Tiếng Đàn Kiều Qua Tài Thẩm-Âm

Của Nguyễn-Du

Trích tác-phẩm

“Bút-Thuật Của Nguyễn-Du

Trong Đoạn-Trường Tân-Thanh”

Tác-giả: Đỗ Quang-Vinh

 


07 tháng 09 năm 2006

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

Trên sân khấu Đoạn-Trường Tân-Thanh, Thuý- Kiều nổi bật vai-trò một trang giai-nhân kiều-diễm, với nhan-sắc tuyệt-trần, với tài đàn quán-thế. Tiếng đàn ấy vận vào thân phận, theo bước chân người con gái khấp-khểnh trên những chông gai nhọn hoắt của cuộc đời, vọng lên ai-oán ai đem vào những cơn đau vật-vã: kia là Hoạn-Thư, người vợ cả ghen tuông hiểm-độc, nọ là Hồ Tôn-Hiến, tên quan vô-lại tiểu-nhân. Tiếng đàn ấy gói trọn một thiên tình-sử giữa hai kẻ tri-âm “đồng thanh tưong-ứng, đồng khí tương-cầu”: Thuý-Kiều và Kim-Trọng.   

 

I- TIẾNG ĐÀN MỞ MÀN SÂN KHẤU:

 

1.1- Trước hết tả tiếng đàn, người ta phải nhận rằng sự phân-tích cûa Nguyễn-Du cực-kỳ tinh-tế, phân-tích từ điệu đàn thanh-âm, tiết nhịp đến tứ đàn. 

 

· V nhc-điu, thì khi tưng-bừng, mạnh-mẽ, lúc nhẹ-nhàng lưu-loát. Tả điệu đàn hùng-mạnh, tác-giả bắt ta liên-tưởng tới tiếng gươm giáo xô-xát trong những trận kịch-chiến trên chiến-trường Hán Sở.

"Khúc đâu Hán Sở chiến-trường,  

                   Nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau"

Tả điệu đàn lưu-loát nhẹ êm, tác-giả bắt ta nghĩ đến hình-ảnh mây bay nước cuốn:

                 "Kê-Khang này khúc Quảng-Lăng

                   Một rằng lưu thuỷ hai rằng hành-vân”

 

·       Về âm-thanh, khi thì trong như tiếng hạc lanh-lảnh vút qua. Tiếng hạc bay cao vừa trong-trẻo vừa âm vang mà sánh với tiếng đàn, thì tứ đàn thêm sáng-sủa mĩ-lệ, đúng như lời xưa vẫn tả: “cầm tứ tiêu nhiên”. Âm-thanh lúc đục thì cuồn-cuộn rào sôi như tiếng suối đổ sa lưng-chừng. Tiếng suối ào ào từ trên cao gieo mạnh xuống thấp khi chưa chạm đất, mới tới nửa vời thì réo sôi; đem âm-thanh ấy mà ví với âm-thanh khúc đàn thì thực là gây một ấn-tượng tân-kỳ vừa gợi hình lại vừa tượng thanh:

“Trong như tiếng hạc bay qua,

Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.”

 

·  Nhịp đàn đổi biến: Khi khoan-thai thì thong-thả như gió chiều nhẹ thoảng, thực là cực tả được âm-hưởng ngân dài của những ngón nắn tiếng vuốt khi đàn gảy chậm. Lúc mau lẹ thì dồn-dập như mưa rào liên-tiếp, thực là tận-diễn được cung nhịp ồ-ạt của tiếng đàn ròn-rã cấp-bách khi đàn gảy mau:

“Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,

Tiếng mau sầm-sập như trời đổ mưa.”

 

· Tả tứ đàn não-nùng ai-oán, đàn nghe như gảy bản “Phượng Cầu Kỳ Hoàng” lâm-ly não-nuột của Tư-Mã Tương-Như xưa kia đã từng xiêu lòng Trác-Văn-Quân khiến nàng trèo tường trốn đi theo chàng. Tả tứ đàn mơ-hồ luyến-tiếc, đàn nghe như gảy khúc biệt-ly của nàng Vương-Tường khi qua biên-giới Hán-Hồ, đã gảy lên để gửi lòng tưởng nhớ Hán-vương. Dù lâm-ly sầu-thảm, dù thương-nhớ bâng-khuâng, tiếng đàn có sức hấp-dẫn âm vang gợi cảm lạ thường, hấp-dẫn như điệu sầu quyến-rũ giai-nhân, âm vang như cung thương nhớ nhà luyến chúa:

“Quá quan này khúc Chiêu-Quân,

Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư-gia.”

