|
Thi hào Nguyễn Du ra đời trong hậu bán thế kỷ 18.
Tôi thường tự hỏi có phải trong thời điểm ấy Thượng Đế đã „nổi
hứng“ rộng lượng và công bình mà ban cho nhân loại những thiên
tài văn chương xuất chúng chăng? Như Goethe sinh năm 1749 tại
Đức Quốc, Nguyễn Du sinh năm 1765 tại đất nước chúng ta,
Chateaubriand sinh năm 1768 tại Pháp Quốc, và Wordsworth sinh
năm 1770 tại Anh Quốc. Goethe, đệ nhất văn hào dân tộc Đức, năm
mới 25 tuổi đã viết cuốn truyện tình bi đát mang tên DIE LEIDEN
DES JUNGEN WERTHERS (Những nỗi ưu sầu của chàng trai trẻ
Werther) để nói về mối ưu sầu thực sự của chính ông: Goethe đã
gặp và yêu say đắm trong tuyệt vọng một phụ nữ đã đính hôn với
người khác. Câu chuyện lãng mạn và bi thảm ấy khiến ông lẫy lừng
danh tiếng khắp Âu Châu và cũng làm cho một vài giai nhân đa sầu
đa cảm đang thất tình giống người trong truyện nhảy xuống hồ tự
tử mà trong tay còn nắm chặt cuốn tiểu thuyết kia! Chateaubriand
có thể được coi là nhà văn tiên khởi của trào lưu văn chương
lãng mạn nước Pháp qua cuốn tiểu thuyết ATALA, một câu chuyện
vừa buồn vừa mãnh liệt đam mê trong khung cảnh thiên nhiên rực
rỡ của rừng núi Bắc Mỹ, nơi mà Chateaubriand thường thăm viếng
và làm quen với các sắc dân da đỏ. Và Wordsworth, đệ nhất thi
nhân bên trời Anh Quốc, năm chưa đến 30 tuổi đã cùng Coleridge
xuất bản tập thơ LYRICAL BALLADS, mở đầu cho thời đại thi ca
lãng mạn trong văn học quốc gia ấy. Wordsworth say mê thiên
nhiên và có biệt tài dùng ngôn ngữ bình dị dễ hiểu để diễn tả
những cảm xúc tràn bờ trước vẻ đẹp của rừng, của núi, của giai
nhân. Tôi nhớ mãi những câu thơ sau đây của Wordsworth để tả một
kiều nữ bí mật sống giữa thiên nhiên mang tên Lucy mà thi nhân
ví như một bông hoa đổng thảo:
A
violet by a mossy stone
Half-hidden from the eye
Fair
as a star, when only one
Is
shining in the sky
Thế còn Nguyễn Du của chúng ta
thì sao? Hãy nghe lời người ngoại quốc ca ngợi thi hào họ Nguyễn
trước đã. Thi sĩ lẫy lừng người Ấn Độ chuyên làm thơ bằng tiếng
Anh mang tên Rabindranath Tagore (giải Nobel văn chương 1913)
khi viếng thăm Việt Nam năm 1929 đã coi Nguyễn Du là vị thi sĩ
đứng thứ 3 trong hàng ngũ những thi sĩ muôn thuở, chỉ sau Lý
Bạch và Victor Hugo (theo học giả Thái Văn Kiểm). Văn sĩ Pháp
René Crayssac đã dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp và cho rằng
áng văn kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh mà không sợ kém
các văn chương kiệt tác, vô luận ở thời nào và ở xứ nào (theo
học giả Đào Duy Anh). Như vậy thì thiên tài thi ca họ Nguyễn
của chúng ta khi đứng cạnh những đại danh văn chương của nhân
loại cũng ngang ngửa với họ, cũng đều “mười phân vẹn mười” cả,
nhưng riêng đối với tôi thì đọc thơ Nguyễn Du thích thú gấp bội
phần đọc các tác phẩm của các vị “ngoại quốc” kia, vì tôi là
người cùng một ngôn ngữ và văn hóa với Nguyễn Du.
