|
Tôi
đang ngồi trong balcony của căn phòng chúng tôi tại khu nghỉ mát
Decameron, Panama khi tôi bắt đầu ghi chép những dòng chữ này.
Trước mặt balcony là bãi biển và
Pacific Ocean. Sáng nay tôi thức dậy sớm, lúc trời còn tờ mờ
sáng trong cái làn hơi sương , và bắt đầu tập Dịch Cân Kinh, sau
đó ngồi Thiền Thở. Thấy đời thanh thản lạ thường và thay vì đi
tản bộ dọc theo bờ biển, tôi lấy giấy bút ra ghi chép lại chuyến
viễn du miền Trung Mỹ này.
Hotel Decameron tọa lạc trên một
ngọn đồi chạy dọc theo bờ biển, có tất cả 600 phòng ngủ. Từ
Panama City, xe bus phải chạy khoảng 2 tiếng mới tới được Hotel,
địa danh mang tên Playa Blanca Farallón, một nơi nổi tiếng về
phong cảnh hữu tình và khí hậu tốt.
1.
Hai tuần lễ trước khi viễn du, Lãng
Xẹt tôi bận bù đầu cho hai cái projects phải làm cho xong mà
dead line lại là 2 ngày trước khi ra đi. Lại bị cái màn bắp thịt
lưng bên phải đau cứng vì stress mỗi khi có những dead line mà
thì giờ lại không có nhiều để làm cho xong công việc. Nhưng kỳ
này, Xẹt tôi “khôn” hơn: hễ cứ sờ chỗ bắp thịt nào đau, bèn bóp
và ấn mạnh chỗ đó nhiều lần rồi bỏ đi bách bộ cho quên cái dead
line! Lạ lùng thay: sau khi hoàn tất công việc, cái đau của bắp
thịt cũng đi luôn! Tôi sắp xếp hành lý trong niềm vui thú.
Sáng sớm ngày thứ bẩy 31/7/2004,
con chúng tôi lái xe đưa Lãng Xẹt và Bà Cai ra phi trường
Pearson International để “check in” và gặp 22 nhân vật khác
trong cái “Mission Possible” này. Vì vấn đề cẩn mật, Xet tôi chỉ
xin giới thiệu các “code names” mà thôi; các code names đi theo
cặp, ai mà đi xé lẻ một mình, đựợc gọi là “Cô” hay “Cậu” :
Alpha, Beta (aka Lãng Xẹt), Gamma, Delta, Epsilon, New (cũ rồi,
chẳng mới gì hết đâu!), Mew ( không phải là dân Mèo Mướp, khổ
lắm, đã nói rồi mà lị!) , Pi ( Pai = Cái bánh ngọt mà thiếu chữ
e), Theta (đến từ California), Cô Ella, Cô Scarborough Fair,
Doremi (mang theo cây đàn Guitar), Language (phiên dịch từ chữ
Lãng Nguýt, aka Hà Bá đến từ Montreal). Kiểm điểm lại, đúng là
24 mạng cả thấy, OK, không thiếu một mạng nào! Lãng Xẹt tôi xin
kể tiếp.
Sau khi đã làm xong tất cả các thủ
tục check in và điền xong đơn từ để nhập cảnh Panama, các code
names nữ bắt đầu trao đổi món ăn lót lòng với nhau: nào là bánh
khúc, bánh bao, nào là bắp luộc và kẹo đậu phụng. Xẹt tôi ngồi
rung đùi vui vẻ vì thấy mình đang sống giống y chang như lời một
ông thầy tử vi tướng số đã tiên đoán cuộc đời Lãng Xẹt:
- Tôi thấy anh được các bà, các cô
và thức ăn vây quanh anh rất là kỹ càng!
Hóa ra “thân cư thê” là như thế, mà
có lẽ đây là cái ngôi sao sáng giá nhất trong cái lá Tử Vi của
Xẹt (không có vợ thì chỉ có màn …mì gói, chẳng nên cơm cháo gì).
Thế là cả bọn hết cả lo đói bụng nếu mà hãng máy bay “quên”
không cho “Mission Possible” ăn trưa! Beta Lãng Xẹt bèn lấy
Digital Camera chụp vài “bô” làm kỷ niệm.
2.
Máy bay Boeing 737 đầy người, hết
cả chỗ ngồi và tương đối “nhỏ con”. Chỉ có 2 cái toilets, một
cái đằng trước, một cái đằng sau cho cả nam lẫn nữ và lối đi rất
là hẹp. Nếu chẳng may gặp một ông tây, bà đầm nào đang đi tới,
“quân ta” phải dén người vào giữa hai hàng ghế mới có thể tránh
họ được. Bay được một tiếng, Beta thấy lỗ mũi bên phải bắt đầu
bị tắc nghẽn, sau đó là “thò lò mũi xanh”: Welcome to my
Allergy! Lý do chắc là vì hơi lạnh của hệ thống điều hòa không
khí đang tới tấp tấn công hệ thống hô hấp của Lãng Xẹt Bèn lôi
Tylenol ra uống một viên để tránh cái vụ “củm cám”, cảm cúm mất
vui trong “Bẩy Ngày Ngà Ngọc”! Sau 5 giờ bay, chúng tôi tới phi
trường Panama City.