 

Phân-tách đã thấu-đáo, lối so-sánh kỳ-thú lại càng khiến cho sự phân-tách thêm tinh-vi, tài thẩm-âm ghi tiếng càng thêm tinh-nhuệ, chẳng khác tài ký-âm của một nhạc-sĩ.  

 

1.2- Sau cùng, để gây thêm réo-rắt cho nhịp điệu, tác-giả khéo-léo ghi nhận cả hiệu-lực ảnh-hưởng của cung đàn:

 

“Ngọn đèn khi tỏ, khi mờ,

Khiến người ngồi đó cũng ngơ-ngẩn sầu,

Khi tựa gối, khi cúi đầu,

Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.”

 

Hay đến nỗi người nghe phải mê hồn, không nén nổi được cảm-xúc trào tuôn, phải chau mày, cúi đầu, tựa gối, phải hồi-hộp bứt-rứt vì ruột rối vò tơ. Cái dáng bồn-chồn của chàng Kim thực đã lột hết được nỗi khắc-khoải trong tâm-tư, vẻ đau-đớn trên khuôn mặt, tả hết được cung điệu sầu thảm bi-ai, đề-cao được biệt-tài âm-nhạc của Kiều.

 

Hình như nhịp đàn khoan, mau, thong-thả, dồn-dập, ung-dung, tới-tấp, cũng làm cho ngọn đèn dầu khi tỏ, khi mờ, lờ-mờ ẩn hiện. Thực ra, đó chỉ là cái cảm-giác của chàng Kim lúc say nghe đắm-đuối tưởng chừng ngoại-cảnh cũng như lòng mình đương hồi-hộp nao-nao. Dù đó là cảm-giác của Kim, song lối diễn-tả ấy vẫn như muốn nói hiệu-lực trực-tiếp của cung đàn; vả lại, nghe đàn đến nỗi tưởng cảnh cũng như lòng mình, thì quả tiếng đàn đã mê-hoặc được lòng trí người nghe, người nghe nhận-xét sai lạc chỉ vì mê-mẩn tâm-thần. Như vậy cũng là một cách gián-tiếp miêu-tả tiếng đàn, tán-dương cái tài diệu-xảo của Kiều.

 

Tóm lại, vừa đục vừa trong, khi mau khi chậm, lúc tưng-bừng lúc lưu-loát, khi oán khi thương, đủ điệu đủ vẻ với mãnh-lực gợi cảm kỳ-diệu len-lỏi vào tâm-tư của người thưởng-thức, tiếng đàn du-dương réo-rắt ấy đã minh-chứng danh-tài nhạc-nghệ của Thuý-Kiều. Với tiếng đàn ấy, ngụ-ý tán-dương của chàng Kim ngay từ lúc mời Kiều gảy đàn, tưởng không phải là không xứng-đáng:

“Rằng nghe nổi tiếng cầm-đài,

Nước non luống những lắng tai Chung-Kỳ.”

                  

II- TIẾNG ĐÀN TRONG BI-KỊCH

 

Trên đường gian-truân lưu-lạc, mỗi khi tai-biến ập đến vật ngã tâm-hồn, tiếng đàn Kiều lại thổn-thức tiếng nói của chứng-nhân.

 

2.1- Khi bị Hoạn-Thư hạ nhục trước mặt Thúc-Sinh, người đầu tiên đã đem đến cho nàng tận-hưởng hạnh-phúc vợ chồng, “suốt một năm ròng”, “lạt tình tào-khang” với vợ cả mà “mặn tình cát--luỹ” với mình, tiếng đàn Kiều như nức-nở khóc than:

“Bốn dây như khóc như than,

Khiến người trên tiệc cũng tan-nát lòng.”

 

Tiếng đàn ấy khóc cho thân phận:

“Rõ-ràng thật lứa đôi ta,

Làm ra con ở, chúa nhà đôi nơi.”

 

Tiếng đàn ấy khóc than vì trong cái thế sa cơ “đất thấp trời cao”, Kiều biết “ăn làm sao, nói làm sao bây giờ”. Mà mình nhìn chồng thì:

“Càng trông mặt, càng ngẩn-ngơ,

Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.”

 

Tiếng đàn ấy khóc than bởi vì:

“Cùng trong một tiếng tơ đồng,

Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm.”

 

Tiếng đàn ấy khóc than cho cõi lòng “tê-mê choáng-váng” buộc phải nhìn tình-địch vui cười lả-lơi với người chồng chung mà mới trước đây vẫn cùng mình “chữ tình càng nặng, chữ duyên càng nồng”:

“Vợ chồng chén tác, chén thù,

Bắt nàng đứng chực trì, hồ hai nơi.”