Nguyễn Du (ND) sinh năm 1765
trong một danh gia vọng tộc. Cha là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm,
người Hà Tĩnh, làm Thủ Tướng triều Lê. Mẹ là Trần Thị Tần, người
Bắc Ninh, kém chồng 32 tuổi. ND mồ côi cha năm 11 tuổi và mồ côi
mẹ năm 13 tuổi. Anh cả là Tiến Sĩ Nguyễn Khảm, Thượng Thư bộ
Lại, anh thứ hai là Nguyễn Điều từng làm Trấn Thủ Sơn Tây. Năm
1783, lúc 18 tuổi, ND đậu Tam Trường (Tú Tài); cùng năm này, một
người anh tên là Nguyễn Đề đậu thủ khoa kỳ thi Hương (Cử Nhân).
Tình hình chính trị lúc ấy thực bất ổn. Năm 1788 Lê Chiêu Thống
cầu viện nhà Thanh; Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở Huế. Năm 1789
Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Năm 1802 Gia Long diệt Tây Sơn,
bắt đầu triều Nguyễn; ND làm tri huyện Phù Dung (thuộc Hưng Yên
ngày nay), mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín (thuộc Hà Tây
ngày nay). Năm 1809 ND làm cai bạ ở Quảng Bình. Năm 1813 ND
thăng cần chánh điện học sĩ, chánh sứ sang nhà Thanh. Năm sau đi
sứ về, thăng tham tri bộ Lễ. Năm 1820 Gia Long mất, Minh Mệnh
nối ngôi. ND được cử chánh sứ sang Tàu báo tang và cầu phong,
nhưng chưa kịp lên đường thì bị bệnh và qua đời, thọ 56 tuổi.
Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa
biết rõ là khi nào ND viết Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh)
trước hay sau khi đi sứ sang Trung Quốc năm 1813. Theo Bùi Kỷ và
Trần Trọng Kim thì Truyện Kiều (TK) bắt nguồn từ một tiểu thuyết
Tàu của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân, văn chương tầm thường, về
một người đàn bà tài sắc, có lòng trung, hiếu, tiết nghĩa, mà
đời bị bèo giạt hoa trôi. ND bỏ bớt những chỗ rườm rà, thô lỗ,
dơ bẩn. So với tiểu thuyết Tàu thì TK của ND thanh nhã và văn vẻ
hơn nhiều. Hà Như Chi, khi so sánh TK với tiểu thuyết Tàu nguyên
thủy, nhận định TK là một công trình nghệ thuật cân đối hoàn
hảo, kết cấu chặt chẽ, tình ý đậm đà khéo léo, văn chương tươi
đẹp, thắm đượm màu sắc Việt Nam và dẫy đầy thi vị.
Vẫn theo Hà Như Chi, một nàng
Kiều tài hoa duyên dáng như thế lại là nạn nhân của một số mệnh
vô cùng khắt khe đã đánh mạnh vào tâm hồn ND và thúc giục cụ
viết nên TK để hả hê những mối cảm tình đối với một người đã
được cụ xem như đồng hội đồng thuyền với mình: ND phải quên nhà
Lê mà ra làm quan với nhà Nguyễn thì có khác chi, vì chữ “mệnh”
oái oăm, nàng Kiều phải bỏ Kim Trọng mà chịu bước giang hồ?
Đúng là:
Vui
là vui gượng kẻo là,
Ai
tri âm đó mặn mà với ai?