Phi trường này không đông đúc như
các phi trường của Bắc Mỹ nên máy bay không cần phải chờ đợi khi
vào phi đạo. Các thủ tục giấy tờ nhập cảnh cũng rất là mau lẹ,
chẳng bù với những lần đợi chờ tại các phi trường ở Bắc Mỹ .
Hãng Du Lịch Decameron ra đón ngay
tại phi trường với tấm bảng Decameron to chình ình. Du khách
theo các tour guide đi ra 3 cái xe bus đang chờ ở ngoài
Terminal. Ðiều làm tôi ngỡ ngàng là cái kính tôi đang đeo bị mờ
ngay sau khi ra khỏi cái Terminal Building, trái ngược lại những
lần tôi bước từ ngoài vào trong nhà ở Canada trong những tháng
mùa đông (kính mắt đang lạnh sẽ làm đọng nước khi gặp hơi nước
ấm trong môi trường ấm áp, nóng nực).
Ngồi trên xe Bus, tôi thấy thảo mộc
xanh tươi mát, đúng là thảo mộc của miền nhiệt đới nhiều nắng và
mưa nhiều. Tôi thấy biết bao nhiêu là cây soài hoang mọc bên
đường. Tôi còn thấy nhiều cây có quả đỏ, mấy hôm sau tôi mới
biết đây là những cây chôm chôm Trung Mỹ. Tôi cũng chợt thấy hai
bụi hoa Antigone, loại hoa mà tôi đã thường thấy tại quê tôi
thuộc xứ Bắc của một thời rất xa xôi hồi còn bé. Ngoài ra còn có
các hoa và thảo mộc khác mà tôi chưa từng thấy. Rất tiếc là xe
đi quá nhanh nên tôi không chụp được một tấm hình nào.
3.
Khi xe tới khách sạn lúc trời chập
tối, ai nấy đều thấy thấm mệt vì xe bus không có êm như xe bus
tại Bắc Mỹ. Tôi lại chưa quen với cái oi bức và “humidity” của
miền nhiệt đới nên cảm thấy khó chịu trong người. Chúng tôi được
nhân viên của Hotel Decameron ra đón rất ân cần. Mỗi người được
mời một ly nước ổi thật là tuyệt vời, sau đó chúng tôi được chỉ
dẫn lên phòng của từng người và hẹn nhau đi ăn ở đâu.
Hóa ra tại ngay phi trường, mỗi cặp
chúng tôi đã được phát 3 cái “tags” để buộc vào valises. Trên
cái “tag” đã ghi số phòng và các “tags” này sẽ còn là những tín
hiệu để hãng du lịch Nolitour World mang thẳng hành lý của chúng
tôi ra phi trường trên đường về lại Toronto để chúng tôi không
phải bận tâm về hành lý.
Sau khi hành lý đã được mang đến
tận phòng, tôi tắm rửa và thay quần áo cho thoải mái; cái mệt
nhọc hầu như đã biến đi đâu mất rồi! Tất cả mọi người trong
“Mission Possible” gặp nhau tại phòng ăn Atlantis, nơi “chuyên
trị” Buffet: khách tự đi lấy đồ ăn nhưng chỗ ngồi có khăn bàn,
khăn ăn bằng vải đỏ và waiters / waitresses mang nước ngọt, rượu
và cà phê hay trà cho khách. Tương đối, các món ăn, đồ tráng
miệng và hoa quả cũng tương tự như trong các Buffet Restaurants
tại Dominican Republic, Venezuela, Bahamas nhưng về phẩm chất,
tôi thấy nơi này thua các nơi “nghỉ nóng” kia . Ðặc biệt là tại
các vùng Trung Mỹ và Nam Mỹ mà tôi đã thăm viếng, món Fish Soup
thì tuyệt trần đời, nhất là ở Venezuela, họ nấu Fish Soup với Cá
biển, Chuối (Plantain), Khoai Sọ … tôi ăn hoài mà vẫn không thấy
chán. Một chút gì khá giống hương vị quê nhà!
4.
