|
LỜI PHI LỘ CỦA TÁC
GIẢ: Một buổi hội thảo giáo dục mang chủ đề “Academic Success
for All Limited-English-Proficient Students” đã được Oklahoma
State Department of Education tổ chức ngày 22-2-2002 tại
University of Central Oklahoma. Trong bài thuyết trình chủ đề
(keynote address) khai mạc cuộc hội thảo, tôi đã gửi đến người
nghe một cảnh giác khẩn trương chứa đựng những điều có thể làm
buồn lòng một số thính giả trong buổi hội thảo nhưng vẫn phải
nói ra. Xin gửi đến bạn đọc bốn phương bản dịch sang tiếng Việt
của bài thuyết trình đó.
* * *
Phần
trình bầy của tôi hôm nay với quý đồng nghiệp tại Oklahoma được
hứng khởi bởi một bài viết mang tên “What Teachers Need to Know
about Language” phổ biến vào mùa hè năm 2000 của Giáo sư Lily
Wong Fillmore thuộc University of California at Berkeley và Giáo
sư Catherine Snow thuộc Harvard University. Đọc xong bài viết
ấy, tôi thấy như nỗi ưu tư của chính tôi (và có lẽ của nhiều nhà
giáo dục ngôn ngữ khác nữa) đã được hai tác giả nói dùm lên một
cách rất hùng hồn. Đó là một tiếng chuông cảnh tỉnh cho nghề
nghiệp chúng ta.
Hai
vị giáo sư nêu trên nhận thấy hình như các học trò mà tiếng mẹ
đẻ không phải là Anh ngữ càng ngày càng bị khó khăn trong việc
học hỏi ngôn ngữ này. Có những em khi ghi danh học mẫu giáo được
xếp loại “khả năng Anh ngữ hạn chế” và 13 năm sau đó khi tốt
nghiệp trung học vẫn thuộc loại “khả năng Anh ngữ hạn chế”! Ngay
cả những em rất chăm chỉ học hành, thuộc đủ mọi sắc tộc, bất kể
là sản phẩm của giáo dục song ngữ hoặc là của giáo dục ESL, cũng
không chinh phục được Anh ngữ. Những dữ kiện từ chương trình ESL
của University of California at Irvine năm 1997 vẽ lên một hình
ảnh bi đát: 60% các sinh viên năm thứ nhất đã rớt bài thi luận
văn Anh ngữ tại trường này, và 90% của các sinh viên thi rớt này
là người Á châu đã từng theo học ở Mỹ tối thiểu là 8 năm. Đó là
các em học sinh đã tốt nghiệp trung học với hạng danh dự, đã
từng học các lớp Anh ngữ cao cấp (AP English). Nhưng, khổ thay,
khả năng viết tiếng Anh của các em cho chúng ta thấy các em
không nắm vững được cú pháp thứ tiếng này chút nào! Đó là chuyện
ở California. Còn ở Texas thì cách đây ít lâu tôi có nhận được
một thư mời viết bằng thứ tiếng Anh thuộc loại vừa tả của một
sinh viên gốc người Việt, nguyên văn như sau: “Do you always
wanted to know what is the different between the Vietnamese and
American culture? Do you always wondering why
our parents thinking are so differences than we are? Than come
to the Living Two Cultures Conference.” [Chú thích ngoài lề của
tác giả: Ba câu tiếng Anh này chứa đựng quá nhiều lỗi về văn
phạm và về cách dùng chữ, có thể làm cho người nắm vững căn bản
