|
Giáng Sinh vừa qua, trên đường cùng gia đình
sang vãn cảnh tại Mễ Tây Cơ, tôi có ghé tiệm sách Tự Lực tại
Little Saigon và ngẫu nhiên mua được cuốn Chữ Nho & Đời Sống
Mới với tựa đề phụ Thành-ngữ Hán-Việt Thông-dụng của Giáo Sư
Nguyễn Ngọc Phách. Một bất ngờ thích thú biết bao! Ngờ đâu tôi
vừa mua tặng cho chính tôi một món quà Giáng Sinh tuyệt diệu. Là
người mê chữ nghĩa, tôi đã không thể buông cuốn sách trong suốt
tuần lễ thăm viếng Nam California và Mễ Tây Cơ. Tôi ôm ấp món
quà ấy trong khách sạn, trên xe buýt, trên máy bay, và thích nó
đến nỗi phải thông báo ngay cho lớp Hán-Việt do Viện Việt Học hỗ
trợ trên Internet! Kinh nghiệm thú vị này khiến tôi nhớ lại thuở
xa xưa khi kiếm ra cuốn Benét's Reader's Encyclopedia của nhà
xuất bản Harper-Collins khi còn là sinh viên vào thập niên 1960,
và gần đây hơn khi kiếm ra cuốn The American Heritage Dictionary
of Idioms của Christine Ammer do công ty Houghton Mifflin xuất
bản năm 1997, để giới thiệu cho các sinh viên quốc tế của tôi
nơi tôi dạy học.
Chữ Nho & Đời Sống Mới hấp dẫn từ đầu đến
cuối, qua hằng hà sa số các thành ngữ Hán-Việt xếp theo mẫu tự,
từ “a di đà phật” tới “yểu thọ bất nhị”. Kiến thức quảng bác bao
trùm cả đông lẫn tây cộng với cái duyên mặn mà và lòng chân
thành lồ lộ của Nguyễn quân trong những lời bàn rộng cho các
thành ngữ trong sách làm người đọc như tôi thực sảng khoái. Xin
đan cử lời bàn rộng của Nguyễn quân trong thành ngữ “đa nam, đa
thọ, đa phú” (trang 132) có nghĩa đông con trai, lắm tuổi, nhiều
của -lời chúc đầu năm ông cha ta đời xưa rất thích: Theo sách
TRANG-TỬ BÍCH thì khi Vua Nghiêu đi chơi đất Hoa, nhà vua được
viên quan trấn giữ biên thùy chúc như vậy thì ông đã trả lời: Đa
nam đa ưu, đa thọ đa nhục, đa phú đa oán (lắm con trai thì lo sợ
nhiều, sống lâu thì nhục nhã nhiều, càng giàu có thì càng thêm
người oán hận). Cũng có khi câu này được rút ngắn là “Đa nam đa
cụ, đa thọ đa nhục” (con lắm, sợ nhiều, sống lâu, nhục lắm).
Nhưng ra vẻ người Á Đông vẫn thích mấy lời chúc này nên đến giờ
người đã sang đến Mỹ mà còn chơi tranh và tượng Tam Đa (the
three abundancies). Tranh loại này thường vẽ ba ông già diện-mạo
phúc hậu, một ông bế cháu (đa nam), một ông râu dài chấm rốn tay
cầm trái đào (đa thọ), và một ông trông bệ vệ, giầu có (đa phú).
Tranh Tam Đa còn được gọi là tranh Phúc, Lộc, Thọ, một khái niệm
rất được người Việt mến chuộng nên ở đâu cũng có Cư-xá Tam Đa.
Lối làm việc của Nguyễn quân nhất quán và hệ
thống hóa, khiến cuốn sách dễ dùng (user-friendly). Mỗi mục từ
là một thành ngữ Hán-Việt được viết bằng chữ quốc ngữ, và nằm
ngay phía dưới là các chữ nho tương ứng viết dạng phồn thể chân
phương. Rồi nghĩa đen từng chữ nho được chuyển qua tiếng Việt,
tiếp theo là ý nghĩa toàn thể của thành ngữ được giải thích rõ
ràng, có khi kèm theo các thành ngữ tiếng nôm tương đương, và
sau cùng là một giải thích súc tích bằng tiếng Anh hàn lâm.
Chẳng hạn thành ngữ “hữu danh vô thực” (trang 207) được cắt
nghĩa như sau: [hữu có, danh tên, vô không, thực thực]. Chỉ có
hư danh chứ không có thực quyền -như CÓ TIẾNG MÀ KHÔNG CÓ MIẾNG
[Quốc-ngữ]: It is so in name but not in reality > merely
nominal. Tác giả đã bỏ ra nguyên một năm chỉ để hoàn tất phần
Sách-dẫn & Cách Dùng dài 116 trang, in trong phần cuối cuốn
sách. Cứ xem sự phong phú bát ngàn của nội dung, bảng liệt kê
Sách & Tư-Liệu Tra-Cứu (trang 612) với những nguồn thông tin khả
tín, và sự kỹ lưỡng, căn cơ của phần Sách-dẫn (Index) để người
sử dụng cuốn sách có thể “kiểm-tra cả hàng ngang lẫn hàng dọc”,
tôi thiết nghĩ bộ sách tra cứu nghiêm túc này hẳn phải là kết
quả khá nhiều năm của một “labor of love”, một nỗ lực rất đáng
phục. Tôi đã dùng cái “index” này và thấy nó hữu ích lắm, như
trong một textbook đại học vậy. Vốn thích những điển tích trong
Truyện Kiều lấy từ văn chương Trung Hoa, cho nên tôi thử kiểm
tra cầu may xem Thôi Hộ có được Nguyễn quân “chiếu cố” ở trong
“index” hay không. Rất vui khi thấy mục từ “Thôi Hộ, 309” nằm
trong trang 705! Mở trang 309 ra, tôi thấy quả nhiên đại danh
Thôi Hộ đời Đường và bài thơ bất hủ “Đề Tích Sở Kiến Xứ” của ông
đã được đề cập một cách ngắn và gọn trong thành ngữ “nhân diện
đào hoa” như một điển tích cho Truyện Kiều.
