|
LỜI PHI LỘ: Vì lý do thực
tế, những đoạn trích dẫn thơ Lý Bạch trong bài viết này sẽ được
ghi theo lối phát âm Hán Việt quen thuộc của chúng ta, thay vì
bằng phương thức „pinyin“ (phanh âm) để ghi âm quan thoại. Đây
cũng là một điều lợi, vì lối phát âm Hán Việt vốn gần gũi với
lối phát âm chữ Hán đời Đường. Để thêm hứng thú cho độc giả, xen
kẽ vào giữa các bài hoặc đoạn thơ trích dẫn của Lý Bạch và phần
chuyển sang tiếng Anh là những bài hoặc đoạn chuyển sang tiếng
Việt của các dịch giả lừng danh. Người Âu-Mỹ thường chỉ đọc thơ
Trung Quốc qua các bản dịch sang ngôn ngữ của họ.
*****
Trong số các thi hào Trung Quốc, có lẽ Lý Bạch
(701-762) đời nhà Đường là người được các dịch giả Anh-Mỹ chiếu
cố đến nhiều nhất. Lý do chính của sự thiên tư này rất có thể là
vì thơ họ Lý không mang nặng bản chất uyên bác với nhiều điển
tích lòng thòng phức tạp. Thực vậy, „giản dị“ và „dễ cảm thông“
là hai đặc trưng nổi bật nhất trong thơ Lý Bạch, theo nhận định
của giáo sư James Hargett, hiện dạy văn chương Á châu tại State
University of New York . Trong bài „The Poetry of Li Bo“ trong
cuốn GREAT LITERATURE OF THE EASTERN WORLD (Ian McGreal hiệu
đính, Harper Collins xuất bản năm 1996), Hargett trích bài tuyệt
cú „Tĩnh Dạ Tứ“, do Arthur Cooper bên Anh Quốc chuyển ngữ năm
1973, để chứng minh nhận định ấy:
Sàng
tiền khán nguyệt quang,
Nghi
thị địa thượng sương.
Cử đầu
vọng minh nguyệt,
Đê đầu
tư cố hương.
Đầu
giường chợt thấy bóng trăng,
Mập mờ
trên đất, ngỡ rằng sương sa.
Ngửng
đầu trông vẻ gương nga,
Cúi đầu
luống những nhớ nhà băn khoăn.
(Dịch giả Trần Trọng Kim)
Before my bed there is bright moonlight
So that it seems like frost on the ground:
Lifting my head I watch the bright moon,
Lowering my head I dream that I'm home.
Hai đặc trưng dễ mến ấy cộng thêm
những ý niệm cận kề với con tim nhân loại (như khi cô đơn, ta
hiểu thế nào là yên tĩnh; đôi khi ta ân hận đã xa nhà và những
người thân yêu; và thế giới đổi thay, tiền tài danh vọng có
nghĩa gì đâu, tại sao không tận hưởng ngày xuân nhỉ) đã khiến
Hargett và nhiều người khác bên trời Âu-Mỹ mến mộ thơ Lý Bạch.
Giáo sư Stephen Owen hiện dạy văn chương Trung Quốc tại Harvard
và đã dịch nhiều thơ Tàu sang Anh ngữ rất chuộng bài “Tương Tiến
Tửu” của họ Lý mà trong đó luận đề “carpe diem” (tương đương với
“xuân bất tái lai”) vốn không xa lạ gì với người phương tây,
được ngợi ca tuyệt vời. Trong một tuyển tập đồ sộ các tuyệt tác
phẩm văn học hoàn cầu đang được dùng trong nhiều đại học Hoa Kỳ
mang danh THE NORTON ANTHOLOGY OF WORLD MASTERPIECES (Volume I,
do Maynard Mack hiệu đính, Norton xuất bản năm 1995), Owen đã
dịch đoạn đầu của bài thơ theo thể nhạc phủ hào phóng và tráng
lệ ấy (”Bring in the Wine”) như sau:
Quân bất kiến
Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi.
Quân bất kiến
Cao đường minh kính bi bạch phát,
Triêu như thanh ty mộ thành tuyết.
Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,
Mạc sử kim tôn không đối nguyệt ....
Thấy chăng ai:
Nước sông Hoàng xuống tự trời kia,
Chảy mau ra biển, chẳng quay về.
Thấy chăng ai:
Gương sáng nhà cao, thương tóc bạc,
Sớm tựa tơ xanh, chiều thành tuyết.
Ở đời đắc ý cứ vui chơi,
Chớ để chén vàng trơ dưới nguyệt ...
(Dịch giả Trần Trọng San)
Look there !
The waters of the Yellow River,
coming down from Heaven,
rush in their flow to the sea,
never turn back again.
Look there !
Bright in the mirrors of mighty halls
a grieving for white hair,
this morning blue-black strands of silk,
now turned to snow with evening.
For satisfaction in this life
taste pleasure to the limit,
And never let a goblet of gold
face the bright moon empty ....