tiếng Anh phải rùng mình. Trong câu thứ nhất, nhóm chữ “Do you
always wanted to know…” không thể nào có thể được chấp nhận
trong tiếng Anh, vì trợ động từ “do” trong dạng hiện tại không
thể đi với động từ “wanted” trong dạng quá khứ. Thường thường
người ta nói ‘Have you ever wanted to know…” Phần còn lại của
câu thứ nhất cũng sai ở chỗ người viết đã dùng cách nói trực
tiếp (direct speech) thay vì cách nói gián tiếp (indirect
speech) mới đúng, đó là chưa kể đến danh từ “difference” đã viết
sai thành tính từ “different” và chữ “culture” ở cuối câu phải
là số nhiều mới đúng. Vậy thời phần chót của câu thứ nhất phải
là “what the difference between the Vietnamese and American
cultures is” trong trường hợp chúng ta chấp nhận chữ
“difference” ở dạng số ít như người viết đó đề nghị. Câu thứ hai
cũng sai không kém gì câu thứ nhất. Nhóm chữ “Do you always
wondering why…” không thể là tiếng Anh được chút nào, mà phải
thay thế bằng “Have you ever wondered why…” và phần còn lại của
câu thứ hai cũng có vài lỗi sơ đẳng: thiếu dấu hiệu chỉ sở hữu
cách (possessive case) cho danh từ “parents”, danh từ
“differences” dùng thay và sai cho tính từ “different”, cũng như
“we are” dùng thay và sai cho đại từ sở hữu “ours”. Phần cuối
của câu thứ hai phải là “our parents’ thinking is so different
than ours”. Câu chót khá nhất, vì chỉ viết sai chánh tả chữ thứ
nhất trong câu: “Then” viết sai thành “Than”].
Tôi biết chắc quý đồng nghiệp tại Oklahoma
cũng đã có những kinh nghiệm tương tự.
Vì đâu ra nông nỗi này? Theo tôi, lý do hiển
nhiên là các em đã không được huấn luyện kỹ càng để các em có
thể làm chủ được các cấu trúc cũng như các khuôn mẫu sử dụng của
Anh ngữ. Nhiều giáo chức ngày nay không đủ khả năng giúp học trò
chinh phục văn phạm và cú pháp tiếng Anh. Cách đây vài chục năm,
văn phạm tiếng Anh và ít nhất là một ngoại ngữ được cho vào học
trình trung học Mỹ, nhưng ngày nay hai môn học này không còn là
những môn học bắt buộc nữa. Do đó, vài ba thế hệ nhà giáo đã
không có cơ hội trau giồi văn phạm và ngoại ngữ khi họ còn ở
trung học. Không nắm vững văn phạm, các nhà giáo này không nhận
ra các lỗi văn phạm của học trò, và nếu có nhận ra những lỗi của
học trò cũng không biết cách giúp chúng sửa các lỗi đó ra sao.
Họ cũng có khuynh hướng quá dễ dãi lúc chấm bài học trò. Hai
giáo sư Fillmore và Snow có đưa ra thí dụ một bài luận văn trong
lớp “Honors English” của một học trò trung học gốc ngoại quốc,
viết không đâu vào đâu, hoàn toàn không lớp lang, và đầy lỗi văn
phạm. Vậy mà người phụ trách giảng dạy không hề sửa một chút
nào và còn phê hai chữ “Great work!” thật lớn vào trang đầu của
bài viết ấy! Có lý do gì để cho em học trò này nghĩ là mình viết
tiếng Anh rất kém không?
