|
Cũng như nhiều năm
trước, năm nay KS Lê như Phú và tôi được Ban Tổ Chức của Quỹ Học
Bổng Cộng Ðồng Toronto (QHBCÐ) giao trọng trách cho việc tuyển
lựa các sinh viên Canada gốc Việt nộp đơn xin Giải Thưởng Xuất
Sắc về Học Lực trong niên khóa 2003-2004.
QHBCD có hai loại
học bổng (thật ra đó là Awards và tiếng Việt gọi là Giải Thưởng
thì đúng hơn): Học Bổng Xuất Sắc về Học Lực (Academic Excellence
Awards) và Học Bổng Thiện Nguyện Cộng Ðồng (Community Work
Awards) dành riêng cho Sinh Viên Canadian gốc Việt vừa mới học
xong Trung Học và đang học năm Thứ Nhất tại các Ðại Học của tỉnh
bang Ontario, Canada .
Năm nay các Giải
Thưởng Xuất Sắc về Học Lực được trao tặng trong Ðêm Tương Cầu,
được tổ chức vào ngày 29 tháng 11 năm 2003 tại Korean Cultural
Centre, Toronto. Trong bài viết này, tôi muốn nói lên những nhận
xét và cảm nghĩ không những của riêng tôi mà còn của hầu hết các
vị Giám Khảo trong Ban Tuyển Chọn (Selection Committeee) nữa -
khi chúng tôi duyệt xét tỉ mỉ từng hồ sơ của các cháu dự Giải
Xuất Sắc về Học Lực.
Các điều kiện tham
dự Giải Thưởng này đã được Ban Tổ Chức của QHBCD tiếp tục đăng
tải trên nhiều báo chí Việt Ngữ của Ðại Ðô Thị Toronto (Greater
Toronto Area) cũng như trên mạng lưới Internet của Liên Hội Sinh
Viên và qua Ðài Phát Thanh tiếng Việt AM 1430 trong Mùa Thu năm
2003. Tuần lễ đầu của tháng 11, 2003, Ban Tuyển Chọn chúng tôi
chỉ có hơn một tuần lễ để chấm điểm cho 22 hồ sơ của các “thí
sinh” và Ban Giám Khảo đã phải liên tục làm việc để theo kịp các
diễn biến tổ chức cho Ðêm Tương Cầu vào ngày 29/11/2003.
Ban Tổ Chức và nhất
là Ban Tuyển Chọn chúng tôi muốn tìm kiếm các sinh viên giỏi về
mọi mặt: có Học lại cần phải có cả Hạnh nữa! Chúng tôi đã có quy
luật từ nhiều năm là chấm điểm các thí sinh dựa theo: Ðiểm
Trung Bình của 6 môn OAC (Ontario Academic Credits với Hệ Số cao
nhất ), Các Sinh Hoạt Ngoại Khóa (Extra Curricular Activities),
Các Sinh Hoạt Thiện Nguyện (Community/Volunteer Work), Các Giải
Thưởng và Bằng Tưởng Thưởng (Academic Achievements and Awards)
và Lá Thư đính kèm (Cover Letter).
Trong vòng loại
(Short List), chúng tôi đã lựa ra 15 hồ sơ (mà điểm số trung
bình của 6 môn OAC trên 88%) trong số 22 hồ sơ nhận được để chấm
điểm và tuyển lựa cho 10 Giải Thưởng (5 Giải Xuất Sắc và 5 Giải
Khuyến Khích). Phải nói rằng trong nhiều năm mà tôi đã từng là
một Giám Khảo của QHBCD, năm nay có hai sinh viên có số điểm
trung bình của 6 môn cuối Trung Học rất là nổi bật: 99.2% và
97.5%. Trong số 15 sinh viên này, các cháu đã hầu như xuất sắc
(với số điểm từ 95% đến 100%) trong hầu hết tất cả các môn OAC
(Ontario Academic Credits).