Một bài nhạc phủ nữa rất được
phương tây ngợi ca là bài “Thục Đạo Nan” trong đó Lý Bạch dùng
ngôn từ khuếch đại và dọng văn khẩn trương để dựng lên một cảnh
trí cực kỳ sinh động khiến người đọc phải choáng váng, theo nhận
định của Hargett. Quả thực, trong cảnh trí ấy - với những con
đường cheo leo nguy hiểm chỉ có chim mới bay qua nổi, đất lở,
núi xụp, thác chảy, ban mai phải lánh cọp dữ, buổi chiều phải
tránh rắn dài - người đọc không thể không đồng ý với thi bá họ
Lý rằng:
Y hu hy, nguy hồ, cao tai,
Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên !
Nay xét lại cho kỹ, Lý Bạch chẳng
ngoa chút nào, vì con đường từ Trường An (Changan) kinh đô văn
vật đời Đường, nay gọi Tây An (Xian) thuộc tỉnh Thiểm Tây
(Shaanxi), sang đất Thục nay là tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan), phải
vượt dẫy núi Tần Lĩnh (Qinling) hiểm trở. Ngày nay muốn vào thủ
phủ của Tứ Xuyên là Thành Đô (Chengdu), du khách phải vượt đoạn
đường chông gai dài hơn 400 dặm với trên 300 đường hầm xuyên núi
và gần 1000 cây cầu cheo leo ! Cô ký giả Shirley Sun trong cuốn
JOURNEY INTO CHINA (do National Geographic Society xuất bản năm
1982) đã dịch dùm du khách tây phương hai câu thơ lẫy lừng nêu
trên của Lý Bạch như thế này:
Eheu ! How dangerous, how high !
It would be easier to climb to Heaven
Than walk the Sichuan Road !
Kể từ khi dịch giả Arthur Waley cho
ra đời cuốn sách ONE HUNDRED AND SEVENTY CHINESE POEMS vào năm
1918 tại Luân Đôn, phương tây bắt đầu chú ý đến những đại danh
như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên, Bạch Cư Dị. Những bài thơ
dịch xuất sắc của Waley đã ảnh hưởng đến một số thi nhân Âu-Mỹ,
nhất là hai tên tuổi lớn William Butler Yeats và Ezra Pound. Gần
đây hơn, năm 1987, dịch giả Greg Whincup người Gia Nã Đại đã cho
ra mắt cuốn THE HEART OF CHINESE POETRY (nhà xuất bản Anchor
Books), trong đó có 10 bài thơ Lý Bạch. Trong lời nói đầu của
cuốn sách chứa đựng 57 bài thơ dịch, Whincup thiết tha tâm sự :
“Thi ca được coi là nữ hoàng của nghệ thuật cổ truyền Trung Hoa,
và những thi nhân tài hoa nhất mọi thời đại đều vang rền tên
tuổi. Vì chúng ta là thành phần của cùng một nhân loại, văn hóa
Trung Hoa cũng là văn hóa chúng ta. Trái tim thi ca Trung Hoa
cũng đập trong lòng chúng ta nữa ....”
Người phương tây muốn học chữ Hán
qua thi ca chắc chắn sẽ hài lòng với cuốn sách của Whincup.
Ngoài các bài dịch sang Anh ngữ rất chỉnh, cuốn sách còn cho các
bài thơ ấy hiện lên bằng chữ Hán phồn thể, cộng với lối phát âm
quan thoại (theo ký hiệu phiên âm của Đại học Yale), và nhất là
những lời chú giải khá hấp dẫn của dịch giả. Mười bài thơ họ Lý
được Whincup cho vào tuyển tập là các bài “Sơn Trung Vấn Đáp”,
“Tống Hữu Nhân”, “Tặng Mạnh Hạo Nhiên”, “Tống Mạnh Hạo Nhiên Chi
Quảng Lăng”, “Hoành Giang Từ”, “Tự Khiển”, “Tảo Phát Bạch Đế
Thành”, “Xuân Tứ”, “Ngọc Giai Oán”, và “Thính Thục Tăng Tuấn Đàn
Cầm”.
Theo Whincup, Lý Bạch là người tài
hoa trác tuyệt nhất trong các thi nhân Trung Quốc, có thể ví như
một thần linh, một động lực của thiên nhiên không chấp nhận một
bó buộc nào của nhân sinh mà chỉ thích làm thơ, uống rượu, vui
với trăng sao và bè bạn. Whincup đã khéo lựa những bài tuyệt tác
của Lý Bạch để minh chứng cho nhận định của mình về thi ca vị
thần thơ ấy. Dưới con mắt Whincup, bài ngũ ngôn bát cú “Tống Hữu
Nhân” thực kiệt xuất về cả hình thức lẫn nội dung:
Thanh sơn hoành bắc quách,
Bạch thủy nhiễu đông thành.
Thử địa nhất vi biệt,
Cô bồng vạn lý chinh.
Phù vân
du tử y;ù
Lạc
nhật cố nhân tình.
Huy thủ
tự tư khứ,
Tiêu
tiêu ban mã minh.
Chạy
dài cõi Bắc non xanh
Thành
Đông nước chảy quanh thành trắng phau.