Hotel Decameron có tất cả 3 phòng
ăn Buffets và 6 phòng ăn theo kiểu “à la carte” chuyên nấu đồ
biển, đồ ăn Thái , đồ ăn miền Ðịa Trung Hải , đồ ăn Ý , Steak
House và đồ ăn Nhật. Ngoài ra, còn có hai cái Snack Houses cho
những ai đi chơi xa không về kịp để ăn Lunch hay Dinner, mở cửa
từ 2 giờ trưa đến 5 giờ chiều và từ 11 giờ đêm tới 2 giờ sáng,
theo thói “ăn chơi” của du khách đi nghỉ hè .
Rút từ kinh nghiệm của những lần đi
chơi kỳ trước, trong 6 tối còn lại của “ 7 ngày ngà ngọc”, các
code names đã ghi tên để mỗi đêm tất cả mọi người cùng đi ăn
theo lối “à la carte”. Tới phòng ăn, các cô hostesses ra chào
đón chúng tôi và đưa chúng tôi ngồi vào bàn. Họ đưa thực đơn để
khách chọn món ăn. Trong khi chờ đợi, khách tự ý đi lấy soup và
salad. Waiters và waitresses mang nước lạnh, nước trái cây và
rượu đến mời khách. Món ăn Nhật thật là dở, món Thái rất là đặc
biệt và khoái khẩu, Bouillabesse của Pháp thì chẳng có gì là đặc
sắc cho lắm. Giá có món Phở và Rau muống sào, chắc “quân ta” sẽ
hỉ hả hơn!
Cái tiện lợi khi mua vé “package
tour” là chúng tôi được bao tất cả mọi thứ nên chúng tôi chẳng
phải mang theo túi tiền mỗi khi ăn, uống. Không gì sướng bằng
khi trời đang nóng chẩy mỡ mà chạy ngay ra cái bar rượu bên cạnh
hồ bơi để uống một ly nước cam hay ly bia. Thường thì tôi nốc
luôn một lúc 2 ly nước cam, mới thấy giải nhiệt và xuống hồ tắm
bơi tiếp.
Tắm biển ở nơi này khá nguy hiểm.
Họ đã báo động là khi nào bãi biển cắm cờ đỏ, mình không nên
xuống biển tắm vì sóng biển có thể cuốn người ra ngoài khơi. Một
cặp suýt chết chìm vì bị sóng kéo ra khơi, may mà người Life
Guard cứu họ kịp thời. Thật là hú vía. Có một lần, tôi đã bị
sóng biển tại Bondi Beach ở Sydney cắm đầu tôi vào cát, may mà
Xẹt tôi lấy tay tự đào cát kíu lấy mình, từ đó, tôi thấy ớn
xương sườn mỗi khi thấy sóng to ập vào bờ và kéo người ra khơi
“đi chơi” với sóng!
5.
Sáng sớm nay, ngày thứ năm của tuần
lễ đi nghỉ hè, trời bỗng nhiên ập xuống một trận mưa hè. Tôi
ngưng viết để đi ăn sáng cùng với mọi người. Vì trời mưa, một số
“code names” thuê xe đi thăm viếng kênh đào Panama, một số không
biết làm gì bèn rủ nhau vào “gym” tập Thể Dục, một số về phòng
đọc sách hay coi TV. Xẹt tôi “gửi” Bà Cai đi “gym” rồi trở về
phòng và ra balcony nghe mưa rơi trên lá. Phòng của chúng tôi ở
lầu 3, phía trước của cửa phòng là một bụi chuối, phía sau phòng
là balcony. Ngay trước balcony là một cây dừa và một cây soài
rất to có rất nhiều chim.
Thảo mộc được nước mưa tắm gội
trông tươi mát hẳn lên. Tôi đã từng được nghe mưa rơi lộp độp
trên lá trong những chuyến đi chơi lần trước, mỗi lần tôi lại
nhớ đến bài hát “Hạt mưa trên lá” của nhạc sĩ Phạm Duy. Hình ảnh
cây chuối và lá chuối ướt sũng nước mưa làm tôi nhớ lại tuổi thơ
ấu tại Bắc Ninh trong những ngày mưa hè. Các hình ảnh này đã vùi
sâu trong ký ức; tưởng rằng đã quên nhưng thực ra quê hương tôi
vẫn còn sống trong tôi. Tôi chỉ cần có một khung cảnh, một vòm
trời, một cơn mưa nào đó… là tôi có thể “giở trang nhật ký
“được, và tôi rất quý những giờ phút riêng tư như vậy .
Mùi nước cống, mùi sình bốc lên từ
cái nhà máy lọc nước cống xông lên đến tận lầu ba nơi tôi ngồi.
Tôi cảm thấy mùi này thật là đặc biệt và quen thuộc. Tôi nghĩ
các mùi, vị và mầu sắc luôn luôn tiềm ẩn trong ký ức con người.
