|
1.
Sáng
nay, sau khi thức dậy, tôi thường có thói quen hay nhìn qua cửa
sổ xem thời tiết ra sao. Thấy thành phố mờ mờ ảo ảo trong sương
mù, tôi thích trí reo lên trong đầu:
” À há, hôm nay ta
phải đi dạo bộ ngay và sẽ mang theo cái máy hình Digital để ghi
lại một số hình ảnh của Sương Mù ban mai!”
Nhìn
vào cái hàn thử biểu ngoài trời, thấy 18 Ðộ Celsius. No sweat!
Nhưng thực ra, tôi muốn trời hơi lạnh hơn một chút, khoảng từ 12
đến 16 Ðộ Celsius thì mới là “thần tiên” đối với tôi. Mà thôi,
tôi biết là “ăn mày không nên đòi sôi gấc!”
Tôi
khoác một cái áo mùa thu khá mỏng vì lỡ gió lạnh thổi thì làm
sao mà tôi có thể đi bộ cho lâu được. Ra đến cánh đồng hoang,
tôi chụp vài tấm hình. Qua những kinh nghiệm chụp hình, tôi chụp
nhiều “pô” khác nhau để ban đêm tôi sẽ “load” vào computer rồi
tôi sẽ giở từng tấm hình ra mà ngắm, tấm nào không ưng ý là
“delete” liền.

Tôi
tiếp tục đi bộ ra cái Park gần nhà mà tôi thường vừa đi vừa tập
thể dục, vừa ngắm cảnh để rồi tôi có những lúc thật riêng tư cho
chính tôi.
Ngồi
trên tảng đá bên cạnh giòng suối, tôi để hồn lắng nghe theo
tiếng nước chẩy, tiếng gió lùa và đi vào Thiền Ðịnh. Những “ba
chìm bẩy nổi”, những tức giận, sầu muộn … hầu như không còn
“exist” trong tôi trong lúc này nữa. Trong tôi và trước mặt tôi
chỉ là tiếng nước chẩy, tiếng gió thổi nhè nhẹ trên các cành lá
đang bắt đầu đổi mầu, tiếng chim hót, hình ảnh mấy con vịt trời
đang bơi lội trên giòng nước

