|
Năm nay xấp xỉ
80 tuổi, nhà lý thuyết ngữ pháp Noam Chomsky – với những kiến
thức siêu phàm về luận lý, triết, và toán học – là một trong
những bộ óc có nhiều ảnh hưởng nhất trong thời đại chúng ta. Ông
cũng là một trong số rất ít các khoa học gia mà công trình
nghiên cứu được quần chúng quan tâm theo dõi.
Sau khi hoàn
tất văn bằng tiến sĩ ngữ học tại Viện Đai Học Pennsylvania vào
năm 1955, Chomsky bắt đầu dạy tại Viện Kỹ Thuật Massachusetts
(MIT). Ông được thăng giáo sư thực thụ năm 1961, và năm 1976
được nhận tước vị “Institute Professor”, tức là được gia nhập
một hàng ngũ chọn lọc các đồng nghiệp mà đa số đã lãnh giải
Nobel về các bộ môn khác nhau. Rất nhiều chuyên viên ngữ học
thời danh khắp năm châu từng là học trò cũ của ông hoặc từng
chịu ảnh hưởng sâu đậm của ông nên vẫn một lòng tiếp tục ngưỡng
mộ và quảng bá những lý thuyết cũ cũng như mới của Chomsky.
NGỮ PHÁP BIẾN TẠO
Sự đóng góp
độc đáo nhất của Chomsky là đã đề xướng được một mô thức không
ai sánh kịp để mở đường cho các khám phá ngoạn mục trong các môn
khoa học tri thức (cognitive sciences). Mô thức riêng cho ngôn
ngữ, thường được biết đến dưới danh hiệu “ngữ pháp biến tạo”
(transformational / generative grammar), được trình làng trong
cuốn Syntactic Structures (1957), khi ông mới 29 tuổi đời. Cuốn
sách nho nhỏ không quá 120 trang này, xuất bản tại Hòa Lan, đã
đánh dấu một kỷ nguyên mới cho khoa ngữ học trong hậu bán thế kỷ
20, thách thức mọi ức thuyết trong các lãnh vực triết lý, tâm
lý, và lịch sử trí thức. Chomsky đã làm thay đổi hướng đi của
khoa ngữ pháp bằng cách không đoái hoài tới những công việc mô
tả và xếp loại các câu nói thực sự (như các nhà ngữ học thời đó
thường làm – một lối làm việc mà Chomsky mỉa mai ví như là nỗ
lực “sưu tầm các loại bươm bướm”), mà là bắt đầu đặt những câu
hỏi về bản chất cái hệ thống sản xuất ra ngôn ngữ. Chomsky cho
rằng lý thuyết về ngôn ngữ của trường phái “hành vi”
(behaviorist), mà những đại diện lẫy lừng là Leonard Bloomfield
và B. F. Skinner, quá hạn hẹp vì chỉ chú trọng đến việc mô tả
những câu nói đã thực sự xảy ra và không cắt nghĩa được bản chất
sáng tạo (creativity) của ngôn ngữ cá nhân. Theo Chomsky, một
ngữ pháp phải có khả năng cắt nghĩa được cái bản chất sáng tạo
quan yếu đó, vì chính nhờ vào nó mà chúng ta có thể thốt ra và
hiểu được một con số vô hạn định những câu nói hoàn toàn mới mẻ
(novel utterances).
Một trong
những xác quyết quan trọng nhất của ngữ pháp biến tạo là sự thừa
nhận một “ngữ pháp đại đồng” (universal grammar), được phản ánh
qua một số các đặc trưng hiện diện trong toàn thể ngôn ngữ nhân
loại, chắc hẳn vì bản chất đồng nhất của bộ óc con người. Ngữ
pháp biến tạo chủ trương làm sáng tỏ, qua những công thức có
hình dạng toán học, tất cả những quy luật ngữ pháp có thể tạo
sinh ra các “cấu thức nổi” (surface structures) tức là tất cả
những gì chúng ta thực sự nói, nghe, đọc, và viết. Nó cũng giả
định sự hiện hữu của các “cấu thức chìm” (deep structures) ở một
mức độ trừu tượng hơn, nằm trong não bộ của người nói, người
nghe, người viết, hoặc người đọc để giúp chúng ta hiểu nghĩa các
cấu thức nổi. Để cụ thể hóa ý niệm “deep structure” cho dễ hiểu
hơn, trường phái Chomsky cũng đưa ra ý niệm tương đương là
“kernel sentence”(tạm dịch là “câu lõi”). Một câu lõi là một câu
đơn gồm có một chủ từ, một động từ ở thời hiện tại và thể xác
định, và một túc từ, chẳng hạn như “The boy eats an apple.”