Một lý do nữa khiến ra nông nỗi này: một vài
lý thuyết về giáo dục ESL khuyên các nhà giáo không nên giảng
dạy văn phạm trực tiếp cho học trò và cũng không nên đề cập đến
các lỗi văn phạm của học trò (vì làm như vậy học trò sẽ bị ức
chế tinh thần và hết ham học). Các nhà giáo chỉ việc nói tiếng
Anh sao cho học trò hiểu được, bằng cách dùng các hình vẽ, các
cách biểu diễn để cho chúng thủ đắc (acquire) tiếng Anh một cách
“tự nhiên” và “tự động”. Theo các lý thuyết ấy thì giảng dạy
trực tiếp không thay đổi gì được tiến trình phát triển ngôn ngữ;
sự thủ đắc các luật lệ ngôn ngữ là công việc của các cơ phận đặc
trách ngôn ngữ nằm trong bộ óc. Nhờ vào chúng, học trò cuối cùng
sẽ tự khám phá ra và nắm vững được những luật lệ ngôn ngữ. Nhưng
sự chinh phục ngôn ngữ có thực sự giản dị như vậy không? Tôi
không tin như vậy, và tôi đồng ý hoàn toàn với hai giáo sư
Fillmore và Snow rằng phải có một điều kiện khác nữa vô cùng
quan trọng mới mong được thành công: Các học trò phải tác động
(interact) trực tiếp và thường xuyên với những cá nhân giỏi
tiếng Anh đến độ có thể giải thích cho chúng biết tiếng Anh thao
tác (operates) ra sao và được sử dụng như thế nào. Khi điều
kiện này không có, việc học bất thành. Khi con số học trò chưa
thạo tiếng Anh quá lớn so với con số người giỏi tiếng Anh (như
trong một lớp học mà đại đa số là các học trò chưa thạo tiếng
Anh), thì đây là một tình trạng bi đát. Chuyện gì sẽ xẩy ra
trong trường hợp này? Xin thưa, các học trò sẽ không tiến bộ,
hoặc chúng sẽ học hỏi lẫn nhau. Kết quả là chúng sẽ nói và viết
một thứ tiếng Anh giả cầy pha trộn hai ngôn ngữ (interlanguage
pidgin), đi trệch và khác xa tiếng Anh tiêu chuẩn. Thứ tiếng Anh
giả cầy này hết thuốc chữa, và được các học trò ấy sử dụng một
cách thông thạo và đầy tự tin! Một học sinh 12 tuổi gốc Miên,
sau khi học 8 năm tại Mỹ, đã diễn tả như sau về mấy người bà con
của em vừa sang Mỹ định cư: “Hmm . . . they – they, like, speak
Cambodian more because they more comfortable in it. They don’t
want to talk English sometime because – when they go to school
they don’t, like, really talking, right? But when at home they
chatter-talk. ‘Cause they kind of shy, you know, like, when the
teacher call on them and they don’t know the answer, sometime
they know the answer but they shy to answer. If you ask them,
ask them so quietly, they answer.”
Trước tình trạng khẩn trương này, chúng ta
phải làm gì? Giáo sư Fillmore và giáo sư Snow đề nghị xác đáng
là giáo chức ESL phải được thấm nhuần môn “ngữ học giáo dục” với
các chủ đề như kiến thức về ngôn ngữ và ngữ học, tiến trình thủ
đắc ngôn ngữ thứ hai như thế nào, nghệ thuật học hỏi và giảng
dạy ngôn ngữ thứ hai ra sao, và kiến thức về nét đa dạng văn hóa
trong xã hội Mỹ. Theo tôi biết thì thực ra nhiều chương trình
đào tạo giáo chức ESL (trong đó có chương trình mà tôi đang làm
giám đốc tại Texas Woman’s University) đều đã có những môn học
kể trên, nhưng chúng chưa hữu hiệu đúng mức và cần điều chỉnh
lại. Điều đáng quan ngại là nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp
và trở thành nhà giáo đã không nắm vững được cấu trúc của tiếng
Mỹ để có thể “phát hiện” ra những lỗi của học trò, rồi “chẩn
bệnh” và cuối cùng đề nghị một phương thức giúp học trò chinh
phục những lỗi đó. Sau hơn 30 năm trong ngành giáo dục ESL ở
Việt Nam và Hoa Kỳ, giờ đây nghĩ lại tôi thấy hai cuốn sách đã
giúp tôi nhiều nhất trong thời gian du học tại Mỹ là cuốn
“Patterns of English” của Paul Roberts (1956) và cuốn “The
Structure of American English” của W. Nelson Francis (1958). Hai
cuốn sách giáo khoa này đã cho tôi một nền tảng kiến thức vững
vàng khiến tôi có thể viết tiếng Anh đúng văn phạm khi còn là
sinh viên, và khi thành nhà giáo có thể giải thích cho học trò
của tôi về những lỗi văn phạm của họ khi viết tiếng Anh. Tôi còn
nhớ rõ sự thích thú to lớn của tôi khi tôi “học” được trong cuốn
sách của Francis rằng một mệnh đề bắt đầu bằng liên từ “that”
(như “That he passed the test”) có thể đứng làm chủ từ trong một
câu (như “That he passed the test surprises everyone.”) Tôi lại
càng thích chí hơn nữa khi biết rằng một tính từ cũng có thể
đóng vai chủ từ trong câu, như câu “Easy does it”!