2.
Tôi lôi cuốn sổ bìa
cứng, chiếc bút chì “Mechanical Pencil” ra và ngồi ngay ngắn
trên tảng đá dưới bóng mát của cành cây để ghi lại những giòng
chữ này trước khi tôi bắt buộc phải trở lại với đời sống hàng
ngày của tôi.
Nước
vẫn chẩy, chẩy hoài không bao giờ ngưng, đời sống cũng thay đổi
từng phút, từng giây, từng “sát na” theo danh từ Phật Giáo. Tôi
chợt hiểu rằng tôi không thể nào có thể bắt buộc cuộc đời của
tôi đóng khung vào những gì mà tôi ước muốn được. “Let go, let
it be!” tôi nhận thức ra được điều này. Tôi đã, đang và sẽ tiếp
tục để cho “cây sậy cuộc đời” của tôi nghả nghiêng theo chiều
gió cuộc đời để rồi sau khi “gió đã lặng”, tôi sẽ ngồi im trong
tĩnh lặng và “kiểm điểm” xem những gì đã thực sự xẩy ra “as is”
… Tôi cảm thấy thảnh thơi vì không bị gò bó theo bất cái khuôn
phép nào hết .
Nói thì
dễ nhưng đôi lúc thực hành cũng không dễ như mình tưởng. Tôi
đang cố gắng để giữ cho phần tình cảm của mình ở vị thế “Trung
Ðạo”, có nghĩa là tôi không muốn quá vui mà cũng chẳng muốn quá
buồn. Ấy vậy mà hôm qua, tôi chẳng làm được như vậy. Chả là, tôi
quen biết Bác NT từ năm 1975 khi vợ chồng Bác di tản và định cư
tại thành phố Toronto này. Tôi quen với con trai của Bác và tôi
cũng đã gặp Bác nhiều lần trong các Sinh Hoạt Cộng Ðồng. Có lẽ
hai Bác tương đối là một cặp vợ chồng sống vui vẻ, khỏe mạnh và
hạnh phúc vì tất cả mọi người trong gia đình Bác còn được sống
nguyên vẹn, điều mà tôi cảm thấy vui mừng khi xung quanh tôi và
chính tôi đôi khi thường hay phải đối phó với những đổ vỡ .
Tôi đi
xe điện ngầm (Subway) lên phố, tôi thích đi như vậy vì bây giờ
tôi không còn phải quá lệ thuộc vào cái “tight schedule” như
những ngày còn phải “kéo cày trả nợ đời” nữa . Ghé qua phố Tầu
để nghe tiếng Việt, để nhìn những hoa quả nhập cảng từ Việt Nam,
Thái Lan và để ăn một bát mì Việt Nam cho “đỡ nhớ nhà”. Nói vậy
cho nó “oai” chứ thực ra tôi đang bị “kiến bò bụng” vì quá đói!
Tôi đi bộ từ phố Tầu Toronto đến nhà thương thăm Bác vì tôi muốn
đi bộ cho “tiêu mì” sau bữa ăn trưa.
Bác nằm
im trên giường bệnh trông thật là già, hom hem, miệng bị móm và
hoàn toàn khác hẳn với khi Bác còn khỏe mạnh. Bác nằm im, nhắm
mắt, hơi thở yếu ớt và một mắt đã quầng thâm. Tôi đứng ngắm Bác
một hồi rồi tôi ghé tai bên trái của Bác nói to để “giới thiệu”
tên tôi. Tôi dặn nếu Bác còn có thể nhận ra tôi là ai, xin Bác
gật đầu cho tôi biết. Không
một phản ứng gì. Tôi ghé vào tai bên
phải và làm y như vậy nhưng Bác cũng chẳng trả lời. Tôi cầm tay
Bác, tay đã rất lạnh, cả hai tay tôi nắm lấy tay Bác để tôi cố
truyền hơi ấm cho Bác. Tôi nói to để Bác nghe và dặn Bác nếu Bác
nhận ra tôi là ai, xin Bác hãy siết tay tôi, cũng chẳng thấy một
phản ứng gì!
Ngay
giây phút đó, tôi chợt nhớ đến những giờ phút chót của cha tôi
khi cụ nằm trong bệnh viện tại Montreal. Tôi đã thường lái xe từ
Toronto xuống Montreal trong 6 tiếng đồng hồ mỗi chiều thứ sáu
sau khi đã dậy học xong. Lúc này, cha tôi đã hoàn toàn hôn mê,
giống như Bác ngày hôm nay! Tôi đã từng ghé cả hai tai bên Cụ để
nói:
“Con
đây!”
những
mong để nói cho Cụ biết là tôi đang ở bên Cụ . Chỉ là ảo vọng mà
thôi vì giữa chúng tôi đã có một “bức tường vô hình chia danh
giới” giữa cõi âm và cõi dương! Quãng đường từ Montreal về lại
Toronto có những giờ phút rất cô độc, sót sa, helpless …thật là
khó quên.
Ra khỏi
nhà thương, tôi không còn muốn đi shopping ở trên phố như đã
định trước nữa và tôi muốn đi thẳng về nhà. Trong lúc chờ
Streetcar, có một cái gì thúc dục tôi phải lấy giấy bút ra để
ghi lại những gì tôi đang có trong đầu trong bài thơ “Tiễn
Biệt” dưới đây :
TIỄN BIỆT
Dẫu
vẫn biết có Sinh và có Tử,
Nhưng mà sao Tiễn Biệt thấy buồn tênh.
Ðời
Trần Gian có nhiều lúc gập ghềnh,
Gặp
Bác rồi, biền biệt, Bác về đâu?
Bác
nằm im, nhắm mắt chẳng gật đầu,
Giã
biệt Bác, hẹn gặp nhau kiếp khác!
Vô
Không
Sept.1, 2004
3.

Sương
mù đã tan, nắng đã lên, ánh nắng của chớm Thu không còn gay gắt
như ánh nắng của Mùa Hè nữa. Tôi đứng lên để tiếp tục đi bộ về
nhà và bắt đầu một ngày hoàn toàn Vô Thường như mọi ngày.
Ðàm Trung Phán
Toronto, Canada
Tháng Chín, 2004
Trở về Trang Chính
|