Là một nhà giáo
nay đã về hưu, tôi xin méo mó nghề nghiệp nêu tên các môn học
OAC này để Quý Vị có một khái niệm về các cháu : Physics,
Chemistry, French, Biology, Calculus, Geometry, Discrete Maths,
Finite Maths, Algebra and Geometry, Computer Studies, Computer
and Problem Solving, Kinesiology, Accounting, Canadian and World
Issues, English Writing, Law, Families in Canadian Society,
Politics, Philosophy, Physical Education and Health .
Các cháu đã đạt được những thành quả kỷ lục
mà ngay chính các học sinh bản xứ Canada chưa chắc đã đạt được!
“ Nói có sách, mách có chứng”, tôi xin điểm
đanh một vài những thành quả sáng ngời này: - Gold Award for
the Hamilton-Wentworth Catholic Schools’ Science Fair, - Fermat
Maths Contest and Top 25% in Canada, - Physics Contest Award, -
Valedictorian of the Graduating Class (Thủ Khoa khi học xong
Trung Học), - Highest Score for the 2003 Leonardo Da Vinci
Physics Competition, - Pope John Paul II ‘s Maths, Music,
Science Graduation Awards, - Highest Average for the Top 6
OAC/12U courses in the Toronto District School Board, - First
place in Ontario Provincial Programming Contest, - First Place
in U of T Biology Competition, - First place in Waterloo Maths
Competition 2 years in a row, - Certificate of Distinction in
Euclid Maths Contest, - Gifted Program Certificate of
Excellence, - American History Ward, - Grade 12 English Award,
-OAC Accounting Award...
Các cháu không phải
là những “mọt sách” (book worms) chỉ giỏi về học lực mà các cháu
còn rất năng nổ và sáng chói trong các sinh hoạt ngoại khóa và
giúp đời qua các sinh hoạt thiện nguyện nữa. Các cháu đã rất
thành công trong các bộ môn Thể Dục như: Cross country skying,
Wrestling, Volley ball, Badmington, Track & Field (chạy việt
dã), Table tennis, Tennis, Karate, Swimming.
Tôi đã xúc động khi
đọc tới đoạn cháu David Du Nguyễn (99.2%) trong mùa hè năm 2003,
qua chương trình “Youth Challenge International”, đã tình nguyện
qua Guyana đi tới các vùng quê hẻo lánh để giúp người dân nghèo
đề phòng bệnh tật, nhất là bệnh Aids. Cháu đã thể hiện được
lương tâm nhân loại qua những công tác từ thiện đầy lòng vị tha,
mặc dù cháu hãy còn rất trẻ.
Cháu Nghi Trương
Phan (97.5%) mặc dù rất bận rộn với việc học và giúp mẹ, nhưng
cháu đã xung phong rất nhiều thì giờ làm việc thiện giúp cho
“Our Lady of Vietnam’s Parish”, đánh Piano cho Ca Ðoàn “St.
Ann’s Church Choir”, giúp đỡ các đồng môn chạy thi Việt Dã.…
Ngoài ra, cháu còn là một người viết nhạc nữa (music composer).
Các cháu đã nghĩ gì
về Cội nguồn, cộng đồng, thế giới và nhân loại? Xin mời quý vị
hãy đọc vài đoạn văn tiêu biểu dưới đây mà tôi trích đọan từ các
Lá Thư (Cover Letters) đính kèm trong hồ sơ của các cháu.