Tôi đề nghị từ nay trở đi các chương trình
đào tạo giáo chức ESL tại các đại học cũng như các chương trình
tu nghiệp giáo chức ESL tại các khu học chánh nên nhấn mạnh gấp
bội về kiến thức văn phạm cũng như về khả năng phát hiện ra lỗi
văn phạm của học trò và tìm cách giúp học trò vượt qua những lỗi
đó. Mỗi lần thấy học trò phạm một lỗi văn phạm, nhà giáo hãy coi
đó như một “cơ hội giảng dạy” (teachable moment) quý báu và sẵn
sàng cung cấp một bài học nho nhỏ. Tôi xin đưa ra dưới đây một
thí dụ trong đó có một lỗi văn phạm rất thông thường của học trò
ESL mà chúng ta không nên làm ngơ, vì nếu chúng ta tiếp tục làm
ngơ thì lỗi đó chắc chắn sẽ mau chóng trở thành vĩnh cửu
(fossilized), hết thuốc chữa cho những học trò đó!
Câu sai văn phạm mà tôi lấy làm thí dụ là “I
am here since yesterday” do một học trò gốc Mỹ châu la-tinh
viết. Câu này nghe bất ổn quá đi, và lỗi là do động từ dùng
không đúng thời (tense). Sau khi đã phát hiện lỗi này, tôi chẩn
bệnh nó như sau: Người học trò này đã chuyển cách dùng thời
tiếng Tây ban nha sang tiếng Anh cho nên đã gây ra một lỗi lầm
thuộc loại “chuyển nhượng tiêu cực” (negative-transfer error).
Quả thực, câu sai văn phạm tiếng Anh “I am here since yesterday”
được chuyển thẳng từ câu tương đương nhưng đúng văn phạm tiếng
Tây ban nha là “Estoy aqui desde ayer”. Đây là cơ hội ngàn vàng
để tôi cho lớp học ôn lại bài học nho nhỏ về cách dùng thời
“present perfect” trong tiếng Anh, một thời để diễn tả một hành
động bắt nguồn từ quá khứ nhưng vẫn còn tồn tại lúc chúng ta
đang nói. Tôi sẽ chỉ hài lòng khi tất cả các học trò trong lớp
(bất kể sắc tộc nào) nhận ra rằng câu “I am here since
yesterday” là trật văn phạm, vì câu đúng phải là “I have been
here since yesterday”!
Tôi xin gửi đến quý đồng nghiệp lời tâm tình
này trước khi chia tay: Chúng ta hãy tìm hiểu thêm về văn phạm
tiếng Anh và hãy lưu tâm hơn nhiều đến những lỗi văn phạm của
học trò để có thể giúp chúng tránh được những lỗi lầm ấy. Sự lưu
loát (fluency) chỉ có giá trị khi nó đi đôi với sự chính xác
(accuracy) của ngôn ngữ. Mục đích tối hậu của giáo dục ESL là
các học trò phải chinh phục được tiếng Anh tiêu chuẩn (standard
English) trong môi trường hàn lâm.
ĐÀM TRUNG PHÁP
Giáo Sư Thực Thụ
Trưởng Khoa Sư Phạm Song
Ngữ và ESL
Texas Woman’s University
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về: damtrungphap@khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|