Nội dung TK gồm 3254 câu thơ lục-bát có thể
chia làm 3 phần: (1) Thúy Kiều và Kim Trọng gặp gỡ và gắn bó
với nhau; (2) Những nỗi khổ của Thúy Kiều trên bước đường luân
lạc; và (3) Kim-Kiều tái ngộ. TK còn là một tác phẩm chứng minh
cho định luật “tài mệnh tương đố”: Kiều là kẻ tài hoa nên phải
mệnh bạc. Trong phần kết, may thay, ND cũng cho chúng ta tin
tưởng rằng thiện tâm có thể cải hóa được số mệnh:
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ
tâm kia mới bằng ba chữ tài
Những phân đoạn chính trong TK như sau:
Phần (1): (a) Xác định thuyết tài mệnh tương đố , (b) Kiều gặp
Kim Trọng, (c) Kiều và Kim Trọng thề thốt gắn bó. Phần (2): (a)
Gia biến nàng Kiều, (b) Mã Giám Sinh mua Kiều, (c) Kiều phó thác
tâm sự cho em, (d) Mắc tay Tú Bà, (e) Đi trốn với Sở Khanh, (f)
Kiều tiếp khách trong lầu xanh, (g) Kiều được Thúc Sinh chuộc
ra, (h) Mắc tay Hoạn Thư, (i) Đi trốn, (j) Giác Duyên sợ liên
lụy, gửi Kiều cho Bạc Bà, (k) Bạc Bà lừa dối, Kiều lại bị bán
vào lầu xanh, (l) Được Từ Hải chuộc ra, (m) Kiều báo ân báo oán,
(n) Mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị giết, (o) Kiều nhảy xuống
sông Tiền Đường, (p) Giác Duyên vớt Kiều. Phần (3): (a) Kim
Trọng trở lại vườn Thúy, (b) Lấy Thúy Vân, (c) Làm quan ở Lâm
Tri , (d) Tìm Kiều ở Hàng Châu, (e) Giác Duyên đưa đến gặp Kiều,
(f) Kim-Kiều xem nhau như bạn, (g) Kiều đánh đàn kết liễu đời
bạc mệnh, (h) Kết thúc: Thiện tâm sửa được số mệnh.
Chúng ta đã nghe người ngoại quốc ca tụng TK
trên đây, và bây giờ chúng ta tìm hiểu xem các nhà phê bình văn
chương người Việt nghĩ gì về tuyệt tác phẩm này của Nguyễn Du.
Tôi xin đóng góp trong phần này này bằng cách tóm lược một số
nhận định về giá trị TK của các nhà phê bình tên tuổi từ trước
đến nay để chúng ta có một cái nhìn bao quát.
PHẠM QUỲNH: Sau
khi cho rằng TK của ND hay hơn cả văn chương của Khuất Nguyên
bên Tàu và văn chương của Racine và Bossuet bên Tây, Phạm Quỳnh
trong ngày giỗ ND năm 1924 tại Hà Nội đã thề trước anh linh thi
hào họ Nguyễn rằng “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn,
nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh
xin dầu lòng dốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm
nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh táo,
quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của
tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây” (Tạp chí Nam
Phong, tháng 8, 1924). Vì những lời này mà Phạm Quỳnh bị hai cụ
nghè Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng xỉ vả thậm tệ (tôi sẽ nói
tiếp về vụ này ở một đoạn sau).