Sau đây là cái nhìn
về tuổi già và bệnh tật của nữ sinh viên Lê Hồng Linh hiện đang
học năm Thứ Nhất ngành Sinh Vật và Hóa Học Ưng Dụng, Ðại Học
Ryerson:
“Through the
Charity and Volunteer Committee, I became involved with the
Intergenerational Program. Its main objective was to reduce the
isolation that many seniors face with old age. As a result, I
helped in coordinating volunteers for the Greenwood Towers
Breakfast Program; serving breakfast to the elderly. I also
volunteered my time to spend with these senior citizens playing
euchre and cribbage. Through my desire and moral responsibility
to be more involved with the community, I also volunteered my
time at the Runnymede Chronic Care Hospital. Many of these
patients were stricken with terminal illnesses, and were
suffering from multiple sclerosis, Parkinson's disease and had
suffered strokes. Although it was at times very emotionally
draining, I found my experience to be very rewarding. It was
nice to know that I could touch someone else's life by simply
spending time with them, getting to know them and having them to
know me.
(Qua Uỷ Ban Từ
Thiện và Thiện Nguyện, tôi đã làm việc trong Chương Trình Ða Thế
Hệ. Mục đích của Chương Trình này là giúp cho các cụ già đỡ thấy
cô đơn trong tuổi già. Tôi đã phân chia công việc của các thiện
nguyện viên trong Chương Trình Ăn Sáng tại Green Wood Towers để
giúp cho các cụ già khi họ ăn sáng. Tôi cũng đã tự nguyện dành
thời giờ chơi bài Euchre và Cribbage với các cụ. Vì tôi mong mỏi
và cảm thấy có trách nhiệm cần phải dấn thân trong cộng đồng,
tôi đã tự nguyện dành thì giờ để giúp các bệnh nhân bị bệnh tật
kinh niên tại nhà thương Runnymede. Rất nhiều bệnh nhân đang bị
bạo bệnh khó qua được lưới tử thần, họ đã bị mắc chứng bệnh
Multiple Sclerosis, Parkinson và huyết não. Mặc dù có đôi lúc
tinh thần tôi bị chao đảo đến đừ người, tôi vẫn thấy như được
đền bù vì các kinh nghiệm này. Tôi cảm thấy vui vì tôi thấy là
tôi đã chia sẻ đời sống với các cụ bằng cách đã dành thì giờ cho
họ, tôi đã hiểu họ và họ cũng đã hiểu tôi.)
Sinh Vi ên David
Nguyễn Du, học năm Thứ Nhất Khoa Học về Ðời Sống, Ðại Học
Toronto đã có cái nhìn về con người, sự nghèo khổ ... vượt qua
khỏi các biên giới quốc gia:
“At my high school
graduation, I received the Governor's General Bronze Medal and
the Outstanding Canadian Youth award in recognition for my
academic achievement and volunteer work. I am proud of these
awards and do not think I could have been able to achieve them
if it was not for my family, friends and teachers. I wish that
sometime in the future I would be able to give somebody the same
opportunity to maximize their potential as I have. Ever since my
trip to Mexico through the CCIDD program, I have always been
interested in world issues that involve third world nations. I
learned that many countries are forced into poverty which is
beyond the control of the poor people in the nation. I hope that
by learning more and by taking an active role in the community,
I could contribute to the social reform that may one day
alleviate this problem.”
(Trong buổi lễ ra
trường ở Trung Học, tôi đã được huy chương “Governor’s General
Bronze Medal “ và giải thưởng “Oustanding Canadian Youth” về Học
Lực và các Hoạt Ðộng Thiện Nguyện. Tôi rất lấy làm hãnh diện về
các giải thưởng này và tôi thiết nghĩ nếu không có sự hỗ trợ của
gia đình, bạn bè và thầy cô, tôi chẳng bao giờ có thể đạt được
các giải thưởng này. Tôi ao ước là trong tương lai, chính tôi sẽ
tạo được điều kiện tương tự cho một cá nhân nào đó để người này
có thể phát triển hoàn toàn tài năng của họ giống như tôi vậy.