Nước
non này chỗ đưa nhau
Một xa
muôn dặm biết đâu cánh bồng.
Chia
phôi khác cả mối lòng
Người
như mây nổi, kẻ trông bóng tà,
Vẫy tay
thôi đã rời xa
Nhớ
nhau tiếng ngựa nghe mà buồn teo!
(Dịch giả Tản Đà)
Green mountains
Lie across the northern outskirts
Of the city.
White water
Winds around the eastern
City wall.
Once we make our parting
Here in this place,
Like a solitary tumbleweed
You will go
Ten thousand miles.
Floating clouds
Are the thoughts of the wanderer.
Setting sun
Is the mood of his old friend.
With a wave of the hand
Now you go from here.
Your horse gives a whinny
As it departs.
Yếu tố cân đối song hành
(parallelism), vốn hiếm thấy trong thi ca tây phương, làm cho
bài thơ rực sáng, chẳng hạn mỗi chữ trong câu 1 có một chữ đối
ứng hoàn mỹ trong câu 2:
Thanh (Green) // Bạch (White)
Sơn (Mountains) // Thủy (Water)
Hoành (Lie across) // Nhiễu (Winds around)
Bắc (Northern) // Đông (Eastern)
Quách (Outskirts) // Thành (City wall)
Những hình ảnh chất ngất cảm xúc
đối ứng nhau trong câu 5 và 6 (Phù vân // Lạc nhật) chính là
trái tim của bài thơ, và hai câu chót dẫn người đọc chơi vơi đến
phút chia tay.
Giáo sư Stephen Owen trong cuốn
sách AN ANTHOLOGY OF CHINESE LITERATURE: BEGINNING TO 1911 (do
chính ông hiệu đính và dịch thuật, Norton xuất bản năm 1996) đã
nhận định Lý Bạch như “một nghệ sĩ với những cử chỉ và khoa
trương lớn hơn cả đời sống” (a performer whose gestures and
claims were larger than life). Những nền văn minh lớn thường
được xây dựng trên sự tiết chế của người dân, và do đó, như thể
để được đền bù, họ dễ bị thu hút bởi những bậc tài danh đứng
ngoài vòng kiềm tỏa của quy ước xã hội. Theo Owen, cái cử chỉ
“đứng ngoài vòng” rất ngông ấy của họ Lý, phản ánh trong thơ
như một chân dung tự họa, đã khiến thơ Lý Bạch càng thêm hấp
dẫn. Điển hình là bài “Nguyệt Hạ Độc Chước” (“Drinking Alone by
Moonlight”) mà Owen chuyển ngữ dưới đây:
Hoa gian nhất hồ tửu,
Độc chước vô tương thân.
Cử bôi yêu minh nguyệt,
Đối ảnh thành tam nhân.
Nguyệt ký bất giải ẩm,
Ảnh đồ tùy ngã thân.
Tạm bạn nguyệt tương ảnh,
Hành lạc tu cập xuân.
Ngã ca nguyệt bồi hồi,
Ngã vũ ảnh linh loạn.
Tinh thời đồng giao hoan,
Túy hậu các phân tán.
Vĩnh
kết vô tình du,
Tương
kỳ mạc Vân Hán.
Trong hoa rượu ngọt một bầu,
Một mình chuốc chén có đâu bạn bè.
Mời trăng cất chén kè nhè,
Thân ta, bóng ấy, trăng kia, ba người.
Trăng thì tiếp rượu không nguôi,
Bóng ta theo mãi không rời thân ta.
Bạn cùng trăng bóng vẩn vơ,
Vui chơi khuây khỏa để chờ ngày xuân.
Ta ca
trăng cũng băn khoăn,
Khi ta
nhảy múa, bóng lăn lộn hoài.
Cùng
nhau khi tỉnh vui cười,
Say rồi
nghiêng ngửa, mọi nơi rạc rời.
Vô tình
giao kết chơi bời,
Hẹn
nhau ở chỗ xa khơi cõi trời.
(Dịch
giả Trần Trọng Kim)
Here among flowers one flask of wine,
with no close friends, I pour it alone.
I lift cup to bright moon, beg its company,
then facing my shadow, we became three.
The moon has never known how to drink;
my shadow does nothing but follow me.
But with moon and shadow as companions the
while,
this joy I find must catch spring while it's
here.
I sing, and the moon just lingers on;
I dance, and my shadow flails wildly.
When still sober we share friendship and
pleasure,
then, utterly drunk, each goes his own way -
Let us join to roam beyond human cares
and plan to meet far in the river of stars.
Và rồi sau cùng, cả đến cái chết ôm
trăng của Lý Trích Tiên, tuy huyễn hoặc, nhưng cũng nên thơ làm
sao trong tâm tư người phương tây ! Quả vậy, theo lời giáo sư
James Hargett, một Lý Bạch lịch sử và một Lý Bạch huyền sử sẽ
muôn đời là một, và điều này chỉ làm gia tăng mức hấp dẫn cho vị
thi thánh ấy mà thôi.
Trở về Trang Chính
|