Mùi sình này đã mang tôi trở về với Saigon trong hai năm Ðệ Nhị
và Ðệ Nhất khi tôi đến thăm bạn tôi ở gần khu Cầu Bông, thật là
khó quên trong tuổi học trò dại khờ của tôi. Mùi sình này cũng
nhắc nhở tôi đến những lần đưa sinh viên tại Toronto đi thăm
viếng các nhà máy lọc nước cống (sewage treatment plants) trong
môn “Nước Uống và Nước Cống” mà tôi đã từng dậy trong nhiều năm
trước khi về hưu.
Trời mát hẳn xuống, thân tôi không
còn phải đổ mồ hôi hột như những buổi xế trưa trong balcony.
Chắc tại mưa to, gió lớn nên tiếng sóng biển nghe rất to và rõ
ràng. Ngồi nghe sóng biển và nhìn từng cơn sóng dội vào bờ, tôi
nhớ lại truyện “Trống Mái” mà ngày xưa tôi đã từng đọc say mê.
Có khác chăng, có lẽ là phong cảnh của Việt Nam và Panama, có lẽ
là khoảng thời gian cách biệt đã hơn nửa thế kỷ và có lẽ là cái
“state of the mind” của chính tôi giữa ngày xưa và ngày nay?
Mỗi lần được đi du lịch, tôi lại có
dịp giở những “trang sách cũ” trong ký ức để kiểm điểm lại những
gì tôi đã, đang và sẽ có thêm trong những “trang nhật ký” này.
Tôi thích nhất những ngày mưa như hôm nay. Ngày mưa là ngày
chúng tôi phải “cắm trại”: Tôi “được phép” ở lại trong phòng để
ra balcony ngồi đọc sách, hít thở hay ghi chép lại những gì bỗng
dưng tôi thấy được trong đầu óc. Ở đây, không còn cái ồn ào của
thành phố. Thời gian như ngưng lại, tôi không còn thấy phải bận
bịu với bất cứ truyện gì nữa. Tôi cũng chẳng có dịp để mà vào
Internet dễ dàng như ở nhà, lý do chính thật là giản dị: Hotel
chỉ có 2 cái Internet Computers chạy chậm như rùa mà lại mắc như
quỷ!
Tôi lại “được miễn” xuống tắm biển
hay hồ bơi vì mặc dù tôi thích bơi lội dưới trời mưa nhưng nước
lại khá lạnh nên chẳng ma nào dám nhẩy xuống nước nữa.
“Lậy trời mưa xuống
Cho thân tôi sướng
Tôi không bị vướng
Vào vụ … shopping
Tôi thích một mình
Ngồi trong lặng thinh
Ngắm trời, ngắm biển”.
6.
Trời mưa còn có cái thú khác: trời
mát dịu hẳn lại, chẳng bù với mấy hôm trước trời nóng chẩy mõ
lại thêm cái độ ẩm rất cao (humidity) trong không khí của miền
Nhiệt đới (phơi cái áo ướt ngoài balcony 3 ngày mà chưa khô). Ở
Canada, ít khi nào mà tôi đổ mồ hôi hột được, trừ khi tôi tập
thể dục khá lâu. Mỗi lần tôi “được chẩy mồ hôi nhễ nhại”, tôi
cảm thấy “khỏe” lắm và ban đêm ngủ rất ngon giấc.
Bắt đầu từ ngày thứ hai của “bẩy
ngày nói cười nghiêng ngả”, kệ xác trời nóng và đổ mồ hôi hột,
tôi vác máy hình đi chụp thảo mộc xung quanh cái Hotel này (ngày
xưa là trại lính của Chính Phủ Panama và ở ngay bên cạnh nhà
nghỉ mát của tướng Manuel Noriega). Tôi thấy hoa giấy mầu đỏ,
mầu trắng, mầu da cam, mầu tím.

Dân xứ nóng chẳng lưu ý đến hoa
giấy cho lắm nhưng những ai đã từng cảm thấy muốn chết cóng
trong mùa tuyết tại Bắc Mỹ mới thấy quý các loại hoa nhiệt đới
này. Phải nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa khi trồng bông
giấy trong nhà thì may ra mới được thấy vài cụm hoa giấy nở.
Có những bụi hoa mầu vàng rất đẹp,
tôi không biết có phải thực sự là Hoa Vông Vang của bên mình
không (như trong truyện Hoa Vông Vang của nhà văn Ðỗ Tốn). Tôi
vác máy hình chụp rất nhiều tấm như để ghi vội cái dịp được trở
về trong ký ức với “Hoa Vông Vang” của nhà văn Ðỗ Tốn mà tôi đã
từng đọc say mê hồi còn học Ðệ Ngũ, Ðệ Tứ

Có những hàng dừa không quá cao
nhưng đầy quả trông rất lạ mắt
Có một lần khi xe Bus ngưng lại tại
một hàng quán bên đường, tôi xuống mua dừa tươi uống (50 cents
tiền Mỹ. Ở Panama, họ dùng Dollars Mỹ và Panama đang muốn “dụ”
dân Mỹ và Canada tới sống trong lúc về hưu). Nước dừa ở đây uống
cũng ngon như nước dừa mà Canada nhập cảng. Ở Venezuala, dân địa
phương còn trèo lên cây dừa mà hái và bổ dừa cho du khách ngay
tại chỗ, rẻ ề: 10 cents Mỹ mà thôi!