Sau chuyến đi sang Mexico trong Chương Trinh CCIDD, tôi đã luôn
luôn quan tâm nhiều về các vấn nạn của thế giới liên quan tới
các nước chậm tiến. Tôi đã được biết là rất nhiều các quốc gia
trên thế giới đã phải bó buộc đi vào con đường nghèo khổ mà họ
chẳng có thể làm gì hơn được. Tôi hy vọng rằng nhờ học hỏi được
thêm và nhờ sự dấn thân trong xã hội, tôi có thể góp sức trong
việc cải tổ xã hội ngõ hầu một ngày nào đó xã hội có thể tránh
được những vấn nạn này.)
Nữ Sinh Viên Tara
Trần, Sinh Viên năm Thứ Nhất Cử Nhân Văn Chương, Ðại Học Queen
đã viết về hoài bão của cháu:
“My goal is to
achieve success in whatever I do and to represent to the world
how
notable the
Vietnamese community is. And with that I hope I can do more to
give back to those around me who have helped me achieve so
much.”
(Hoài bão của tôi
là sẽ thành công trong bất cứ công việc gì mà tôi làm và để cho
thế giới biết là cộng đồng người Việt chúng ta rất là đáng kể.
Tôi cũng hy vọng rằng tôi sẽ có thể sinh hoạt nhiều hơn nữa để
trả ơn lại cho những người xung quanh tôi đã giúp đỡ tôi rất
nhiều để đạt được các thành quả trong đời.)
Sinh vên Kevin
Huỳnh học năm Thứ Nhất về Văn Chương và Kế Toán, Ðại Học
Toronto, đã vạch rõ con đường cháu đi như sau:
“I do not only intend to be an accountant. I
will also fulfill my other interests. In addition, I will
hopefully be able create opportunities for myself to become an
influential decision maker and lead a business (possibly my own)
into prosperous years. Nevertheless, I will always have time to
contribute to charities and my community. Although, it is too
early, and often dangerous to predict the future, I strongly
believe planning ahead is vital and by setting a path now, I
will ensure myself of reaching my goal.”
(Tôi không có ý
định chỉ là một Kế Toán viên mà thôi. Tôi sẽ còn nhiều các sở
thích khác nữa. Hy vọng rằng tôi sẽ tự tạo cơ hội cho cá nhân
tôi được trở thành một người có nhiều quyền hành và dẫn dắt một
cơ sở thương mại (của chính tôi) rất là thịnh vượng trong nhiều
năm. Nhưng tôi sẽ luôn luôn dành nhiều thì giờ để đóng góp cho
các công tác từ thiện và sinh hoạt cộng đồng. Tuy rằng bây giờ
hãy còn quá sớm và nhiều khi rất là bất trắc để mà tiên đoán
được tương lai, nhưng tôi tin chắc là hoạch định đường hướng từ
trước cho tương lai rất là quan trọng và nhờ vào hướng đi đã
vạch sẵn, tôi sẽ đạt được hoài bão của tôi.)
Sinh viên Trần Kim
Thao học năm thứ nhất, chương trình Toán và Khoa Học Ứng Dụng,
Ðại Học York đã hăng say với các công tác từ thiện hướng về Việt
Nam. Cháu đã viết bằng tiếng Việt:
“Vào mùa đông năm
2000 chúng cháu tổ chức buổi hoà nhạc với mục đích gây quỹ cứu
giúp trẻ em bão lụt miền Nam. Lần hòa nhạc vào mùa hè 2001 nhằm
mục đích giúp đỡ các em nghèo, đói khổ và mồ côi tại quê nhà.
Lần hòa nhạc vào tháng Một, năm 2003, chúng cháu đã gây quỹ được
$12,000 (tiền Canadian). Qua những lần hòa nhạc này, cháu học
thêm về cách tổ chức, nói chuyện trước đám đông, và tạo những cơ
hội cho những trẻ em Việt Nam làm việc thiện nguyện vì cháu cảm
thấy rằng cuộc sống của các em ở đây thật quá là sung sướng và
đầy đủ so với những người bạn cùng lứa tuổi ở Việt Nam.”
