YÊU EM ANH LÀM THƠ:

TRƯỜNG HỢP PABLO NERUDA


GS  Đàm Trung Pháp

22 tháng 09 năm 2005

  

            Nhà thơ kiêm nhà ngoại giao nước Chí Lợi mang bút hiệu Pablo Neruda (1904-1973) đoạt giải Nobel văn chương năm 1971. Tên trên giấy khai sinh của ông là Neftali Ricardo Reyes Basoalto, nhưng từ năm 1946, bút hiệu Pablo Neruda đã được hợp thức hóa thành tên chính thức. Có thể nói Neruda là nhà thơ Nam Mỹ được thế giới biết đến nhiều nhất, và thi tập đầu tay của ông viết  năm 20 tuổi đã bán được trên một triệu cuốn và đã được dịch sang hơn 20 ngôn ngữ từ đó đến nay.

 

            Neruda sinh ra trong một gia đình khiêm tốn tại một tỉnh nhỏ miền nam Chí Lợi và bắt đầu làm thơ năm lên 10. Từ năm 1921 ông theo học văn chương Pháp tại Universidad de Chile ở thủ đô Santiago. Năm 1924, mới 20 tuổi đầu, Neruda đã lẫy lừng danh tiếng thế giới sau khi xuất bản thi tập HAI MƯƠI BÀI THƠ TÌNH VÀ MỘT BÀI CA TUYỆT VỌNG (Veinte poemas de amor y una canción desesperada), dựa vào một mối tình tan vỡ đắng cay. Ba năm sau, Neruda được bổ nhiệm làm lãnh sự tại Miến Điện. Những năm sau đó ông được thuyên chuyển đến các nhiệm sở ngoại giao tại các quốc gia khác ở  Á Châu và Aâu Châu và tiếp tục viết cho các chuyên san văn học cũng như báo chí. Neruda gia nhập chính trường, đắc cử vào thượng viện, gia nhập đảng cộng sản, từng bị lưu vong, rồi chán ngán chủ thuyết cộng sản sau khi được biết những tội ác tầy trời xảy ra dưới triều đại Stalin. Làm thơ vẫn là mối đam mê lớn nhất của ông. Thi tập CƠ NGƠI TRÊN TRÁI ĐẤT (Residencia en la tierra) gồm các bài thơ viết từ 1933 đến 1947 nói lên sự suy thoái xã hội cùng sự cô lập cá nhân. Thi tập đồ sộ BÀI CA TỔNG QUÁT (Canto general) gồm 340 bài thơ xuất bản năm 1950 là một thiên anh hùng ca đề cao Mỹ Châu La Tinh. Những năm sau cùng cuộc đời,  danh vọng Neruda lại càng lên cao: Oâng đoạt giải Nobel văn chương năm 1971 và được cử làm đại sứ Chí Lợi tại Paris từ 1970 đến 1972.

 

 Pablo Neruda đã yêu và sống với vài người đẹp trong cuộc đời. Sau khi chấm dứt mối tình sóng gió với nàng Josie Bliss người Miến Điện có nhiều máu Hoạn Thư, Neruda vào năm 1930 lập gia đình với Maria Antonieta Hagenaar, một phụ nữ Hòa Lan không biết nói tiếng Tây Ban Nha, và hai người ly thân năm 1936. Sau đó Neruda chung sống với họa sĩ Delia del Carril người xứ Á Căn Đình trong một thời gian khá lâu. Năm 1955 Neruda cưới ca sĩ  Matilde Urrutia, một người cùng quê quán mà ông quen biết từ năm 1946. Matilde trở thành người vợ sau cùng cũng như Nàng Thơ đích thực của Neruda. Nhà thơ thường yêu dấu gọi Matilde là "cô gái ngát hương miền Chillán" (Chillaneja fragrante) và là "nữ hoàng và mệnh phụ của mọi ngày trong tuần, của mọi thời điểm" (reina y senora de cada jornada, de cada etapa�. Nàng cung cấp  thi hứng ngập trời cho những bài thơ trác tuyệt trong các thi tập  NHỮNG VẦN THƠ NGƯỜI THUYỀN TRƯỞNG (Los versos del capitán) và MỘT TRĂM BÀI  THƠ TÌNH (Cien sonetos de amor).