Xung quanh các hồ bơi, họ còn trồng
nhiều cây giống như cây dừa mà quả lại giống như quả cau, đắc
biệt là quả mầu đỏ, trông rất đẹp mắt, tiếc nỗi là tôi không
biết tên Latin và tên Việt Nam của loại cây này:

Chúng tôi tới Panama không đúng vào
lúc mùa soài chín, nhưng tôi thấy rất nhiều cây soài nặng chĩu
quả hãy còn xanh:
Hầu như các cây Soài ở đây không do
người ta trồng, mà là các cây soài hoang mọc dại bên đường. Một
hôm cả bọn đi nhặt soài rớt xuống đất. Tôi còn đang mải chụp
hình, bỗng nghe thấy tiếng của một phái nữ nói văng vẳng bên
tai:
- Anh ơi, nếu anh có thương em, anh
hái cho em vài trái … soài!
Tôi lật đật đeo máy hình vào vai
cho chắc và kiếm ngay được 3 trái Soài trông rất ngon lành để
đem tặng Bà Cai. Kiếm hoài mà chẳng thấy Cai đâu và sau khi định
thần lại mới biết Code Name phái nữ tên Mew đang “miu miu nũng
nịu” với Bác Mew Trai! Thiệt là lãng xẹt mình cứ “tưởng bở”, Xẹt
tôi bèn vội vàng ném 3 quả soài vô tội đi chỗ khác để cho Xẹt
còn rảnh tay mà đi chụp hình tiếp! Truyện “miu miu”, xin để lúc
khác: “Not Now, My Dear!”
Soài ở đây phần lớn có dáng tròn
trịa, quả nhỏ, hột lớn nhưng loại soài này ăn rất là ngọt. Tôi
cũng nhặt được 2 quả soài khá to mà vẫn còn xanh, Bà Cai thái ra
chấm muối ớt, phe các bác gái ăn thấy ngon như soài tượng bên
nhà, khen ầm khen ầm ỹ xóm làng!
Nói đến Muối Ớt, tôi nhớ ngay đến
cái món Me Chua Chấm Muối Ớt. Một hôm, người Tour Guide của
Hetel Decameron dẫn chúng tôi tới nhà nghỉ mát của tướng Manuel
Noriega nay đã điêu tàn vì trúng đạn đại bác . Nóc nhà không
còn, chỉ còn chơ vơ mấy bức tường và cái cầu thang soắn ở ngay
giữa nhà.
Biệt thự này nằm ở ngay trên bờ
biển, bên cạnh Hotel Decameron. Xung quanh dinh cơ có nhiều loại
cây, bỗng dưng Lãng tôi chú ý tới một cây đầy trái non. Khi tới
gần, tôi la lên một tiếng thất thanh:
- Ui cha! Cây me!
Xẹt tôi vội vàng vịn một cành
xuống, hái lấy hái để những trái me chua hãy còn xanh rờn và
chứa đầy cái mũ base ball của Lãng Xẹt. Tôi “báo tin” cho “đoàn
quân Mission Possibe”, thế là “quân ta” kéo tới, ai nấy hỉ hả
vừa hái Me, vừa chụp hình lia lịa.

Tối hôm đó Bà Cai ngâm Me Chua với
muối ớt. Tôi cắn thử một miếng, chua quá, bèn nhè ngay ra, miệng
há hốc giống như Tề Thiên Ðại Thánh ăn phải mắm tôm vậy, nhưng
các Bác gái khác thì chiếu cố rất ư là … tận tâm! Ðã hơn 40 năm
rồi, tôi mới thấy lại cây Me, thật là một điều thú vị rất là bất
ngờ.
Một lần, chúng tôi lấy xe Bus ra
ngoài phố đi shopping, tôi mua được trái mận (người Bắc gọi là
qủa doi) mầu đỏ thẫm.
Tôi ăn thấy chát quá, bèn mang về
đưa cho người dọn phòng bản xứ.
Chúng tôi cũng đi thăm một sở thú
tư nhân. Gọi là sở thú cho nó “oai”, chứ thực ra đây là một cái
vườn bách thảo nhỏ mới đúng nghĩa của nó. Trong những năm trồng
lan, tôi vẫn ước mơ được thăm viếng các “rain forests” trong
những vùng nhiệt đới để được thấy tận mắt phong lan mọc chi chít
trên các cành cây, nay tôi may mắn có cái cơ hội này . Tôi lấy
máy hình ra chụp lia lịa “để dành mà xem” trong những cơn ghiền
của tôi sau khi đã về lại Canada.