Sinh Viên Quách
Châu Vân học năm thứ nhất ngành Khoa Học, Ðại Học Toronto đã có
ước mơ nhân bản dưới đây:
“I now dream of
saving the world, or hope to make a difference. I want to make a
difference not only in Toronto or Canada, but globally. I have
often seen and heard of the hardships people around the world
have endured and the difficulty in getting medical care or
treatment. I hope to become the best doctor I can be, and
provide medical care to those who are not ble to receive it,
first in Canada, then to different underdeveloped countries.”
(Bây giờ tôi mơ ước
sẽ cứu giúp được thế giới và nếu không thì tôi cũng có thể thay
đổi được ít nhiều. Không riêng gì cho Toronto mà tôi còn có thể
cải hoán ít nhiều cho thế giới nữa. Tôi đã từng nghe và thấy
người dân sống cơ cực trên hoàn cầu và họ phải rất khó khăn mới
có được các dịch vụ y tế. Tôi hy vọng sẽ trở thành một Bác Sĩ
giỏi giang và tôi sẽ chữa trị cho các bệnh nhân thiếu phương
tiện trước tiên là ở Canada rồi đến những quốc gia nghèo trên
thế giới)
Sinh vên Phan
Trương Nghi học năm Thứ Nhất Khoa Học Y Tế, Ðại Học McMaster đã
có năng khiếu về Âm Nhạc và nhờ âm nhạc mà cháu đã có những suy
nghĩ khác:
“My true artistic
stimuli, however, lie in the moments of solitude when I can
freely play and compose music without any distractions. I
believe the time I spend playing and composing music reflects a
transfer of my inner emotions to a medium comprehensible to
others. Having spent a large portion of my life playing the
piano, I have learned many other things aside from the mechanics
of how to play. Through the challenges of learning to play, I
have developed many valuable characteristics. Qualities such as
having determination, perseverance, and continual dedication to
my work are just some that have blossomed from the musical
influences in my life.”
(Tôi đã có được
những xúc cảm nghệ sĩ qua những giây phút vắng lặng không hề bị
ngoại vật chi phối khi tôi thư thái chơi nhạc và viết nhạc. Tôi
tin rằng nhờ chơi nhạc và viết nhạc mà tôi có thể truyền đạt
được những rung cảm nội tâm tới môi trường mà người nghe có thể
cảm nhận được. Nhờ các thử thách khi học đánh Piano trong nhiều
năm mà tôi đã học được rất nhiều điều khác ngoài các kỹ thuật
chơi nhạc. Các đức tính như lòng quả quyết, tính bền bỉ, sự tận
tụy với công việc đã nở rộ trong tôi, cũng do từ các ảnh hưởng
của âm nhạc mà ra.)
Trong bài Diễn Văn
đọc hôm lễ Phát Giải Thưởng Cộng Ðồng ngày 29/11/2003, nữ sinh
viên Julie Trần Tuyết Nhung, sinh viên Khoa Học tại Ðại Học Mc
Master, đã phát biểu cảm tưởng của cháu, bằng tiếng Việt mà cháu
tự học:
“Cha mẹ con thường
dạy rằng ‘Con người ta ngoài trình độ học vấn mình còn phải có
đạo đức, phải có một tấm lòng nhân ái, lòng yêu nước và sự nhiệt
tâm’. Con hiểu và đã thực hành.
Nhưng hôm nay đây,
con càng hiểu sâu xa hơn và tin rằng chắc có ít nhất một lần Quý
Vị cũng đã được cha mẹ mình khuyên dạy như vậy. Do đó, con mới
có cơ hội đứng đây nhận món quà cao quý nầy từ những người đầy
nhiệt tâm và hảo tâm.”