 

Trò chơi quái ác ấy càng làm cho tình-địch thoả lòng vì “vui này đã bõ đau ngầm xưa nay”, thì cũng càng khiến Thúc-Sinh “như dại như ngây”, không phải chỉ “giọt dài giọt ngắn chén vơi chén đầy”, mà “còn gịọt châu lã-chã khôn cầm, cúi đầu chàng những gạt thầm giọt sương”. Trách nào mà tiếng đàn chẳng ai-oán xót-xa, ai-oán như vậy hèn chi “người trên tiệc” ngồi kia chẳng “ruột đầy gan héo”, làm gì mà “chẳng tan nát lòng”!

 

2.2- Đến khi gảy đàn cho Hồ Tôn-Hiến, thì cung đàn nghe sao đau buốt tái-tê, tiếng đàn dằn-vặt réo-rắt sôi niềm nghẹn-ngào uất-ức!  

·       Nghn-ngào vì Kim-Trng còn đó, Thúc-Sinh còn đây, nhưng Từ-Hải, người chồng ân-nhân tình nghĩa thì nay còn đâu? Mà ai đã khiến chàng hoá ra người thiên-cổ? Chàng ơi! Chính thiếp đã đang tâm giết chàng! Hãy nghe nàng nức-nở,

 

“Khóc rằng: ‘Trí dũng có thừa,

Bởi nghe lời thiếp nên cơ-hội này,

Mặt nào trông thấy nhau đây?

Thôi liều sống chết một ngày với nhau!’ ”

 

Nghẹn-ngào vì đối với người trước, nghĩa tình đã trả, nhưng đối với người bây giờ thì ân-nghĩa chưa xong. Thật vậy,

 

                   * Nợ tình đối với Kim-Trọng, người yêu đầu đời, nàng đã lo tròn chu-tất, đã cậy nhờ em gái thay mình chắp nối nhân-duyên, đã trao lại cho em những kỷ-vật của tình xuân để chàng làm tin khi trở về “Vườn Thuý”:

“Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ thay lời nước non,

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

Chiếc vành với bức tờ mây,

Duyên này thì giữ, vật này của chung.

Dù em nên vợ nên chồng,

Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên,

Mất người còn chút của tin,

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.”

 

    * Ân-tình đối với Thúc-Sinh, thì nàng cũng đã

“Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân,

Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là.”

 

              * Còn như đối với họ Từ “là đấng anh-hùng, dọc ngang trời rộng vẫy-vùng bể khơi”, là người nàng đã từng “trộm nhờ sấm sét ra tay” để cho “tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi”, nàng đã từng “tạ lạy ơn” chàng mà rằng:

“Khắc xương ghi dạ xiết chi,

Dễ đem gan óc đền nghì trời mây!”

 

Vậy mà bây giờ ân này chưa trả, nghĩa ấy chưa đền, “ai ngờ một phút tan-tành thịt xương!” chỉ vì chàng đã “tin tôi nên quá nghe lời, đem thân bách chiến làm tôi triều-đình”.

         

·       Uất-hận vì nhìn kia!

 

                   * Chồng nàng chết oan tức-tưởi. Vị “tướng-quân gan liền” chọc trời khuấy nước” chết đứng ngay giữa trần-tiền, đó chẳng phải là oan-ức hay sao?

 

“Khí thiêng khi đã về thần,

Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng,

Trơ như đá, vững như đồng,

Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời.”

 

Mãi đến khi  vợ chàng lại gần khóc than vật-vã “gieo đầu một bên”, bấy giờ chàng mới chịu ngã xuống, đó chẳng phải là tức-tưởi hay sao?

 

“Lạ thay oan-khí tương-triền,

Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra.”

 

* Uất-hận vì bị ép buộc phải cùng với quân vô-lại ăn mừng chiến-thắng chồng mình, phải mua vui cho lũ bất-nhân hả-hê trước cái chết của chồng mình,  thử hỏi lòng dạ nào đang tâm cho được?

 

“Trong quân mở tiệc hạ công,

Xôn-xao ti-trúc hội-đồng quân quan.”

Bắt nàng thị-yến dưới màn,

Gìở say lại ép cung đàn nhặt tâu.”

 

Đối với một trò chơi vô nhân-đạo tàn-nhẫn đến như vậy, làm sao nàng không uất-hận cho cam? Cho nên điệu đàn quằn-quại ghê rợn, như mưa sầu gió thảm phủ lấp đất trời. Âm-thanh nặng đục như máu đỏ ngầu trong giòng lệ. Nhịp đàn vùi dập như xô hồn chìm trong vực thẳm. Cả một cõi lòng tan-nát quyện quánh vào cung đàn như rít lên niềm uất-hận hờn-căm. Con tim se thắt cho ngón tay vắt máu  xe xoắn tơ đồng. Trước mặt Hoạn-Thư, lệ ướt đầm-đìa trên phím cho lòng ai phải nát tan. Bây giờ thì không phải lệ tuôn, mà lá máu trào đỏ thắm phím dây, tiếng đàn sầu thảm cho ai kia lòng lang dạ thú cũng phải nhăn mày ứa lệ:

 

“Một cung gió thảm mưa sầu,

Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay,

Ve ngâm vượn hót nào tày,

Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu.”

