bố. Chúng tôi được cụ dậy dỗ trong tinh
thần Khổng giáo. Nhưng cảnh “gà trống nuôi con” cũng có những
cái thiếu sót của nó: ba anh em chúng tôi và ngay cả thân phụ
chúng tôi có nhiều lúc thấy trống vắng nội tâm. Ðiều này, khi
chúng tôi còn nhỏ, cụ không hề nói ra, chỉ khi tất cả các anh
chị em tôi đã có gia đình, lâu lâu cụ mới “tiết lộ” cho chúng
tôi hay:
- Ta
sống đủ rồi, tất cả các anh chị em tụi bay đã khôn lớn và có gia
đình. Ta sống cũng bằng thừa, xin ông Trời cho ta được đi sớm,
thế là vui rồi!
Ðã
nhiều lần, tôi đã định viết một bài về thân phụ chúng tôi, nhưng
cứ mỗi lần đặt bút xuống, tự nhiên tôi thấy rất khó viết vì tôi
đã được cụ dậy bảo là sống phải nghiêm túc, cứng cỏi và không để
lộ phần tình cảm. Tôi bàn với anh Ðàm Trung Pháp, anh ruột của
tôi là tôi “có nên viết về Cụ” hay không, anh ấy góp ý liền:
- Thì
Phán cứ viết đi, anh sẽ viết thêm những phần nào Phán viết còn
thiếu. Hai đứa tụi mình viết dùm cho tất cả các anh chị em mình
để tưởng nhớ về cụ, OK?
Hôm
nay, tôi “phá lệ” và viết đại vì biết đâu đấy, ngày mai, vì một
lý lẽ gì, tôi không còn có thể viết ra được, thì sao? Và nếu mai
này, tôi không còn khả năng viết lách và nhớ lại những gì mà tôi
muốn viết, tôi sẽ hối hận là tôi chưa có cơ hội viết ra những gì
mà các anh chị em chúng tôi vẫn hằng tưởng nhớ và hay nhắc nhau
về cụ .
Bạn bè
cùng trang lứa với tôi, cả nam lẫn nữ, thường hay nói với nhau:
-
Bọn mình
thuộc vào “thế hệ sandwich”!
Có nghĩa là thế hệ của chúng tôi bị kẹp giữa
hai thế hệ cha mẹ và thế hệ con cái. Thế hệ chúng tôi đã bị đảo
lộn giữa hai nền văn hóa Ðông và Tây. Hai thế hệ này thật là
khác biệt và đôi lúc cũng rất khác biệt với thế hệ của chúng tôi
nữa, ấy vậy mà thế hệ chúng tôi phải đóng vai của “thế hệ sen
kẽ” để móc nối thế hệ ông bà và thế hệ con cháu với nhau.
Những lúc tĩnh lặng, một mình trong đêm khuya
hay khi đi bộ dọc theo bờ hồ, ngoài park, nghĩ về thế hệ cha mẹ
của chúng tôi, tôi chỉ thấy thương cảm mà thôi. Cha tôi “sinh
bất phùng thời” và mẹ tôi đã luôn luôn phải đầu tắt mặt tối và
lo âu. Hoàn cảnh gia đình của ông nội tôi đã không thể giúp cha
tôi được đi học như ý muốn. Theo Nho học thì đã lỗi thời, theo
Tây học và chữ quốc ngữ thì đã “hơi già”. Cụ phải tự học để trở
thành một ông giáo trường làng tại Phúc Yên, Bắc Việt. Tuy chỉ
tự học trong vài năm thôi, tiếng Pháp của cụ vững lắm, nhất là
về văn viết. Cụ dậy học rất nghiêm trang và kỹ lưỡng, học trò ai
cũng kính phục. Quê nội tôi tại Bắc Ninh nên cha tôi phải đạp
xe đạp đi đi về về, mỗi tuần ít nhất một lần, giữa Bắc Ninh và
Phúc Yên, có khi phải đi ban đêm nữa. Mẹ tôi ở nhà tại Bắc Ninh
để thuê người làm ruộng và chăm nom đàn con còn nhỏ dại.