Là một nhà giáo đã
dậy trong Phân Khoa Kỹ Thuật và Khoa Học Ứng Dụng tại Centennial
College, trong nhiều năm tôi đã có dịp duyệt các High School
Transcripts (Học Bạ Trung Học) của Sinh Viên khi họ xin nhập học
College hay khi họ xin chuyển trường (từ các College hay các Ðại
Học khác) vào Phân Khoa chúng tôi. Tôi cũng đã từng là một Giám
Khảo trong Ban Tuyển Chọn để tuyển lựa các sinh viên xuất sắc
nhất trong các môn Kỹ Thuật và Khoa Học. Tôi đã cảm thấy rất
thích thú và vui mừng khi làm những việc này. Tôi còn vui mừng
hơn nữa khi đọc thấy tên các sinh viên Việt Nam trong danh sách
những người được giải thưởng trong các phân khoa khác nhau của
College nữa. Các sinh viên gốc Việt này đã gặp biết bao những
khó khăn về Anh Ngữ, điều kiện gia đình và tài chánh nhưng họ
vẫn gặt hái được những kết quả làm cho ban giảng huấn Canadian
rất ngạc nhiên và thán phục. Tôi thấy vui lây, phấn khởi và hãnh
diện là một công dân Canada gốc Việt!
Nay tôi đã về hưu
mà còn được trở lại với Cộng Ðồng người Việt trong vùng Ðại Ðô
Thị Toronto làm một Giám Khảo cho Quỹ Học Bổng Cộng Ðồng, tôi
càng vui sướng hơn vì chính mắt tôi đã được thấy những thành quả
sáng chói của Thế Hệ con cháu chúng ta. Giải Thưởng Cộng Ðồng
Việt Nam còn đặc biệt hơn các Giải Thưởng của College và Ðại Học
vì QHBCÐ không những chấm điểm Sinh Viên về Học Lực (thể hiện
qua Ðiểm số Trung Bình của 6 môn OAC) mà chúng tôi còn chấm điểm
về Ðức Hạnh của Sinh Viên nữa ( thể hiện qua các Sinh Hoạt Ngoại
Khóa, Sinh Hoạt Cộng Ðồng , công tác Từ Thiện và nhất là các suy
tư của các cháu qua lá thư Cover Letter).
Các cháu không
phải là những con mọt sách mà các cháu còn giỏi về đủ mọi mặt
khác nữa. Các cháu đã đứng ra làm những công việc thiện nguyện
chứa đựng đầy lòng bác ái. Tất cả các hồ sơ nộp xin Học Bổng đều
có rất nhiều các lá thư chứng thực và khen ngợi của trường học,
nhà thương, các cơ quan từ thiện, các công và tư sở ... Lời lẽ
các cháu viết ra trên đây đã thể hiện lương tâm nhân loại trong
khi thế giới ngày nay đầy vật chất và nhiễu nhương. Tôi rất cảm
phục vì các cháu tuy tuổi hãy còn trẻ nhưng đã hội đủ cả phần
Tài Giỏi lẫn Ðức Hạnh.
Các cháu nói riêng
và nói chung tất cả các học sinh, sinh viên trẻ của Cộng Ðồng
Việt Nam tại Toronto cũng như các Cộng Ðồng Việt Nam hải ngoại
là chất xám sáng ngời của ngươì Việt chúng ta. Tôi thiển nghĩ
chắc Quý Vị cũng như tôi, chúng ta đều hãnh diện thấy thế hệ trẻ
sáng lạn trong đủ mọi ngành nghề. Xin hãy đồng tâm góp công sức
để dẫn dắt thế hệ con cháu chúng ta trở về với cội nguồn và làm
vẻ vang cho dân tộc Việt Nam chúng ta. Giấc mơ này đang nằm
trong vòng tay của mỗi người chúng ta và điều này chúng ta rất
dễ dàng có thể làm được nếu chúng ta đồng tâm và nhất trí. Mong
lắm thay
Xin cám ơn Quý vị
đã kiên nhẫn đọc những giòng này.
GS Ðàm Trung Phán
Tháng 12, 2003
Mississauga, Canada
Ý kiến, Phê bình xin gửi về :
damtrungphan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|