 

Matilde Urrutia (1912-1976) học âm nhạc từ nhỏ. Theo tài liệu của "Fundación Pablo Neruda" dựa vào lời thân nhân và bạn bè kể lại thì Matilde là một phụ nữ hấp dẫn, tràn đầy nhựa sống, tóc màu hạt dẻ, rất thông minh lanh lợi, tính tình nồng thắm, chơi dương cầm điệu nghệ, hát hay như chim sơn ca, thích bơi lội và trồng hoa. Nàng gặp Neruda lần đầu tại Aâu Châu năm 1946, và khi hai người tái ngộ năm 1949 tại Mễ Tây Cơ thì nàng nhất quyết bỏ hết mọi chuyện để từ đó luôn sống bên chàng!  Lúc này Neruda đang tỵ nạn chính trị và trên giấy tờ vẫn là chồng của họa sĩ Delia del Carril. Tình yêu tuyệt vời của Matilde đã giúp Neruda vượt khỏi những khó khăn gây ra bởi chính trị cũng như bệnh hoạn. Cặp tình nhân sau đó sống những ngày tháng êm đềm tại Đảo Capri trên Địa Trung Hải. Chính tại đây, Neruda đã viết những bài thơ tình tuyệt vời cho Matilde trong thi tập LOS VERSOS DEL CAPITÁN xuất hiện năm 1952. Cũng trong năm ấy Neruda được phép trở về Chí Lợi. Năm 1959 Neruda cho xuất bản thi tập CIEN SONETOS DE AMOR  cũng để tặng Matilde, người mà thi nhân âu yếm gọi là "ánh sáng ban ngày và ban đêm của tôi" (mi luz de día y de noche).

 

Trong phạm vi nhỏ hẹp của bài viết này, tôi chỉ xin được chuyển sang tiếng Việt một số bài mà tôi cho là tuyệt đẹp trong thi tập LOS VERSOS DEL CAPITÁN. Thi tập này được Neruda cho phổ biến để ghi khắc thời gian thi nhân đang đắm say trong lưới tình của Matilde, lúc mà quả thực "yêu em anh làm thơ"! Yêu đến nỗi thi nhân viết cả những lời thơ cho nàng lên trên ... khăn lau miệng trong tiệm ăn! Neruda là một người viết thơ tình rực lửa. Những bài thơ chứa chan tình ái này chứa đựng nhiều hình ảnh chân thực và cực kỳ thân mật qua một lối viết khi thì nhẹ nhàng êm ái, lúc thì chất ngất đam mê hoặc bâng quơ hằn học. Trong những bài này, Neruda diễn tả ý thơ một cách rất giản dị, rất bộc trực, và do đó thơ của ông có thể được chuyển ngữ dễ dàng mà không sợ bị mất  đi giá trị nguyên thủy. Mời quý bạn đọc thưởng thức một vài bài thơ tình Pablo Neruda viết cho Nàng Thơ bằng da bằng thịt của ông mang tên Matilde Urrutia mà tôi mạn phép chuyển sang tiếng Việt.

NỮ HOÀNG

 

Anh đặt tên em là nữ hoàng.

Có những người cao hơn em.

Có những người băng trinh hơn em.

Có những người yêu kiều hơn em.

 

Nhưng em là nữ hoàng.

 

Khi em quá bộ ra phố

không ai nhận ra em.

Không ai thấy vương miện của em, không ai

thấy tấm thảm bằng vàng đỏ

trải ra để chân em bước tới,

tấm thảm vô hình.

 

Nhưng khi em xuất hiện

tất cả những giòng sông náo động

trong thân anh, những tiếng chuông

lay chuyển cả bầu trời,

và một bài thánh ca ngập tràn thế giới.

 

Chỉ có em và anh,

em yêu ơi, chỉ có em và anh

lắng nghe bài thánh ca ấy.

 

 

HAI BÀN CHÂN EM

 

Khi anh không nhìn được mặt em

anh ngó đôi bàn chân em.

 

Đôi bàn chân bằng xương uốn cong,

đôi bàn chân xinh xinh cứng cáp.

 

Anh biết chúng chống đỡ em,

và cả tấm thân em

vươn lên từ chúng.

 

Eo bụng và ngực em,

Đôi núm nhũ hoa mầu tím,

hốc mắt sâu, miệng thơm mùi trái cây,

suối tóc hung hung đỏ,

tháp nhỏ của anh.