Cha tôi có rất nhiều sách chữ Nho, chữ Nôm,
chữ Tây, chữ Quốc ngữ. Thuở còn bé tí teo, thú vui của tôi là
lấy sách chữ Nho của bố ra làm đồ chơi vì tôi thích lấy ra và bỏ
vào những tờ lá khô được ép giữa các trang sách. Cha tôi chỉ vui
vẻ nhìn tôi và không hề la mắng tôi. Tôi cũng rất thích dở các
sách chữ Tây ra để mà xem hình, chữ nghĩa lúc đó thì chưa biết
một tí gì! Nạn lụt năm Ất Dậu 1945 đã làm hư hại nhiều sách của
cụ và cụ đã phải tốn nhiều thì giờ để “chữa” cho từng cuốn sách.
Cha tôi lập gia đình sớm, và vài năm sau khi
có con trai đầu lòng thì cha
tôi góa vợ. Cha tôi “đi bước nữa” khi lấy mẹ
tôi, và hai cụ có thêm bốn trai và một gái. Anh cả của chúng tôi
được gửi lên Hà Nội để học trường Bưởi và được hai cụ cưới vợ
cho theo phong tục Việt Nam. Chị gái duy nhất của chúng tôi,
cũng theo phong tục Việt Nam hồi bấy giờ, không được cha mẹ cho
đi học lên cao và bắt buộc phải ở nhà để trông nom các em trai
và công việc đồng áng. Tới tuổi khôn lớn, các em trai của chị
rất thương cảm vì chị sinh vào thời buổi và xã hội với quan niệm
“cho con gái đi học để chúng viết thư cho trai và về làm dâu
người ta, phí của!”
Khi anh em trai chúng tôi còn trẻ, nhiều lần,
chị tức khí và la chúng tôi:
- Chỉ
vì tụi mày mà tao phải ở nhà và không được đi học!
Tôi “hứng trí” trả lời chị:
-
Ði học để
chị viết thư cho trai ấy à!
Nói xong, tôi chạy cho lẹ, nhưng nếu lỡ mà
chị tóm được thì cuõng chỉ ăn vài cái củng đầu mà thôi! Bây giờ,
chúng tôi đã ở tuổi có con, có cháu, mỗi khi nhắc đên truyện
xưa, tích cũ, chúng tôi , nhất là chị chỉ bò lăn ra mà cười với
nhau cho … huề cả làng .
Sau khi em trai út của chúng tôi sinh ra được
ít lâu, chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp lan tràn đến làng quê
của gia đình chúng tôi tại Bắc Ninh, và cha tôi phải mang anh
chị em chúng tôi chạy loạn trên Thái Nguyên. Mẹ tôi và em út
phải ở lại nhà vì sức khỏe không cho phép. Chạy loạn thì phải
chạy ban đêm vì ban ngày, máy bay của Tây trong thấy sẽ bắn
chết. Tôi rất buồn ngủ và đói bụng và nhiều lúc ngỗ nghịch tôi
đã chu chéo lên:
-
Con không
thèm đi chạy loạn nữa đâu, Bố ơi!
Tội nghiệp, thế là cha tôi phải cõng tôi mà
đi, nếu không cả gia đình chạy loạn sẽ bị nguỵ đến tính mạng.
Bây giờ, mỗi khi nhớ lại chuyên xưa, tôi thấy thương cha mẹ tôi
vô cùng. Những hình ảnh và tình cảm này vẫn còn được “stored”
trong cái “memory card” của đầu óc tôi:
Tôi vẫn trôi theo
giòng ñịnh mệnh,
Hàng triệu người, sao
chỉ thấy mình tôi?
Tôi sinh ra giữa lúc
bom đạn ngang trời,
Người nằm xuống vì bom
rơi, vì nạn đói!
