THƠ VĂN TRONG CA DAO


 

Đàm Văn Tiếu

25 tháng 10 năm 2007

LTS: Trân trọng cám ơn nhà văn Đàm Văn Tiếu đã có nhã ý muốn chia sẻ cùng độc giả khoahoc.net bài viết về "THƠ VĂN TRONG CA DAO". Đây là đề tài đã được tác giả trình bày trong Đêm Thơ Nhạc tại Munich vào ngày 20.10.2007 vừa qua.

* * *

 

Từ tấm bé hay ở mẫu giáo, chúng ta đã nhập tâm bằng những lời ru, chơi hát đồng dao, hay bài học thuộc lòng, được kết tụ bởi những lời thơ, nên nói đến thi ca, thì tất cả người Việt chúng ta luôn mang một tâm hồn Thi sĩ,  thơ phú đến với chúng ta như là lẽ sống ý vị, cái ý vị có thể tự phát để sáng tạo, hay là tìm đến những nguồn thơ trong kho tàng vô tận của dân gian mà hưng phấn, cái hưng phấn trong thơ phú mà chính Khổng Tử đã nói: “Hưng Ư Thi“.

Trong cuộc sống thường ngày nếu không có thi ca, thật đôi lúc chúng ta khó diễn đạt được tư tưởng bằng ngôn ngữ thông thường cho có ý vị, cho nên từ ngàn xưa Thi ca được coi trọng, mà chính Khổng-Tử lúc dậy con là Bá-Ngư cũng nói: Bất học thi, vô dĩ ngôn  tức là  Không học thi, không có lời để nói.

 

Thưa Quý-vị, thể theo lời đề nghị của ban tổ chức, hôm nay tôi được phép mạn đàm cùng Quý-vị, nhưng chắc là tôi chỉ miễn cưỡng nói cương, vì về thơ phú xem ra tôi chẳng có mấy năng khiếu. Bởi Thi Ca phải xuất phát từ cảm hứng, mà cái cảm hứng và mơ mộng trong tôi thường là hiếm, hiếm cái thú thưởng gió-trăng mây-ngàn để có thể trở thành thi sĩ, vì:

Là thi sĩ nghĩa là biết ru với gió

Mơ với trăng và du hồn cùng mây

Thơ nó không thể chỉ là lời đến với người,  thơ là sản phẩm do trí tưởng tượng của con người làm nên, làm nên từ một thế giới ảo tưởng. Cái ảo tưởng tạo thành sáng tạo để sinh ra sản phẩm của giấc mơ.

Bởi vốn hiếm cái cảm hứng trong hưng phấn, nên tôi chỉ xin mạn đàm đôi chút cùng Qúy-vị về :

THI CA TRONG CA DAO

Ca Dao trong dân gian chưa ai có thể khẳng định được nó phát xuất từ bao giờ, chỉ biết là sưu tập đầu tiên về văn học dân gian là cuốn  Kinh Thicủa Trung Hoa,  soạn cách đây 3000 năm.

 

Riêng tại Việt Nam, những sưu tập về tục ngữ ca dao cũng chỉ bắt đầu được biên soạn từ 200 năm nay. Cuốn đầu tiên là Quốc phong giải trào Nam Phong ngữ ngạn thi của Trần Danh Án được biết đến nhiều nhất, sách được Ông soạn bằng chữ Nôm rồi dịch ra Hán văn, có ý đem ca dao Việt Nam sánh với Kinh Thi của Trung Hoa.

Mãi đến đầu thế kỷ XX chúng ta mới có những sưu tập về ca dao tục ngữ Việt Nam bằng chữ Quốc Ngữ như:

Nam Ngạn Trích Cẩm  của Phạm Quang Sán

Gương Phong Tục     của Đoàn Duy Bình

Tổ Quốc Túy Ngôn    của Ng.H.Tiến/Trọng Thuật

Ngạn Ngữ Phong Giao của Nguyễn Can Mộng

Và Tục Ngữ Phong Giao của Nguyễn Văn Ngọc v.v

CA DAO là một thể văn vần, nó xuất phát từ Ngạn-Ngữ đến phong-dao thì thành điệu thành chương, có thể ngâm nga được, rồi các thể văn lục bát hay song thất cũng đã từ đó mà ra.

