|
“RẮN TRONG LỖ” HAY “ ĐỒ ĂN NHẸ TRONG HỘI
TRƯỜNG”?
Từ nhiều năm nay tôi thường có một số sinh
viên quốc tế theo học chương trình giáo dục ngôn ngữ tôi phụ
trách tại Texas Woman's University. Cách nói và viết tiếng Anh
khá đặc thù của họ đã kích thích tính tò mò của tôi và thúc đẩy
tôi tìm hiểu thêm về những dạng thức khác nhau của tiếng Anh
ngày nay trên thế giới. Đôi khi tôi thắc mắc và tự hỏi liệu
những người nói tiếng Mỹ “tiêu chuẩn” như quý bạn và tôi có khó
khăn gì không khi giao dịch với những người nói tiếng Anh loại
này, chẳng hạn trong trường hợp giả dụ rất có thể xảy ra dưới
đây?
Chúng ta đang dự một buổi tiếp tân tại một
khách sạn bên Ấn Độ, quê hương của biết bao thứ mãng xà, và bất
chợt nghe vị MC bản xứ dõng dạc nói qua máy vi âm điều gì nghe
như thể “Snakes are now in the hole, please serve yourself!” thì
chắc chắn chúng ta sẽ chới với. Khiếp thế, cho ăn gì đây? Hổ
mang hoa, rắn đeo kính chăng? Thưa không phải như vậy đâu, may
thay! Sự hiểu lầm này xảy ra chỉ vì cách phát âm độc đáo của Anh
ngữ Ấn Độ mà thôi. Trong phương ngữ này, người ta giảm bớt đi
một số mẫu âm bằng cách “giết hai con chim bằng một hòn đá”, và
vì vậy hai chữ “snack” và “snake” chứa đựng hai mẫu âm khác
nhau một trời một vực đều được phát âm là “snake”. Hai mẫu âm
khác nhau trong chữ “hall” và chữ “hole” cũng cùng chịu chung
một số phận ấy, và cùng được phát âm là “hole”! Thứ tiếng Anh
này cũng có một số từ vựng độc đáo, như “co-brother” và
“co-sister” chẳng hạn, ý nghĩa tương đương với “anh em cột chèo”
và “chị em dâu” trong ngôn ngữ chúng ta. Quý bạn nào tôn trọng
ngữ pháp tiêu chuẩn trong tiếng Anh, tiếng Mỹ sẽ không khỏi chau
mày khi thấy người nói Anh ngữ Ấn Độ sử dụng các “thời” trong
động từ theo quy luật riêng lạ kỳ của nó, như trong hai thí dụ
điển hình sau đây: “We are here since yesterday” (thay cho We
have been here since yesterday) và “They've been here 20 years
ago” (thay cho We were here 20 years ago). Xin nhớ là những
người này rất có học và sử dụng Anh ngữ Ấn Độ tiêu chuẩn đấy.
LINGUA FRANCA HOÀN VŨ
Thực khó mà coi nhẹ vai trò tiếng Anh ngày
nay trên thế giới. Tiếng Anh hiện được coi là một lingua franca
tức là thứ tiếng dùng chung của hằng hà sa số những người không
nói cùng một thứ tiếng mẹ đẻ. David Crystal (1996) ước lượng số
người sử dụng tiếng Anh trong 3 khối nhân loại tượng trưng bằng
3 vòng tròn đồng tâm lan rộng ra như sau: (1) “Vòng tròn trong
cùng” gồm những xứ mà đại đa số dân chúng nói tiếng Anh như
tiếng mẹ đẻ, như Hoa Kỳ, Anh Cát Lợi, Úc Đại Lợi, vân vân, có
khoảng từ 320 đến 380 triệu người; (2) “Vòng tròn ngoài” gồm
những xứ mà dân chúng sử dụng tiếng Anh từ lâu như Ấn Độ, Tân
Gia Ba, Ghana, vân vân, có khoảng từ 150 đến 300 triệu người; và
(3) “Vòng tròn lan rộng” gồm những xứ như Trung Hoa, Nga, Việt
Nam, vân vân, có khoảng từ 100 triệu đến 1 tỷ người. Như vậy,
con số người nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ nhỏ hơn con số người
dùng nó như một thứ ngôn ngữ thứ hai rất nhiều. Tổng cộng, tối
đa có cả thẩy 1 tỷ 680 triệu người hiện dùng tiếng Anh trên thế
giới. Đúng như lời tiên đoán vào năm 1780 của Tổng Thống John
Adams (1735-1826) rằng tiếng Anh sẽ là ngôn ngữ được nể vì nhất
trên thế giới và sẽ được đọc và nói nhiều nhất hoàn vũ trong
những thế kỷ kế tiếp.