Xin đưa ra một vài thí dụ
trong tiếng Việt để làm sáng tỏ phần nào những ý niệm trên đây
của ngữ pháp biến tạo. Câu nói “Kim Trọng và Thúy Kiều nhớ nhau”
là một cấu thức nổi, gọn gàng hơn so với câu có thể được coi như
cấu thức chìm là “Kim Trọng nhớ Thúy Kiều và Thúy Kiều nhớ Kim
Trọng.” Và sau đây là một thí dụ về ý niệm biến tạo: Câu “Kim
Trọng được Thúy Kiều yêu” là một cấu thức nổi, biến tạo từ câu
lõi “Thúy Kiều yêu Kim Trọng” qua luật biến tạo thụ động cách.
Luật này, nhanh như điện, đã hoán chuyển vị trí hai nhân vật,
đẩy động từ xuống cuối câu, và thêm ngữ vị chức năng “được” vào
giữa hai nhân vật.
Một cấu thức
chìm có thể được thể hiện qua vài cấu thức nổi (nhờ vào các quy
luật biến tạo khác nhau) mà ý nghĩa vẫn là một, chẳng hạn như
ba câu sau đây: (1) “Kiều trao Kim của tin”, (2) “Kiều trao của
tin cho Kim”, và (3) “Kim được Kiều trao của tin” đều có cùng
một cấu thức chìm. Câu (2) có thể được coi như là gần gũi nhất
với cấu thức chìm chung cho cả ba. Ngược lại, hai cấu thức nổi
rất giống nhau về hình thức nhưng lại có thể khác nhau rất nhiều
về ý nghĩa vì chúng có hai cấu trúc chìm khác biệt. Thí dụ hai
câu (4) “Người Việt dễ chiều chuộng” và (5) “Người Việt sẵn sàng
chiều chuộng” giống hệt nhau về hình thức, nhưng về ý nghĩa thì
trong câu (4) “Người Việt” là túc từ của động từ “chiều chuộng”
và trong câu (5) “Người Việt” lại là chủ từ của động từ “chiều
chuộng.” Trường phái hành vi của Bloomfield và Skinner đã không
thể nào giải thích được sự khác biệt về ý nghĩa này trong các
câu có hình thức tương tự. Xin thú nhận rằng hai câu thí dụ (4)
và (5) của tôi trong tiếng Việt đã do cảm hứng từ hai thí dụ
lừng lẫy của Chomsky trong sách vở: “John is easy to please” và
“John is eager to please.”
Chomsky đã
từng tuyên bố “người nào ở tuổi 50 mà vẫn còn dạy những điều đã
dạy khi 25 tuổi thì nên chọn nghề khác,” và ông đã thực hành
phương châm ấy một cách ngoạn mục. Từ khi cuốn Syntactic
Structures ra đời năm 1957, Chomsky đã không ngừng cập nhật hóa
lý thuyết của mình với nhiều ý niệm mới trong những cuốn sách về
sau, nhất là trong các cuốn Aspects of the Theory of Syntax
(1965), Rules and Representations (1980), Barriers (1986), và
The Minimalist Program (1995).