Những đêm tối, theo
Cha tôi đi chạy loạn
Mẹ ở lại nhà vì vướng
bận em thơ.
Buổi tối đói, tôi mong
mỏi đợi chờ
Hình bóng Mẹ và im lìm
tiếng súng.
Sau lúc tản cư này, chính tay cụ đã viết chữ
bằng bút chì và hai anh em chúng tôi (Pháp, Phán) phải “đồ” (tô)
lại bằng bút mực cho đúng nét chữ. Chúng tôi phải viết đâu ra
đó, nếu không sẽ bị “thước kẻ đánh vào tay!” Ngoài môn toán đố,
cụ còn dậy kèm chúng tôi môn Pháp văn, cụ bắt đọc to và thật rõ
từng chữ một. Những năm về sau, khi toàn gia đình chúng tôi đã
được đoàn tụ tại Hà Nội, cụ thường đọc dictée cho hai anh em
chúng tôi viết.
Gia đình chúng tôi được thực sự sống quây
quần hạnh phúc tại Hà Nội từ 1952 đến 1954. Di cư vào trong Nam,
cha mẹ tôi hầu như tay trắng vì tất cả nhà cửa, ruộng vườn đã
để lại ngoài Bắc hết. Năm 1955, thân mẫu của chúng tôi đột ngột
qua đời tại Saigon khi mới 50 tuổi. Anh cả của chúng tôi đã có
gia đình và ra ở riêng từ lâu. Chị lớn của chúng tôi phải đi làm
tại lục tỉnh để kiếm tiền phụ giúp cho Cụ. Anh thứ của chúng tôi
được học bổng học Nông Lâm Mục tại Bảo Lộc. Cha tôi bắt buộc
phải trở thành “gà trống nuôi con” chăm nom cho ba anh em trai
út chúng tôi tại Saigon.
Sau khi thân phụ chúng tôi không còn dậy tại
trường Tiểu học Phú Nhuận nữa, cụ được mời dậy Hán văn tại
trường Trung học Gia Long vào năm 1957 cũng như dịch sách chữ
Hán sang chữ quốc ngữ cho Sở Tu Thư thuộc Bộ Giáo Dục trong
những năm kế tiếp. Cụ luôn luôn mặc quần áo ta rất chỉ tề mỗi
khi đi dậy học hay khi ra phố. Mỗi buổi tối, sau khi ăn cơm
xong, cụ huấn luyện cho ba anh em trai chúng tôi ngồi xuống bàn
mà học và Cụ thường kèm thêm Pháp văn và Việt văn cho chúng tôi.
Cụ còn thuê thợ đóng một cái bảng đen thật dài để cho chúng tôi
giải những bài toán và vẽ hình.
Trong thâm tâm, cụ luôn luôn mong ước cho các
con cháu của cụ biết trọng sự học, phải học hành cho đến nơi đến
chốn, vaø nhất là phải biết trọng luân thường, đạo lý.
Mấy năm trước đây, một chị bạn của chúng tôi
ngày xưa học trường Gia Long đã cho tôi xem một bức hình chụp
chung của các giáo sư dậy trong trường Gia Long hồi cuối thập
niên 50. Trong hình, tôi nhận ra ngay một giáo sư khăn đóng, áo
dài: vị này chính là cố giáo sư Ðàm Duy Tạo, thân phụ của chúng
tôi! Tôi thấy bàng hoàng và sững sờ: cả một thời “hoa bướm ngày
xưa” hiện ra trước mắt! Hồi đó một số nữ sinh Gia Long đã hay
đến thăm ông thầy dậy môn Hán văn tại căn nhà chúng tôi. Cỡ tuổi
của họ và của tôi cũng chỉ “xêm xêm” với nhau mà thôi! Tự nhiên
tôi thấy tôi trở về với căn nhà của gia đình chúng tôi tại đường
Yên Ðổ với cái bảng đen rất dài trong phòng ngoài và thân phụ
chúng tôi đang ngồi đọc “chữ Tây” hay chữ Nho. Thế rồi anh Pháp
và tôi đi du học, căn nhà nay chỉ còn có cha tôi sống lủi thủi
với chú em út mới vừa lên trung học. Những hình ảnh này không
làm sao tôi quên được, để rồi sau khi tôi đã 50 tuổi, trong lúc
ngồi chấm bài trước bàn thờ của cha mẹ chúng tôi, tôi đã ghi lại
những giòng thơ dưới đây:
Con còn nhớ …
Năm con mười ba tuổi
Một đêm Trung Thu
Bất
thần Mẹ ra đi vĩnh cửu
Bố gánh chịu thân gà
trống nuôi con!