HIỆN TƯỢNG BẢN XỨ HÓA
Hiển nhiên khi tiếng Anh lan tràn đến một
nơi xa lạ, nó sẽ không thoát khỏi ảnh hưởng tiếng nói của người
địa phương, trong tiến trình “bản xứ hóa”. Hiện tượng trăm hoa
đua nở này đã mang lại nhiều dạng thức khác nhau cho tiếng Anh,
đến nỗi ngày nay các nhà nghiên cứu đã dùng số nhiều cho danh từ
“English” cho tập thể “the Englishes of the world”! Hai yếu
tố thường được chú ý nhiều nhất trong hiện tượng bản xứ hóa là
phát âm và từ vựng. Bằng phương cách đối chiếu, các nhà nghiên
cứu có thể phát hiện và hệ thống hóa những khác biệt đặc thù
giữa tiếng Anh tiêu chuẩn và tiếng Anh bản xứ hóa. Nhưng thế
chưa đủ, vì tiến trình này còn phản ánh vài yếu tố sáng tạo
khác, như sự giản dị hóa cú pháp hoặc sự sử dụng những phương
thức tu từ cá biệt của các ngôn ngữ địa phương liên hệ.
Các loại Anh ngữ địa phương hóa (và nay đã
qui củ hóa) tại Đông và Tây Phi Châu, Ấn Độ, Tân Gia Ba, Phi
Luật Tân, vân vân, đều cho giảm đi con số âm vị (phonemes) của
tiếng Anh tiêu chuẩn, bằng cách “sáp nhập” các âm vị tương đối
giống nhau (vì chúng ở các vị thế phát âm kế cận) vào làm một.
Đáng kể nhất trong khuynh hướng đại đồng này là việc sáp nhập
các mẫu âm trong các cặp chữ “eat” và “it”, “pool” và “pull”,
“hole” và “hall”; và các tử âm trong các cặp chữ “see” và “she”,
“den” và “then”, “tick” và “thick”. Các cặp chữ vừa kể này với
phát âm khác biệt trong tiếng Anh tiêu chuẩn nay trở thành đồng
âm. Tiếng Anh nói tại Đông Phi Châu (trong các quốc gia Kenya,
Tanzania, và Uganda) đã cho sáp nhập hoặc “đồng hóa” nhiều âm vị
Anh ngữ tiêu chuẩn nhất. Tại đây nhiều người còn không phân biệt
được cách phát âm hai tử âm trong cặp “lice” và “rice” và cũng
cho đồng hóa các tử âm trong ba chữ “ sue”, “shoe”, và “chew”,
tức là biến cả ba chữ ấy thành đồng âm.
Vị trí của âm tiết nhấn mạnh trong một số
chữ cũng thay đổi. Chẳng hạn, tại Tây Phi Châu, người ta nhấn
mạnh âm tiết sau cùng của các chữ “congratulate” và
“investigate” và âm tiết đầu của chữ “success”. Anh ngữ Ấn Độ
hóa biểu hiện một ngữ điệu (intonation) khá lạ tai do ảnh hưởng
của tiếng Hindi, khiến cho nhiều người không quen với ngữ điệu
này rất khó hiểu Anh ngữ Ấn Độ hóa. David Crystal (1995) có nhắc
đến chuyện bà Thủ Tướng Indira Gandhi (một sản phẩm giáo dục của
Đại Học Oxford bên Anh Quốc) đã than phiền với Bộ Giáo Dục trong
nội các của bà về những “tiêu chuẩn đi xuống” của tiếng Anh tại
Ấn Độ, sau khi bà không hiểu nổi lời phát biểu bằng tiếng Anh
của người đại diện Ấn Độ tại một hội nghị quốc tế!