 

Nhưng anh yêu đôi bàn chân em

chỉ vì chúng đã lê bước

trên đất và trong gió và trên nước,

cho đến khi chúng kiếm ra anh.

 

 

TIẾNG EM CƯỜI

 

Nếu em muốn, hãy lấy đi thức ăn,

hãy lấy đi  không khí , nhưng

chớ lấy đi tiếng em cười khỏi anh.

 

Đừng lấy đi nụ hồng em đã hái,

Những giọt nước long lanh

Vì em vui mà bộc phát.

 

Cuộc đấu tranh khổ ải, anh trở lại

với  đôi mắt mệt mỏi vì đã

thấy cuộc đời không thể đổi thay,

nhưng tiếng em cười

khi vang lên không trung

đã mở ra cho anh tất cả

những cánh cửa cuộc đời.

 

Em yêu, trong giây phút tối tăm nhất

tiếng em cười hãy cho anh bám víu, và nếu bất chợt

em thấy máu anh nhuộm đỏ con đường,

em hãy cười lên, vì tiếng em cười

sẽ là thanh kiếm mới trong tay anh.

 

Bên cạnh biển trong mùa thu,

tiếng em cười sẽ dâng cao làn sóng bạc đầu,

và trong mùa xuân, em yêu,

anh thèm tiếng em cười

như đóa hoa anh mong đợi,

đóa hồng xanh vang vọng quê hương.

 

Em hãy cười ngạo buổi tối,

ban ngày, ánh trăng, những con đường

ngoằn ngoèo trên đảo,

hãy cười ngạo chàng trai trẻ này đang yêu em,

nhưng khi anh trở lại,

em có thể không cho anh thức ăn,

không khí, ánh sáng, mùa xuân,

nhưng đừng bao giờ lấy đi tiếng em cười

vì thiếu nó anh sẽ chết.

 

VẮNG MẶT

 

Anh đã kịp xa em đâu

mà em đã lại đến với anh, tươi sáng như pha lê,

hoặc run rẩy, lo âu, như thể bị anh gây thương tích,

hoặc choáng ngộp ái ân, như lúc mắt em

khép kín khi nhận lãnh quà tặng cuộc  đời

anh không ngừng mang đến cho em.

 

Em yêu,

chúng mình kiếm ra nhau

trong cơn khát nên đã

uống cạn luôn cả nước và máu,

chúng mình kiếm ra nhau

lúc đói lòng

nên đã cắn nhau như lửa

để lại trong nhau những vết thương.

 

Nhưng hãy đợi anh,

giữ cho anh những ngọt ngào.

Anh cũng sẽ tặng em

một đóa hoa hồng.

 

 

MÃNH HỔ

 

Anh là mãnh hổ

rình em trong đám lá

rộng như những phiến

kim loại ướt.

 

Giòng sông trắng nước dâng cao

dưới lớp sương mù. Em đến.

 

Trần truồng em ngụp lặn.

Anh vẫn chờ.

 

Rồi trong một nhảy vọt

bằng lửa, máu, răng,

với móng vuốt anh xé tan

ngực em, háng em.

 

Anh uống máu em, anh bẻ gẫy

chân tay em từng chiếc một.

 

Và anh ở lại nhiều năm

trong rừng để canh chừng

đám xương em, tro em,

bất động, cách biệt khỏi

căm hờn và phẫn nộ,

được những chùm dây leo phủ kín,

bất động trong mưa,

tên lính canh trai đá

một cuộc tình sát hại.

 

 

MÃI MÃI

 

Đối diện em

anh không ghen tuông.

 

Hãy đến với một  tên đàn ông

trên vai em,

đến với một trăm tên đàn ông trong tóc em,

đến với một ngàn tên đàn ông giữa ngực và chân em,

đến như một giòng sông

tràn ngập  những tên đàn ông chết đuối

sắp trôi ra biển dữ

bọt trắng phau.

 

Mang tất cả

đến chỗ anh đợi em:

chúng ta sẽ mãi mãi cô đơn,

chúng ta sẽ mãi mãi, em và anh,

cô đơn trên trái đất

để bắt đầu cuộc sống.

  

 GS  Đàm Trung Pháp

 

 

Trở về Trang Chính