Mười chín tuổi, con ra đi
Máy bay cất cánh
Bố ở lại ...
Bạn đời với văn chương
chữ nghĩa,
Bần thần thương nhớ
con trai.
Vì tương lai, sự
nghiệp
Hay vì con vướng mộng
giang hồ?
Cụ không hề tục huyền. Sau khi anh Pháp và
tôi đã xuất ngoại, Cụ chỉ ước nguyện còn được sống thêm vài năm
để trông nom cho chú em út của chúng tôi tốt nghiệp đ ại học,
thế là Cụ mãn nguyện lắm rồi!
Cụ viết thư đều đặn cho tôi và có một lần, Cụ
đã viết cho tôi: “Nếu Bố giầu có, Bố đâu muốn để hai đứa phải đi
du học xa nhà vì Bố nhớ hai đứa lắm!” Ðêm hôm đó, tôi lang thang
ra bờ biển ngắm về phương trời quê hương xa vời vợi nơi nào để
nhớ về cha tôi.
Năm 1965, tôi được chính phủ Úc cho vé máy
bay về thăm gia đình nhưng chính thân phụ tôi đã gửi điện tín
sang khuyên tôi không nên về vì cụ sợ tôi sẽ bị kẹt lại Việt Nam
vì những “coups d’etat” bất tử. Sau biến cố Mậu Thân 1968, cụ
cũng đã khuyên tôi nên ở lại ngoại quốc mặc dù cụ cũng rất muốn
gặp lại tôi.
Rồi tôi đi biền biệt sang lập nghiệp tại
Canada và không còn hy vọng gì để gặp lại cha già và các anh chị
em của tôi nữa. Tới tuổi “tri thiên mệnh” tôi mới thấu hiểu được
những cái nhọc nhằn, đơn độc của kiếp “gà trống nuôi con” và
những hy sinh gan dạ của cụ chỉ vì cụ thực sự mong mỏi cho tôi
được sống an lành tại ngoại quốc trong khi đó hàng ngày cụ vẫn
mong thư của tôi gửi về:
Cuộc đời ra sao?
Con
đi vào một thế giới khác
Không người thân bên
cạnh.
Bố ở nhà canh cánh
mong con!
Đời thiếu vuông tròn!
Trong niềm đau thương của đất nước, tôi gặp
lại được cha già, anh em trong lúc mất nước nhà tan vào hồi
tháng Sáu, 1975. Lúc này, cụ đã gần 80 tuổi. Hồi nhỏ, tôi không
hề thấy cha tôi khóc, nhưng lần này, cụ đã thật sự khóc, khóc
thương đất nước rơi vào tay cộng sản, khóc thương cho các con
cháu của cụ còn kẹt lại bên Việt Nam .
Sau khi các anh chị em chúng tôi đã được sống
ổn định tại Hoa Kỳ và Canada, cụ đã mừng rỡ thấy anh Pháp và tôi
trở thành hai nhà giáo theo truyền thống của gia đình họ nội. Cụ
thường hỏi thăm tôi về công việc nhà trường của tôi. Cụ chẳng
đòi hỏi gì, có chăng chỉ là:
-
Nếu có thể
được, nhớ mua cho Bố mấy cuốn sách chữ Hán và nhất là cuốn tự vị
chữ Hán và tiếng Pháp, nghe con!