NGUYỄN TƯỜNG TAM:
Nhà văn thủ lãnh của Tự Lực Văn Đoàn viết trong Tạp chí Nam
Phong năm 1924: “Cái làn sóng thơ Kiều hình như lai láng khắp
cõi Nam. Trừ những câu ca dao ra, thật không có quyển truyện nào
phổ thông trong đám dân gian bằng Truyện Kiều. Vì văn Kiều hay
quá, nên những người nhà quê không có học thức cũng thích xem và
thích ngâm nga. Nhưng nói đến cái hay của văn Kiều thì chưa biết
thế nào mà kể được... Tôi xin nói quyết một lời rằng MONG ĐƯỢC
MỘT QUYỂN TRUYỆN NÀO HAY HƠN TRUYỆN KIỀU LÀ MỘNG TƯỞNG. Cái
trình độ thơ quốc ngữ đến như thế là tuyệt đích rồi ...” Nhận
định về câu thơ thuộc loại “văn hữu dư ba” là câu “Lơ thơ tơ
liễu buông mành”, Nguyễn Tường Tam thấy ba chữ “lơ thơ tơ” nghe
rất êm tai, hay về phần tưởng tượng ít mà hay về phần âm điệu êm
ái nhiều hơn. Và câu “Nách tường bông liễu bay ngang trước mành”
ông thấy rất hay về cảnh sắc. Ông cũng thấy trong TK nhiều chỗ
cảnh và người có liên lạc, đúng như:
Cảnh
nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ
Như lúc Thúc Sinh trở về với Kiều, trông ra
cảnh vật cũng hình như chia vui với mình:
Long
lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng
Và khi Kiều và Kim gặp nhau lần đầu, lúc từ
giã, cô Kiều còn trông theo, nhưng nào thấy gì đâu, chỉ thấy:
Dưới
cầu nước chảy trong veo
Bên
cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha
Hai câu đệm ấy vào thật là tả rõ được cái
buồn, cái nhớ của cô Kiều mà hình như cảnh vật cũng âu sầu!
VŨ ĐÌNH LONG:
Lấy âm nhạc làm ẩn dụ để lượng giá TK, phê bình gia Vũ Đình Long
viết trong Tạp chí Nam Phong năm 1924 rằng “TK thực là một cây
đàn tuyệt quý không phím không dây. Tác giả lấy đầu lưỡi mà nẩy
lên tiếng, mỗi đoạn văn là một cung, mỗi câu văn là một điệu,
mỗi chữ là một tay nỉ non thánh thót, réo rắt tiêu tao, đêm
khuya canh tĩnh mà nghe người tốt giọng ngâm Kiều thì còn đàn
nào hay bằng nữa ... Cụ ND không phải là nhà thi sĩ, cụ chính là
THẦN THƠ vậy!” Theo Vũ Đình Long, những câu Kiều nói với chàng
Kim thật hay thật tình, như :
Thưa
rằng đừng lấy làm chơi
Rẽ
cho thưa hết một lời đã nao
Chữ “rẽ” dùng có thần tình không? Ta thấy
hình như nàng Kiều lấy tay gạt chàng Kim ra vậy! Năm lần láy
chữ “còn” trong hai câu thơ sau đây là một tuyệt chiêu, như thể
một lời thề nguyền vĩnh cửu:
Còn
non, còn nước, còn dài
Còn
về còn nhớ đến người hôm nay
Tình nhân tương tư nhau là những cảnh não
nùng mà ND tả rất khéo. Chàng Kim nỗi lòng canh cánh luôn nghĩ
đến người đẹp đã gặp trong ngày hội Đạp Thanh:
Sầu
đong càng lắc càng đầy
Ba
thu dọn lại một ngày dài ghê!