CƠ QUAN NGÔN NGỮ
Chomsky đã làm
giới nghiên cứu tâm lý và ngữ học trên hoàn cầu (lúc ấy còn đang
cho rằng trí não của trẻ thơ chỉ là một trang giấy trắng) sửng
sốt với ý niệm mới mẻ rằng ngôn ngữ, cũng như đa số các năng
khiếu khác của con người, tùy thuộc vào các cơ cấu trí não đã
được an bài trong nhiễm thể. Theo ông, sự trở nên thành thạo
tiếng mẹ đẻ một cách dễ dàng và nhanh chóng trong thời thơ ấu là
một phần của sự trưởng thành cơ thể đã được thiên nhiên “thảo
chương” từ trước. Cũng như di truyền tính đã ban cho mỗi hài nhi
một trái tim và hai lá phổi càng ngày càng phát triển sau khi
lọt lòng mẹ, di truyền tính cũng ban cho nó một “cơ quan ngôn
ngữ” (language organ) vô cùng phức tạp và hiệu nghiệm. Những
thăng trầm trong đà tiến hóa của loài người đã uốn nắn cái cơ
quan ngôn ngữ ấy sao cho nó chỉ có thể học được những ngôn ngữ
nhất định nào đó trong một phạm vi tương đối nhỏ hẹp của các cấu
trúc luận lý. Những ngôn ngữ khác không ở trong phạm vi ấy thì
ngay cả các thần đồng cũng không tài nào học nổi!
Theo Chomsky,
qua những tác động với môi trường ngôn ngữ ngoài đời, cơ quan
ngôn ngữ sẽ dần dần trở thành ngữ pháp của tiếng nói ấy. Như
vậy, nếu một cá nhân sinh trưởng ở Philadelphia, như trường hợp
Chomsky, khối óc người ấy sẽ ký hiệu hóa (encode) kiến thức về
phương ngữ Philadelphia của tiếng Mỹ. Nếu khối óc ấy sinh trưởng
ở Saigon thì nó sẽ ký hiệu hóa phương ngữ Saigon của tiếng Việt.
NGỮ PHÁP ĐẠI ĐỒNG
Chomsky không
những đã khai sáng ra ngữ pháp biến tạo mà còn kêu gọi các nhà
nghiên cứu hãy lưu tâm đến “những nét đại đồng của ngôn ngữ”
(language universals) để tìm thấy những yếu tố cùng những cơ cấu
có thể hiện diện trong mọi ngôn ngữ, hoặc đa số ngôn ngữ. Và
quan trọng hơn cả, họ phải xác định được những giới hạn, “những
kiềm chế đại đồng” (universal constraints) mà trong đó ngôn ngữ
loài người thực hiện chức năng. Những kiềm chế này, theo
Chomsky, có tính cách di truyền, và con người rất có thể đã được
cung cấp trong nhiễm thể một kiến thức căn bản về ngôn ngữ và
cách thao tác của ngôn ngữ loài người. Chomsky mệnh danh cái
nòng cốt thừa hưởng (inherited core) đó là “ngữ pháp đại đồng”
(thường được viết hoa là Universal Grammar và viết tắt là UG).
Ngữ pháp đại đồng cho rằng
mỗi cá nhân đều biết một số “nguyên lý” (principles) áp dụng cho
tất cả ngôn ngữ và một số “thông số” (parameters) có thể khác
biệt từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia, nhưng chỉ trong những
giới hạn nhất định. Như vậy, học hỏi một ngôn ngữ có nghĩa là áp
dụng những nguyên lý của ngữ pháp đại đồng vào ngôn ngữ đó, và
khám phá ra giá trị của mỗi thông số trong ngôn ngữ đó.
Một nguyên lý
của ngữ pháp đại đồng là “sự phụ thuộc cấu trúc” (structure
dependency). Điều này có nghĩa là nếu chúng ta muốn hiểu một
ngôn ngữ, chúng ta phải dựa vào kiến thức của những “tương quan
cấu trúc” (structural relationships) trong câu, thay vì chỉ nhìn
vào câu đó như một chuỗi chữ nối tiếp nhau. Vậy thì sự hiểu ý
của câu “Kiều và Vân nép dưới hoa” không phải là “Kiều / và /
Vân / nép / dưới / hoa” mà là như sau: Câu này gồm hai phần mệnh
danh “chủ ngữ” (subject) và “vị ngữ” (predicate). Chủ ngữ là vai
trò của cụm danh từ (noun phrase) gồm các từ “Kiều và Vân”, và
vị ngữ là vai trò của cụm động từ (verb phrase) gồm các từ “nép
dưới hoa.” Cái tương quan cấu trúc giữa chủ ngữ và vị ngữ trong
câu này giúp người nghe, người đọc hiểu ý nghĩa của nó.