Từ vựng đương nhiên là một đặc thù của các
Anh ngữ địa phương hóa. Nhiều từ ngữ được lấy thẳng từ ngôn ngữ
địa phương, như “askari” (cảnh sát viên), “chai” (trà),
“kibanda” (chợ đen) trong Anh ngữ Đông Phi Châu; “crore” (mười
triệu), “durzi” (thợ may), “sahib” (chủ nhân), “gherao” (phản
đối một cá nhân bằng cách không cho người ấy ra khỏi văn phòng)
trong Anh ngữ Ấn Độ; “koon” (ngủ), “tolong” (giúp), “chope”
(dành trước) trong Anh ngữ Tân Gia Ba; và “boondock” (núi),
“carabao” (trâu nước) trong Anh ngữ Phi Luật Tân. Những từ vựng
địa phương này có được thế giới để ý đến hay không là tùy thuộc
vào tầm quan trọng ý nghĩa của chúng. Vì vậy, trong tiếng Anh
Nam Phi Châu, “apartheid” (chính sách phân chia chủng tộc tại
Cộng Hòa Nam Phi) và “impala” (một loại linh dương tại Nam Phi
Châu chạy rất nhanh) đã gia nhập từ vựng trong đại gia đình Anh
ngữ, trong khi “dorp” (làng nhỏ) và “bredie” (một món thịt hầm)
thì ít người biết đến. Những từ vựng địa phương nào mà đã có
những tương đồng trong tiếng Anh tiêu chuẩn thì thường bị bỏ
qua, như trường hợp “outwith” (tiếng Anh Tô Cách Lan, tương
đương với “outside”) và “godown” (tiếng Anh Ấn Độ, tương đương
với “warehouse”).
Một số từ vựng Anh ngữ tiêu chuẩn khi địa
phương hóa đã thay đổi ý nghĩa, hoặc có thêm ý nghĩa nới rộng,
hoặc được canh tân hình thức với ý nghĩa mới, như trong các thí
dụ sau đây. Trong Anh ngữ Ấn Độ, colony = residential area,
hotel = restaurant / café, police firing = shooting by police,
cousin-sister = female cousin, co-brother = wife's sister's
husband, Eve-teasing = harassment of women, Himalayan blunder =
grave mistake. Trong Anh ngữ Tây Phi Châu, balance = change
(money returned to a customer), bluff = dress fashionably, hot
drink = liquor, hear = understand, take in = become pregnant.
Những biến thiên của cú pháp Anh ngữ tiêu
chuẩn cũng đáng kể trong các Anh ngữ địa phương hóa. Sau đây là
một số kỳ hoa dị thảo nổi bật. Tại Tân Gia Ba, người ta dùng
thành ngữ tân lập “use to” (thời hiện tại) để diễn tả một thói
quen: “I use to go shopping on Mondays” (thay cho I usually go
shopping on Mondays). Nhóm chữ “can or not?” được dùng ở cuối
một câu nói để người nghe phải xác nhận hoặc phủ nhận sự chính
xác của câu nói đó: “She wants to go, can or not?” Điều này xảy
ra tôi đoán là do ảnh hưởng trực tiếp của tiếng Hán, trong đó
“năng bất năng?” là nhóm chữ tương đương về ý nghĩa và vị trí
với “can or not?” được sử dụng phổ thông. Và người ta cũng
dùng chữ “la” (hẳn là do chữ “liễu” trong tiếng Hán mà ra) như
một tiểu từ trong câu nói để diễn đạt sự xuề xòa, thân thuộc:
“Please la come to the party!” Tiếng Anh bên Ấn Độ sử dụng
“isn't it?” (với nghĩa “phải không?”) cho tất cả mọi câu nói để
biến chúng thành các câu hỏi chẳng hạn như các câu “She is
going home soon, isn't it?” và “You did not pass the test, isn't
it?” Và không kém phần sáng tạo, cú pháp tiếng Anh tại Tây Phi
Châu cho phép một túc từ (“them” trong thí dụ sau đây) được sử
dụng trong một mệnh đề phụ bắt đầu bằng một đại từ quan hệ
(“whom” trong thí dụ sau đây), mặc dù túc từ đó không cần thiết:
“The guests whom I invited them have arrived”. Phương ngữ này
cũng không phân biệt ý nghĩa giữa đại từ phản thân “themselves”
và đại từ hỗ tương “each other”, và do đó câu “They like
themselves” đồng nghĩa với câu “They like each other”.