Tôi há hốc mồm khi thấy Ðịa Lan
Phaius nở hoa vừa to vừa phơi phới xuân tình:

Mười mấy năm về trước, tôi đã từng
trồng Phaius trong nhà ở Canada, nâng như nâng trứng, hứng như
hứng hoa chăm lo rất tận tình cho nàng Phaius. Nàng vẫn ỳ ra,
chẳng thèm nở ra cho một bông hoa nào. Cũng chỉ là vì Canada
không có khí hậu nhiệt đới: cái độ nóng của nhiệt độ ngoài trời,
cái độ ẩm cao, mưa rào ào ào, ban đêm lại mát dịu như tại miền
này của Panama. Sau hai năm “hầu hạ” nàng mà chẳng được sơ múi
gì, tôi dẹp nàng Phaius sang một bên để “chạy theo” các nàng lan
khác “dễ nuôi và hay ăn, chóng lớn” hơn, dựa theo cái thuyết
“liệu cơm gắp mắm” của Lãng Xẹt!
Ðiểm đặc sắc của Panama là tôi thấy
nhiều cây phượng vĩ cổ thụ vĩ đại che khuất cả một khoảng vườn
khá lớn. Hotel Decameron, theo lời giải thích của một tour
guide, có cây Phương Vĩ đã sống khoảng 140 năm, “già” hơn cả
Lãng Xẹt nhà tôi nữa, ghê thật ! Chúng tôi tới đây sau khi các
cây phương cổ thụ đã hết mùa hoa, thật tiếc thay! Lâu lâu, chúng
tôi thấy lèo tèo vài chùm hoa phương từ các cây phương không to
cho lắm.
Một buổi sang, trong lúc đi dạo bộ
xung quanh cái “resort” này, tôi bỗng thấy 6 cây điệp cao chừng
hơn 2 mét đang nở hoa, Lãng Xẹt tôi vỗ tay đôm đốp. Ðiệp có 3
mầu hoa: đỏ, hồng và vàng
Tôi lấy máy hình ra chụp túi bụi,
mặc kệ cho muỗi và bọ đốt xưng cả hai cái cẳng, chụp hình là ta
cứ thế mà chụp. Chụp xa, chụp gần, chụp đủ cả mọi kiểu và tôi
cảm thấy rất vui thú trong lúc chụp hình mặc dù lâu lâu phải gãi
cẳng vì ngứa. Ngày hôm sau, tôi còn thấy nhiều các cây điệp
khác, khi tôi đi vào những khu vườn mà tôi mới biết ở xung quanh
Hotel. Lại cái màn chụp hình tái diễn. Tôi chụp lấy chụp để mà
không sợ bị “hết phim, hết pin” như hồi còn là sinh viên vì tôi
đã trang bị rất kỹ càng: tôi dự trù sẽ chụp tất cả chừng 2000
tấm hình mà vẫn không sợ bị hết Battery và Memory trong cái
“Memory card” của máy hình. Thật là tuyệt vời khi tôi nhìn hoa
điệp trong màn hình của TV mỗi buổi tối sau khi tôi đã “store”
hình vào trong cái “Portable Digital Photo Hard drive”. Hôm sau
lại tha hồ đi chụp tiếp mà không bao giờ bị hụt hẫng vì cái nạn
“hết phim” như khi chụp máy hình thường!
Một hôm Bà Cai đi bộ dọc theo bờ
biển, thấy một cây Thanh Trà và mang về cho tôi xem mấy quả
Thanh Trà đã chín và rụng xuống bãi cỏ:
http://www.pbase.com/image/32423222
http://www.pbase.com/image/32423223
Bà Cai nở miệng cười và nói với
tôi:
- Ở đây giá mà có thịt lơn nạc, em
sẽ nấu canh với quả thanh trà cho anh ăn với cà pháo thì hết
xẩy!
Tôi không còn nhớ là đã thấy quả
Thanh Trà này ở ngoài Bắc hay trong Nam nữa. Tôi chỉ còn nhớ hồi
10, 11 tuổi, sau mỗi trận mưa, tôi thường ra đường Trần Hưng Ðạo
ở Hà Nội để nhặt những quả sấu chín rơi rụng ở ngoài đường. Quả
sấu chín mầu vừa xanh vừa vàng, ăn chua chua, ngọt ngọt, rất là
đặc biệt. Chị tôi thường luộc mấy quả sấu xanh với rau muống và
cà chua. Rau muống luộc chấm với nước mắm dầm với sấu luộc và cà
chua, ăn thật là Bắc Kỳ, tôi còn nhớ ăn ngon lạ lùng. Từ ngày
rời Hà Nội di cư vào Nam năm 1954, tôi chưa có dịp thấy lại cây
sấu, thấm thoắt đã hơn nửa thế kỷ rồi!