 

Thi văn trong ca dao là muôn mầu trong kho tàng vô tận, hôm nay tôi chỉ xin được mạn đàm về một khía cạnh nhỏ trong lãnh vực :

 

CA DAO VỀ TÌNH YÊU

Trai gái ngày nay, khi tỏ tình người ta nói thẳng dù trực tiếp hay qua thư tín, nhưng thưở xưa nó lãng mạng, bằng cách mượn cảnh, mượn tình, mà lung khởi bóng gió để tỏ tình, dù ở những nơi hội hè, nơi vắng vẻ hay tình cờ đối diện:

 

Có khi mượn cớ đường xa :

Đường xa thì thật là xa

Mượn mình làm mối cho ta một người

Một người mười chín đôi mươi

            Một người vừa đẹp vừa tươi như mình

 

Mượn ngay cảnh tang chế của người con gái:

Cô kia khăn trắng tang ai

Nhất tang cha mẹ thứ hai tang chồng

Tang chồng thì vứt khăn đi

Tang cha tang mẹ, ta thì tang chung

 

Hay mượn cảnh mây trời:

Trên trời có đám mây xanh

           Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng

Ước gì anh lấy được nàng

Để anh mua gạch bát tràng về xây

Xây dọc rồi lại xây ngang

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân

*

*           *

Mượn Thi Ca để đến với nhau trong tình yêu nó vốn là lãng mạng ngọt ngào, nhưng đôi khi cũng gặp phải người con gái kênh kiệu cất mình lên như là:

Thân em như tấm lụa đào,

Còn anh chiếu rách bỏ rơi trệ đường

 

Khiến người con trai phải quyết liệt:

Lậy trời cho gió thổi lên

Cho manh chiếu rách phủ lên tấm lụa đào

 

Và nhắc nhở người con gái :

Thà là chiếu lác có đôi

Chẳng hơn chăn gấm lẻ loi một mình

 

Ngay cả khi gặp trắc trở, người ta cũng mượn cảnh mà lung khởi cho lời  than vãn của mình:

Đôi ta như lúa đòng đòng,

Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha

Đôi ta như chỉ xe ba

Thầy mẹ xe ít đôi ta xe nhiều

 

Hay cay đắng khi bị phụ tình:

Công anh đắp đập be bờ

Để thằng phải gió đem lờ đến đơm

 

Hay lời gói gém trong phận nghèo :

Họ giầu họ nghinh hôn giá thú

Hai đứa mình nghèo, dụ dỗ nhau đi

*

*           *

Người con gái có thể vì kén chọn mà lỡ thì :

Cón duyên kẻ đón người đưa

Hết duyên đi sớm về trưa một mình

 

Hay vì nghèo khó, nên đôi khi phải nhắm mắt đưa chân LẤY CHỒNG GIÀ để gởi tấm thân nơi sang giầu, dù lòng có cay đắng:

Còn duyên kén cá chọn canh

Hết duyên ếch đực cua kềnh cũng vơ

Còn duyên kén những trai tơ

Hết duyên, ông lão cũng vơ làm chồng.

Hay:

Vô duyên vô phúc múc phải anh chồng già

Ra đường người hỏi rằng cha hay chồng ?

Nói ra đau đớn trong lòng

Ấy là của nợ chứ có phải chồng em đâu

 

Việc chăn gối với người vợ bé bỏng cũng phức tạp, do sự phát triển cơ thể chưa chín mùi. Song cũng chỉ còn là chuyện chờ năm chờ tháng :

Lấy chồng từ thưở mười lăm

Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi

Đến năm mười tám đôi mươi

Tôi nằm dưới đất, chồng lôi lên giường

Một rằng thương hai rằng thương

Có bốn chân giường gẫy một còn ba

 

Cảnh chồng già vợ trẻ, cảnh già chơi trống bỏi xem ra ngày nay các bô lão không cần phải giầu có, chỉ cần cái nhãn Việt kiều, cũng dễ cưới vợ trẻ, như các Phú Hộ thưở  xưa:

 

Áo dài chẳng nệ quần thưa

Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm

 

Nếu các bô lão không may gặp phải lọai:

Gái đâu có gái lạ đời,

Chỉ còn thiếu một ông trời không chim

 

Hay loại từng

Chơi cho thủng trống long bồng

Rồi ra ta sẽ lấy chồng lập nghiêm

Chơi cho thủng trơng long chiêng

Rồt ra ta sẽ lập nghiêm lấy chồng

 

Hoặc là:

Trăm năm, trăm tuổi trăm chồng

Hễ ai có bạc thì bồng trên tay

Trăm năm trăm tuổi trăm chồng

Phải duyên thì lấy, chẳng ông tơ hồng nào xe

 

Để rồi ngay cả lúc chăn gối các nàng vẫn cứ:

Đêm nằm vuốt bụng thở dài

Thương chồng thì ít thương trai thì nhiều

 

Nhưng nếu có bị như thế, thì quả là các bô lão Việt kiều vẫn cứ là dại vì ham trống bỏi, dại vì:

 

Thân anh lỡ dại hai lần

Nhỏ mân vú mẹ, lớn mần vú em

            Bây giờ anh đã già ên

Lại mê vú nhí, hóa ra ba lần

 *

*           *

Nếu các Lão Ông biết hưởng cái thú lấy vợ nhí, thì dĩ nhiên thiếu gì các Lão Bà cũng muốn cái thú hưởng thụ bên người chồng trẻ,

Dù ai có châm có biếm :

Trai tơ ới hỡi trai tơ

Đi đâu mà vội mà vơ nạ dòng ?