Phương pháp giáo dục ngày nay tại Hoa Kỳ nhắc
nhở điều này: Vai trò lý tưởng của người đi học là một “nhà thám
hiểm” (explorer), vì vậy các nhà giáo, các sách giáo khoa phải
cung cấp những phương tiện, những cơ hội cho các “nhà thám hiểm”
ấy tự khám phá ra những điều mới lạ trong cuộc hành trình học
hỏi một cách vui thú đầy hưng phấn. Tài liệu học tập tốt nhất
khi nó là tổng hợp của các bộ môn khác nhau cùng chuyên tâm một
vấn đề, vì sự hiểu biết phát triển mạnh nhất qua những mối liên
quan tri thức. Vì lý do này, một bài học hữu hiệu phải là một
“đơn vị chủ đề” (thematic unit) được khai phá từ nhiều khía
cạnh. Vô tình hay hữu ý, rất nhiều mục từ trong Chữ Nho & Đời
Sống Mới phản ánh triết lý giáo dục vừa kể. Tra cứu các thành
ngữ Hán-Việt trong sách này chẳng khác gì bước vào một “cuộc
hành-trình xa xôi nhưng đầy hoa thơm cỏ lạ” (như lời Nguyễn quân
trong phần Sách-dẫn & Cách Dùng), mặc dù cùng trong lời nói ấy
ông cũng đã khuyến khích độc giả hãy “kiên tâm trì trí”. Những
“hoa thơm cỏ lạ” ấy là những phần thưởng, những chiến thắng cho
các nhà thám hiểm trí tuệ đang cố gắng về nguồn văn học quê mẹ,
và vì thế mà lời khuyên “kiên tâm trì trí” có khi chẳng còn cần
thiết nữa đâu! Nhiều mục từ có thể được coi như những “đơn vị
chủ đề” thượng hạng, trong đó những mối quan hệ kiến thức trong
các lãnh vực văn chương, triết học, chánh trị được thực hiện một
cách tự nhiên, qua những lời bàn rộng ra của tác giả. Tôi xin
đưa ra thành ngữ “thiên hạ vi công”(một mục từ trong sách, trang
479) như một thí dụ. Bốn chữ này đã là một dấu hỏi trong trí não
tôi nhiều năm nay, từ khi tôi thấy chúng được viết lớn trên nóc
một cổng dẫn vào Chinatown ở thành phố New York. Làm một hành
động “thám hiểm” nho nhỏ, tôi hỏi một người bạn trí thức gốc
Trung Hoa thì được biết câu ấy là của Tôn Dật-tiên, nhưng chưa
hài lòng vì không biết chút nào về ngữ cảnh (context) của nó.
Lời giải thích gọn gàng của Nguyễn quân làm tôi rất hài lòng với
sự hiểu biết mới của thành ngữ “thiên hạ vi công”, đặc biệt là
các chi tiết sau đây: Thành ngữ này thực ra chỉ là phần chót của
một câu Tôn Dật-tiên viết ngay trong đầu bài nói về Thuyết Đại
Đồng: Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công, Đạo Trời được thi
hành thì thiên hạ là của chung mọi người. Cũng nên biết là trong
cuốn AN ALBUM IN MEMORY OF DR. SUN YAT-SEN, soạn-giả Tôn
Tuệ-phương (Sui-fong Sun), cháu nội ông, đã dịch câu trên là :
When the Great Way prevails, the world community is equally
shared by all. Lý-thuyết chính-trị của Tôn Văn thường được người
đời gọi là chủ-nghĩa Tam Dân (Dân-tộc, Dân-quyền, Dân-sinh).
Chữ
Nho & Đời Sống Mới, tóm lại, là một kho tàng kiến thức đầy hoa
thơm cỏ lạ trong các lãnh vực ngôn ngữ, văn chương, triết học,
và chính trị đang chờ đón những nhà thám hiểm trí tuệ. Mặc dù
cuốn sách quý này được tác giả nhắm vào giới trẻ Việt Nam sinh
trưởng tại phương Tây cho nên không giỏi tiếng Việt, sự ích lợi
của nó không có biên giới. Ai ai muốn trau giồi tiếng Việt đều
cần cuốn sách tra cứu này. Phải chăng vì đức khiêm tốn mà Nguyễn
quân đã đặt tên phụ cho cuốn sách là Thành-ngữ Hán-Việt
Thông-dụng? Theo tôi, gọi nó là Thành-ngữ Hán-Việt Tinh-túy cũng
không phải là quá đáng đâu.
Trở về Trang Chính
|