Một buổi sáng sớm, khi Bà Cai và
tôi đi dạo bộ trước lúc ăn sáng, tôi thấy một đám hoa, trông
quen thuộc mà tôi chẳng nhớ ra là hoa gì. Tôi lấy máy hình ra
chụp đại. Bà Cai nói với tôi đây là bụi hoa Tóc Tiên:

Hoa Tóc Tiên? Cả một thời thơ dại
của tôi tại Bắc Ninh trở về trong trí nhớ của tôi: Bố mẹ tôi
trồng tóc tiên trong vườn. Hình ảnh gian nhà, hình ảnh bố mẹ tôi
(nay không còn nữa) và hình ảnh tôi hồi còn “thò lò mũi xanh”
hiện ra ngay trong trí tưởng tượng của tôi. Mặc dù khóm hoa này
không thực sự là hoa Tóc Tiên đi chăng nữa, nhưng cái danh từ
“Tóc Tiên” cũng đã cho tôi được trở về trong những giây phút
ngắn ngủi này với giai đoạn mà đại gia đình chúng tôi chưa bị
chiến tranh, chưa bị di cư vào Nam, chưa bị mất mẹ, mất làng quê
… làm sáo trộn cả nếp sống của chúng tôi. Một chút gì ngậm ngùi,
xa vắng, bâng quơ!
7.
Tôi thường dậy sớm, ra balcony tập thể dục,
ngồi Thiền và lấy giấy bút ra ghi lại đôi dòng. Tám giờ sáng, cả
bọn gặp nhau ở dưới phòng ăn sáng, theo kiểu Buffet. Tôi ăn chút
thịt và trứng, để có đủ protein, sau đó đi lùng trái cây mà ăn.
Hầu như sáng nào cũng có dứa (trái thơm), passion fruit (hồi còn
ở Saigon, tôi không thấy trái này), chôm chôm, đu đủ, dưa hấu,
bưởi và cam. Tôi thường trộn nước cam với nước Passion Fruit để
uống trước khi uống cà phê, vì đây là món đồ uống “tủ” của tôi
trong những ngày còn đi học bên Úc.
Khi tôi đang viết đến đây, Doremi mang đàn
guitar ra chơi mấy bài Classical Guitar. Tôi vừa viết, vừa nghe
tiếng đàn Guitar, rất là thú vị. Phòng của Doremi ở lầu hai và
khi tôi ngồi trong cái balcony này, tôi nhìn thấy Doremi đang
chơi đàn Guitar. Ngoài kia sóng biển đang vỗ vào bờ và trời đang
chạng vạng tối. Bầy chim về tổ đang líu lo hót trong cây soài cổ
thụ ngay cạnh balcony của chúng tôi. Thật khó mà tả được cái cảm
giác khoan khoái mà tôi đang có trong lúc này!
Khoảng nửa giờ nữa, “phái đoàn” chúng tôi sẽ
xuống tụ tập tại một “lobby” để tán gẫu và uống nước trước khi
chúng tôi đi ăn bữa cơm tối cuối cùng với nhau để rồi sáng ngày
hôm sau (Aug.7, 2004) cả bọn sẽ lên xe Bus ra phi trường Panama
City trở về lại Toronto .
“Phái đoàn” chúng tôi phần lớn là những “diễn
viên thường niên” của Ban Sinh Hoạt Trưng Vương- Chu văn An và
Thân Hữu tại Toronto. Cứ mỗi lần gặp nhau ở bất cứ nơi nào, thế
nào cũng có những tiếng cười đùa, om xòm như cái chợ vậy. Chúng
tôi kể cho nhau nghe đủ mọi thứ truyện, nhất là những câu truyện
thời còn là học sinh và sinh viên.
Chúng tôi đã lớn lên trong thời buổi chiến
tranh, có người đã từng đi tù cải tạo, có những người đã từng đi
thăm nuôi chồng trong trại giam cải tạo, rồi vượt biên và lập
lại cuộc đời nơi xứ lạ, quê người. Phần lớn mọi người trong
“phái đoàn” chúng tôi đã có con cái thành tài và chúng đã có vợ
có chồng. Giờ đây, chúng tôi gặp nhau, quen nhau (hay đã quen
nhau từ Việt Nam), thân nhau trong tình bạn đồng hương, đồng môn
và tự hứa sẽ để lại sau lưng những nhọc nhằn, buồn tủi … Gặp
nhau để cười đùa, để kể cho nhau những truyện khôi hài, tiếu lâm
và để mừng rỡ khi thấy các bạn bè của mình còn có sức khỏe để
“vui đời” vì chúng tôi hầu hết đã hay đang tới cái đoạn đời
“bonus” này .