Đêm không ngủ được, vẩn vơ ngọn đèn tàn:
Tuần
trăng khuyết, đĩa dầu hao
Mặt
mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng
Cậu đồ đã mang nặng gánh tương tư thì còn
thiết gì đến sách, đến bút, đến đàn:
Phòng văn hơi giá như đồng
Trúc
xe ngọn thỏ, tơ chùng phím loan
Ngồi nghe tiếng gió đập vào mành cũng nhớ đến
ai - vì nhớ nhung mà trà mất ngon, mùi hương kém ngát:
Mành
tương phân phất gió đàn
Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình
LƯU TRỌNG LƯ:
Để “đáp lễ” lời cụ nghè Ngô Đức Kế cho rằng TK “chỉ là một thứ
văn chương ngâm vịnh chơi bời, để lúc thanh nhàn mà đọc đôi câu
cho tiêu khiển, chứ không phải là một thứ văn chương chính đại
theo đường chính học, mà đem ra dạy đời được đâu” (báo Hữu
Thanh, tháng 9 năm 1924) và nhất là lời kết tội gay gắt của cụ
nghè Huỳnh Thúc Kháng rằng “Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ
không ích mà có hại ... Hiện xã hội ta ngày nay mà diễn ra những
tuồng thương phong, bại tục kia, cái giống độc con đĩ Kiều gieo
vào trong cõi tư tưởng không phải là ít...” (báo Tiếng Dân,
tháng 9 năm 1930), Lưu Trọng Lư viết trong tuần báo Phụ Nữ Thời
Đàm vào cuối năm 1933: “Ai muốn làm thánh hiền thì đi đọc Ngũ
Kinh, Tứ Thư. Hãy để Truyện Kiều lại cho bọn chúng tôi là hạng
người trong những phút mệt nhọc, buồn rầu, chán nản, cần phải
ngâm nga những câu như:
Dưới
cầu nước chảy trong veo
Bên
cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha
ĐÀO DUY ANH:
Để
kết luận tập “Khảo Luận về Kim Vân Kiều” xuất bản năm 1943, học
giả Đào Duy Anh khẳng định “Nguyễn Du đã gieo trong lòng ta một
mối tin chắc chắn, một mối hy vọng dồi dào với tiếng nói của
ta”. Cũng theo ông, ở thời Lê mạt, ta đã thấy có những tác phẩm
có giá trị như Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Phan Trần
Truyện, Hoa Tiên Ký ... viết bằng quốc âm, nhưng lời văn điêu
trác, hay dùng điển cố, cho nên chỉ được các hạng thượng lưu trí
thức thưởng lãm, mà không phổ cập trong dân gian. Duy Truyện
Kiều văn chương đủ tính nghiêm trang, đường hoàng, điêu luyện,
đủ khiến cho kẻ học thức phải khâm phục và yêu mến, mà lại đủ cả
tính giản dị, phổ thông để khiến cho bình dân hiểu được mà
thưởng thức.
TRẦN TRỌNG KIM:
Trong cuốn “Truyện Thúy Kiều” do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu
khảo xuất bản năm 1925, học giả Trần Trọng Kim viết: “ND khéo
dùng lối hoạt họa, chọn cái hình dáng nào rõ thật nổi, rồi tìm
một vài chữ thật đúng mà tả ra, hễ đọc qua là nhận ngay được
chân tướng:
Kim Trọng:
Phong tư tài mạo tuyệt vời
Vào
trong phong nhã, ra ngoài hào hoa
Mã Giám Sinh:
Quá
niên trạc ngoại tứ tuần
Mày
râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao
Tú Bà:
Thoắt trông nhờn nhợt màu da
Ăn
gì cao lớn đẫy đà làm sao
Sở Khanh:
Một
chàng vừa trạc thanh xuân
Hình
dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng
Từ Hải:
Râu
hùm hàm én mày ngài
Vai
năm tấc rộng thân mười thước cao
HOÀI THANH:
Theo bài viết “Quyền Sống Của Con Người Trong Truyện Kiều” của
nhà phê bình Hoài Thanh năm 1949, nếu nói về mức độ “say” Truyện
Kiều thì không ai bằng ông nghè Chu Mạnh Trinh (một con người
hào hoa phong nhã kiểu Kim Trọng). Nhà thơ lãng mạn này không
phải chỉ say văn chương Truyện Kiều mà lại còn say luôn cả nàng
Kiều như say một giai nhân có thực, đến nỗi đã nói đến những
chuyện si tình như thêu tên Kiều vào tay áo, mơ tưởng dựng một
ngôi nhà vàng cho Kiều ở, mượn cỏ thơm gọi hồn Kiều về, và thấy
như Kiều về thật! Chuyện lạ đời này cũng có thể hiểu được, vì
theo Hoài Thanh, “ND có thể dạy cho ta biết ghét, biết yêu. Ghét
những cái bất lương trong xã hội. Yêu những cảnh sống đáng yêu
và nhân đó tránh cuộc sống tẻ nhạt, hiu hắt, cuộc sống của cỏ
cây... Những cử chỉ uể oải, những câu nói thiếu lòng tin, những
cái nhìn hời hợt, những tâm tư mệt nhọc hình như đương chờ đợi
một cơn gió nào ... TK ngay giờ đây vẫn còn khả năng cải tử hoàn
sinh, vẫn có thể gieo chất nồng say vào cuộc sống...”