Cấu trúc câu
tiếng Việt trên đây cũng nằm trong cái “quy luật kết cấu cụm từ”
(phrase-structure rule) khét tiếng trong cuốn Syntactic
Structures: S
--->
NP + VP. Trong quy luật này, S đọc là “sentence”,
--->
đọc là “consists of” hoặc “is rewritten as”, NP đọc là “noun
phrase”, và VP đọc là “verb phrase.” Về chức năng thì NP ở đây
đóng vai “subject” và VP đóng vai “predicate.”
Một trong
những thông số có thể thay đổi – trong những giới hạn nào đó tùy
ngôn ngữ – là “thông số đầu” (head parameter) tức là yếu tố
chính của mỗi cụm từ (phrase). Vì trong tiếng Anh, yếu tố đầu
thường đứng đầu trong cụm từ, Chomsky mệnh danh tiếng Anh là một
“head-initial language.” Và tiếng Nhật, vì hoàn toàn trái ngược
với tiếng Anh trong thông số này, được coi là một “head-final
language.” Hai thí dụ sau đây về các cụm từ Anh và Nhật (với ý
nghĩa tương đương) sẽ làm sáng tỏ vấn đề, trong đó các “heads”
được viết bằng chữ lớn: (1) IN Japan = Nihon NI, và (2) (I) AM
Japanese = (Watashi wa) nihonjin DESU.
HƯỚNG VỀ TƯƠNG LAI
Chomsky trông đợi ngày các
nhà nghiên cứu ngữ pháp đại đồng sẽ hoàn tất một bảng liệt kê
các “nguyên tử ngôn ngữ” (linguistic atoms) cùng với những sự
kết hợp của chúng để nhờ vào đó chúng ta có thể điểm mặt bất cứ
một ngữ pháp nào của nhân loại, tương tự như “bảng tuần hoàn”
(periodic table) mà nhà bác học Dmitry Mendeleyev đã thực hiện
cho các hóa chất vào năm 1869.
Gần đây hơn, Chomsky trong
cuốn The Minimalist Program (1995) đã áp dụng một “thảo chương ở
mức tối thiểu” để sắp xếp loại toàn bộ lý thuyết ngữ pháp mà ông
đã xây đắp trên căn bản “nguyên lý và thông số” (principles and
parameters approach) trong cuốn Lectures on Government and
Binding(1981). Lần này, Chomsky đã bỏ đi rất nhiều và chỉ giữ
lại những yếu tố cần thiết tối thiểu, vì ông đã hết tâm chú
trọng đến các nguyên tắc “tiết kiệm” (economy) và “đồ án tối
lợi” (optimal design).
Có thể một ngày nào đó lý
thuyết của Chomsky sẽ bị đào thải, do sự đồng thuận của các nhà
ngữ học cho rằng lý thuyết ấy không còn phù hợp hoặc đã “đi trật
đường rầy” trong việc giải thích ngữ pháp nhân loại. Nhưng giả
dụ ngay cả khi điều ấy xảy ra thì nỗ lực siêu phàm hình thức hóa
được những ý niệm của ông trong công việc phân tích ngôn ngữ đã
giúp chúng ta hiểu được những ý niệm kiệt xuất đó. Và chỉ điều
này thôi cũng đã đủ cho chúng ta có thể kết luận rằng “cuộc cách
mạng Chomsky” đã thành công to rồi.
ĐÀM TRUNG PHÁP
Giáo Sư Thực Thụ
Trưởng Khoa Sư Phạm Song
Ngữ và ESL
Texas Woman’s University
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về: damtrungphap@khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|