Chúng tôi đã tự thuê lấy xe Van có tài xế đưa
chúng tôi đi xem phong cảnh, Panama Canal, đi shopping. Những
ngày “nghỉ” khác, sau khi ăn sáng xong, cả bọn rủ nhau đi bộ dọc
theo bờ biển. Khi nào thấy nóng nực, nhào ra biển hay hồ bơi mà
bơi lội. Bơi mệt rồi nằm dài trên ghế dưới các “túp lều lý
tưởng” và lại tiếp tục việc tán gẫu
Ai thấy khỏe và không sợ cái nóng thì đi đánh
Tennis. Có người còn đi cưỡi ngựa. Bà Cai và tôi sáng nay đi
cưỡi ngựa cùng 3 “code names” khác.
Trong cái “resort” này, họ cho mình đi cưỡi
ngựa nửa tiếng và không phải trả tiền. Một người bản xứ chăn
ngựa đã giúp chúng tôi lên và xuống ngựa. Tôi đã từng cưỡi ngựa
tại Venezuela nên đã biết điều khiển con ngựa. Vì “số sui”, Xẹt
tôi gặp ngay con ngựa bất kham, tự dưng nó “hứng chí” phóng nước
đại làm Xẹt đâm … xẹt lửa , nơm nớp lo sợ :
“Que Sera sera!”
Cũng may là người guide luôn luôn đi gần tôi
và hô to tên con ngựa bất kham này và bắt nó đi chậm lại dùm
tôi. Từ lúc xuống ngựa, dáng tôi đi bộ trông rất là … “khệnh
khạng” như người “háng rộng” vậy. Cũng chỉ là vì cái con ngựa
hay dở chứng này đã làm cho hai cái bắp thịt đùi của tôi nó cứng
lại sau nhiều lần tôi giật giây cương bắt nó ngừng lại và tôi đá
chân vào bụng nó để bắt nó đi tiếp! Nàng ngựa tức tôi, lâu lâu
lại “thở phành phạch” vài tiếng. Tôi nghĩ bụng:
- Kẻ tuổi Ngựa và nàng Ngựa chắc không có hạp
nhau; thôi thì, sau nửa tiếng ‘đi chung đường’ với Ngọ , Xẹt tôi
…sẽ không dám theo Ngọ đi tiếp nữa đâu, cho nó chắc ăn, Ngọ à!”
Trong giờ ăn trưa, các bà đã chán ăn “cơm
tây” nên đã mang theo bánh tráng và nước mắm để làm món gỏi cuốn
Việt Nam ăn cho đỡ “nhớ nhà”! Từng bàn một, câu truyện lại vẫn
nổ như pháo rang. Giờ trưa, mà ngồi trong phòng ăn với quạt
trần, gió hiu hiu thổi, nhìn ra biển thật là thú vị.
Ăn lunch xong, phần lớn cả bọn chúng tôi kéo
nhau ra nằm dưới “túp lều tranh lý tưởng” dọc theo bờ biển. Trừ
những ngày mưa, lúc này trời rất nóng, lại thêm độ ẩm (high
humidity) rất cao làm cho tôi đổ mồ hôi hột dòng dòng. Cũng may
là dưới bóng mát của “túp lều lý tưởng” của Cai và của Xẹt, và
nhờ gió biển thổi vào, “hai trái tim vàng” nằm trên ghế ngủ
thiếp đi lúc nào không hay.Tỉnh dậy, tôi lấy sách ra đọc. Ðọc
chán, nhẩy ùm xuống nước mà bơi, ôi chao là mát! Rất tiếc là máy
hình và lời viết không tài nào “capture” được cái nóng nực, độ
ẩm (humidity) và các làn gió hiu hiu từ biển thổi vào của vùng
nhiệt đới này. Thôi thì Lãng Xẹt tôi cứ viết đại, đến đâu hay
đến đó!
Chúng tôi hy vọng cứ lâu lâu lại có một lần “retreat” như vậy để
cùng nhau chung vui những câu truyện, những hình ảnh và nhất là
tình bạn. Ðây không phảI là “7 ngày khoái lạc” mà thực sự là một
tuần lễ để chúng tôi, những dân sống trong xứ lạnh kiếm được cái
“thú vị” của thân thể đổ mồ hôi hột và được sống lại trong cái
khung cảnh Việt Nam thanh bình của tuổi thơ ngày xa xưa, “a
country away from our beloved country” !
“Ði để mà đi, đi để mà được trở về trong ký
ức … I shall return to visit … my past”, tôi nhủ thầm.
Lãng Xẹt - Ðàm Trung Phán
Aug. 2004
Panama - Canada
Trở về Trang Chính
|