TƯƠNG LAI RA SAO?
Trong lịch sử ngôn ngữ loài người chưa có
thứ tiếng nào được sử dụng rộng rãi như tiếng Anh ngày nay trên
khắp thế giới. Khó đoán chuyện gì sẽ xảy ra sau này. Hiện giờ có
hai vấn đề mâu thuẫn nhau, đó là (1) sứ mệnh truyền thông quốc
tế của tiếng Anh và (2) bản sắc riêng biệt của các loại tiếng
Anh nhuốm màu địa phương. Sứ mệnh truyền thông quốc tế đòi hỏi
yếu tố minh bạch để mọi người cùng hiểu, tức là một tiêu chuẩn
chung mà mọi nơi cùng thỏa thuận về cú pháp, từ vựng, chính tả,
phát âm, và quy ước sử dụng. Một phương ngữ quốc gia của một
ngôn ngữ quốc tế đương nhiên phải có bản sắc đặc thù, cũng trong
các lãnh vực cú pháp, từ vựng, chính tả, phát âm, và quy ước sử
dụng. Tương lai của tiếng Anh trong cương vị một quốc tế ngữ tùy
thuộc vào mức “hòa giải” giữa hai vấn đề mâu thuẫn vừa kể. Một
hòa giải đại đồng có thể sẽ dẫn tới sự hình thành của một thứ
“Anh ngữ tiêu chuẩn thế giới” mà David Crystal (1995) mệnh danh
là “World Standard English”. Theo ngữ học gia lẫy lừng danh
tiếng này thì một trong ba điều sau đây có thể xảy ra:
(1) Một phương ngữ quốc gia “nặng ký”
có thể được các tổ chức quốc tế hàng đầu dần dần chấp nhận và
trở thành Anh ngữ tiêu chuẩn thế giới. Tiếng Mỹ đã và đang đi
những bước dài về hướng này.
(2) Các phương ngữ có thể kết hợp dần
dần để trở thành một hình dạng mới, không giống bất cứ một
phương ngữ hiện tại nào. Một thí dụ là loại tiếng Anh nghe thấy
trong các hành lang quyền lực của Âu Châu, mệnh danh
“Euro-English”.
(3) Một loại Anh ngữ mới tinh
có thể được chế tạo, chỉ nhắm vào những yếu tố quan trọng và hữu
ích nhất trong truyền thông quốc tế. Một thí dụ là lời đề nghị
hồi đầu thập niên 1980 cho phát triển một loại tiếng Anh „hạt
nhân“ chỉ chứa đựng những yếu tố truyền thông tối cần thiết
trong văn phạm và từ vựng mà thôi.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
Crystal, D. (1995). The Cambridge
Encyclopedia of the English Language. Cambridge, England:
Cambridge University Press.
Crystal, D. (1996). English: the Global
Language. Washington, D.C.: U.S. English Foundation.
Kachru, B. (1982). The Other Tongue: English
Across Cultures. Oxford, England: Pergamon Press.
McArthur, T. (2002). The Oxford Guide to
World English. Oxford, England: Oxford University Press.
Trudgill, P., & Hannah, J., (1994).
International English. London: Edward Arnold.
GS TS Đàm Trung Pháp
Trở về Trang Chính
|