NGUYỄN LỘC:
Trong cuốn sách “Văn Học Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ 18” xuất bản
năm 1997 tại Hà Nội, nhà biên khảo Nguyễn Lộc có những nhận xét
tinh tế về cách sử dụng ca dao, tục ngữ trong TK, mà tôi xin tóm
lược trong những đoạn dưới đây:
Có thể nói trong TK có hàng mấy chục câu thơ
ND trực tiếp rút ra từ ca dao. Rất có thể hai câu:
Vầng
trăng ai xẻ làm đôi
Nửa
in gối chiếc nửa soi dặm trường
là rút ra từ câu ca dao:
Tiễn
đưa một chén rượu nồng
Vầng
trăng xẻ nửa tơ lòng đứt đôi
Ca dao trong TK được ND sử dụng như một thứ chất
liệu nghệ thuật, chứ không như những trích dẫn. Không có câu nào
ND dùng lại nguyên vẹn, mà tất cả đều nhào nặn lại cho phù hợp
với phong cách chung của nhà thơ trong tác phẩm. TK có những câu
thơ không thấy dấu vết cụ thể của ca dao, mà ai cũng nhận ra ảnh
hưởng của ca dao, như :
Xót
thay huyên cỗi xuân già
Tấm
lòng thương nhớ biết là có nguôi
Chốc đà
mười mấy năm trời
Còn ra
khi đã da mồi tóc sương
ND cũng dùng rất nhiều tục ngữ, như :
Ra
tuồng mèo mả gà đồng
Ra
tuồng lúng túng chẳng xong bề nào
hoặc:
Bề
ngoài thơn thớt nói cười
Mà
trong nham hiểm giết người không dao
Ngôn ngữ TK vừa súc tích chính xác, đồng thời
lại vừa giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu. ND có thể bằng một vài
câu thơ khắc họa lên sắc nét chân dung ngoại hình của một nhân
vật, hay miêu tả một biến cố, một cảnh ngộ. Một học trò giỏi đi
thi bị rớt có thể tự an ủi bằng cách « lẩy » hai câu thơ súc
tích, hợp tình hợp cảnh của TK:
Có tài
mà cậy chi tài
Chữ tài
liền với chữ tai một vần
Tả một chàng đẹp trai hào hoa phong nhã thì ta
có thể mượn ngay hai câu ND tả Kim Trọng:
Phong
tư tài mạo tuyệt vời
Vào
trong phong nhã ra ngoài hào hoa
Hai câu:
Gìn
vàng giữ ngọc cho hay
Cho
đành lòng kẻ chân mây cuối trời
thực tuyệt đẹp và chí tình để một chàng trai
thiết tha căn dặn người yêu khi giã từ. Và khi giấc mơ ấp ủ từ
lâu nay mới thành sự thực, ta vội kêu lên:
Đến
bây giờ mới thấy đây
Mà
lòng đã chắc những ngày một hai
Qua những nhận định kể trên của
các văn nhân lỗi lạc ngoại quốc và Việt Nam về tuyệt tác phẩm
TRUYỆN KIỀU thì thiên tài Nguyễn Du đã chứng minh một cách hùng
hồn rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ tuyệt vời cho thi ca. Chúng
ta còn chờ đợi gì nữa mà không đọc lại Truyện Kiều thật kỹ càng
để yêu thêm tiếng Việt của chúng ta?
ĐÀM TRUNG PHÁP
Ý kiến, Phê bình xin gửi
về: damtrungphap@khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|