 

Vì quả vẫn có những cái tuyệt vời như:

Trai tơ vớ phải nạ dòng

Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu

Hay:

Nạ dòng vớ được trai tơ

Đêm nằm hí hửng như vơ được vàng

Dĩ nhiên là người chồng nhí cần phải tự an ủi:

Mạ úa cấy lúa chóng xanh

Nạ dòng chóng đẻ sao ta hũng hờ

Vì:

Có phúc lấy được vợ già

Sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh

 

Còn hơn là:

Vô phúc lấy phải trẻ ranh

Nó ăn nó phá tan tành nó đi

 

Khi xưa tôi dự một đám cưới, cái đôi tân hôn trông thật ngộ nghĩnh, Chú rể 16 tuổi lại nhỏ con. Cô dâu 21 tuổi rất to con, lúc đó lại đang có thai nên tướng tá càng thêm đẫy đà, nên họ bị dị nghị như  là con ong đực sánh đôi với trái bầu.

Chính tôi cũng cho đó là đôi tân hôn độc nhất vô nhị, nhưng xem ra thì ngay trong ca dao cũng đã có câu:

            Em chớ thấy anh bé mà sầu

Kìa con ong bao nhiêu tuổi

Nó châm bầu, bầu thui !

 

Hay là:  Em ơi đừng thấy nhỏ mà khinh

            Con thằn lằn bây lớn ôm cây cột đình tổ cha!

*

*          *

Trong cuộc sống gia đình, sao tránh khỏi lúc bất hòa, nên Thi Ca cũng chuyên chở cả những lời răn:

Chồng giận thì vợ bớt lời

Cơm sôi nhỏ lửa một đời chẳng khê

Chồng giận thì vợ làm lành

Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì ?

 

Hay.    Cái cò là cái cò quăm

Mày hay đánh vợ tối nằm với ai

Có đánh thì đánh sớm mai

Chớ đánh chập tối chẳng ai cho nằm

 

THI CA ảnh hưởng đến cuộc sống trong muôn hình vạn trạng, nó còn đưa ta vào cả một kho tàng hài hước bóng-gió tục-thanh thanh-tục lẫn lộn như :

 

Đố tục giảng thanh về cái Điếu thuốc lào:

Lưng tròn đít lại bảnh bao

Mân mân mó mó đút ngay vào

Thủy hỏa tương giao sôi sình sịch

Âm dương nhị khí sướng làm sao

 

Đố tục giảng thanh về cái áo tơi

Lồm xồm hai mép những lông

Ở giữa có lỗ đàn ông chui vào

Chui vào rồi lại chui ra

Năm thì mười họa đàn bà mới chui

 

Đố tục giảng thanh về đôi Nhũ Hoa :

Cái gì vừa quả vừa hoa,

Con nít cũng thích ông già cũng mê

Ra đường dù thấy tràn trề

            Ngắm nhìn thì được, mân mê thì đừng

 

Đố tục giảng thanh về cái chiếu

Xưa kia em trắng như ngà

Bởi chưng ngủ lắm em đà thâm đen

Lúc bẩn chàng đánh chàng đâm

Đến khi rửa sạch chàng nằm lên trên

 

Đố tục giảng thanh về cái cối say

Bốn chân chong chóng, hai bụng kề nhau
Cắm giữa phao câu, nghiến đi nghiến lại.

 

Đố tục giảng thanh về  bánh dày

Bì bà, bí bạch chân cò
Bí ba bí bách, nằm co giữa giường
Đoạn rồi sờ vú sờ sườn
Sờ sao cho nó đỡ buồn mà thôị

 

Đố tục giảng thanh về cảnh Mẹ cho con bú:

Một người nằm một người ngồi

Đút vào sướng lắm em ơi

Rút ra đánh choét, miệng cười toét toe

 

Dĩ nhiên trong lãnh vực Thi Ca còn là vô kể, vì thời giờ có hạn, xin dành thì giờ cho các Vị khác tiếp tục trao đổi, nhân buổi gặp gỡ rồng-mây hiếm hoi về thơ nhạc như hôm nay.

Thật là :

Mấy khi rồng gặp mây đây

Để rồng trao đổi với mây đôi lời

Nỡ mai rồng ngược mây suôi

Biết bao giờ lại nối lời rồng mây

 

Cảm ơn Quý vị,

xin hẹn vào dịp khác !

 
 

Trở về Trang Chính