Tôi lên phố Tầu mua biếu cụ một bộ tự điển
chữ Hán sau khi cụ đã viết tên bằng chữ Hán cho tôi. Có lần tôi
phải đợi họ đặt mua từ bên Hồng Kông dùm cho cụ. Có một lần tôi
thấy một cuốn báo chữ Tầu có nhiều hình ảnh đẹp, tôi hí hửng mua
về tặng cụ với niềm vui thú như ngày xưa tôi đã “mong mẹ về chợ”
để có quà vậy! Ngày hôm sau, cụ tặc lưỡi và nói với tôi:
-
Người Tầu
bây giờ họ “lãng mạn“ thật! Ai lại trai gái mới quen nhau mà
chưa chi đã nhẩy lên giường liền! Thật chẳng còn có cái lễ nghĩa
gì cả!
Tôi phải quay mặt ra chỗ khác mà phì cười.
Chẳng qua chỉ là tại tôi không biết chữ Hán mà vớ đại ngay một
cuốn báo “porno” của dân Hoàng Kông!
Khi cụ đã gần cửu
tuần, sức khỏe sa sút, anh Pháp tôi từ Texas lên thăm cụ tại
Montreal, Canada. Anh tôi có xin cụ một đôi câu đối để treo
trong phòng làm việc. Cụ vui vẻ tự mài mực Tầu, cắt hai miếng
giấy đỏ dài, miệng lẩm bẩm những lời sắp viết. Tay trái cầm kính
“lúp” và tay phải cụ xoay xoay ngọn bút lông ưng ý nhất. Cụ viết
chậm lắm và nét bút đã run nhiều. Cụ viết cho anh tôi đôi câu
đối lấy từ một bài thơ của Trình Hiệu đời nhà Tống:
Vạn vật tĩnh quan giai
tự đắc
Tứ thời giai hứng dữ
nhân đồng
ý nghĩa rất hiền hòa, nhân ái : hãy bình thản
quan sát để mà thấy mọi vật đều tự đâu vào đó, và trong khắp bốn
mùa hãy tìm hứng thú mà giao hảo với tha nhân. Ðó cũng chính là
lối sống trong suốt cuộc đời của cụ, một nhà nho can đảm, bình
thản đã chấp nhận cuộc đời mà mệnh Trời đã định.
Giờ đây, tuy thân xác của cụ không còn nữa
nhưng cụ vẫn còn sống ngay trên các ngón tay của chúng tôi:
những giòng chữ viết của tất cả các anh chị em chúng tôi đều từa
tựa giống như chữ cụ đã viết vì chính cụ đã đích thân viết bằng
bút chì để cho chúng tôi đồ lại khi anh chị em chúng tôi mới tập
viết chữ! Cụ đã không để lại cho chúng tôi tiền bạc nhưng cái di
sản quý báu nhất của Cụ để lại cho anh chị em chúng tôi và cháu,
chắt của cụ, đó là chúng tôi sống thuận hòa với nhau, trọng sự
hiếu nghĩa, trọng sự học hành cho đến nơi đến chốn và cố gắng
làm sao sống cho hợp với đạo làm người.
Lâu lâu, tôi vẫn thường gặp cụ trong những
giấc mơ. Cụ trông tuy rất già nhưng vẫn còn khỏe mạnh. Khi tôi
gặp khó khăn trong những giấc mơ, cụ luôn luôn tự nhiên xuất
hiện bên cạnh tôi như để chia sẻ và giúp đỡ cho tôi qua khỏi
những giây phút căng thẳng trong ñôøi sống. Cụ sống trong tâm
tưởng của tôi và tôi thấy rất nhẹ nhàng và thương yêu mỗi lần
tôi nghĩ tới cụ.
Ðàm Trung Phán
Tháng Chín, 2004
Toronto, Canada
Ý kiến, Phê bình xin gửi về :
damtrungphan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|