 

Không khóc được thành tiếng vì nghẹn-ngào, không nói được nên lời vì uất-hận, thì đã có tiếng đàn này khóc hộ nói thay. Chính lời thơ trác-tuyệt đẫm lệ ấy đã thẩm âm một cách tuyệt-vời tiếng đàn ướt đẫm máu tim này.

 

III- TIẾNG ĐÀN HẠ MÀN SÂN KHẤU 

 

Đây là lần thứ hai và cũng là lần chót, chàng Kim được thưởng-thức tài nghệ của người tình qua cung đàn Bạc-Mệnh. Một bản đàn, hai cung điệu, hai tâm-tình, hai thời-điểm. Thời-gian qua đi, tâm-tình chuyển-biến, điệu đàn đổi thay.

 

3.1- Cung đàn biến điệu

 

Cung đàn tuy biến điệu mà tài-năng vẫn không suy giảm, vẫn “nghề riêng ăn đứt hồ-cầm một trương”

 

Ngày xưa, trong buổi sơ-ngộ đối-diện tình-quân, điệu đàn mạnh-mẽ bất thường, âm-thanh lúc bổng thì lên cao, khi trầm thì đổ xuống thật sâu. Nhịp đàn vừa khoan-thai như gió thoảng đã vội dồn bước đi mau như trời mưa sầm-sập. Tiếng đàn lúc dồn-dập sát phạt như binh-khí chạm khua trên trận-địa, khi réo-rắt tỉ-tê như mây bay nước cuốn. Giọng đàn khi tưng-bừng hớn-hở, lúc ai-oán sầu-bi. Tứ đàn vui thì vui náo-nức, buồn thì buồn tái-tê.

 

Ngày nay, khi cùng chàng tái-ngộ, cung bậc trở nên dịu-dàng êm-ái, âm-thanh đổi sang du-dương nhẹ-nhàng. Tiếng đàn lúc trong-trẻo không còn sôi rào như tiếng suối dội sa nửa vời, nhưng trong ấm ngân vang; cũng không còn lanh-lảnh như tiếng hạc bay qua, nhưng trong-trẻo như ngọc châu ngời sáng dưới nước lồng trăng. Điệu đàn khi êm vui dịu-dàng như hơi ấm mùa xuân, bâng-khuâng mơ-màng dìu hồn người vào xa-xăm cõi mộng, lúc buồn thảm thì nhẹ-nhàng chơi-vơi như giọng quyên lơ-lửng giục người nghe ngẩn-ngơ luyến-tiếc:

 

“Khúc đâu đầm-ấm dương-hoà,

Ấy là hồ-điệp hay là Trang-Sinh?

Khúc đâu êm-ái xuân-tình,

Ấy hồn Thục-đế hay mình đỗ-quyên?

Trong sao châu rỏ duềnh quyên!

Ấm sao hạt ngọc Lam-Điền mới đông!”

 

Vui mà không loạn, đàn vui dìu-dịu êm êm. Buồn mà không đau xót, đàn thương êm-ái lâng-lâng. Nhưng điệu thương chưa dứt, đã tiếp chen điệu vui mơ-màng. Một đằng gay-gắt rền-rĩ khiến người nghe phải “cúi đầu, tựa gối”. Một đằng buồn vui êm dịu khiến người nghe chỉ thấy lòng nao-nao niềm nhớ, xao-xuyến niềm vui. Bởi vì:

 

3.2- Tâm-tình chuyển-biến

 

Trong buổi ban sơ, lòng Kiều là cả một mùa xuân đang chuyển hướng: vui thì vui hớn-hở như ngày xuân phơi-phới đang lên, nhưng buồn thì vẫn phảng-phất âu-lo như chiều xuân tàn-tạ cuối mùa. Tình xuân lai-láng ban đầu bao giờ chẳng là mạnh-mẽ lớn-lao? Vốn quen “êm-đềm trướng rủ màn che, tường đông ong bướm đi về mặc ai”, bỗng dưng gặp khách thư-sinh mà “tình trong như đã”, mới trộm liếc “nghé theo” mà đã “xăm-xăm băng lối vườn khuya một mình”. Sóng tình cuồn-cuộn dâng cao, làm sao nhạc lòng không hoan-ca náo-nức, cho nên đàn vui nhộn-nhịp tới-tấp rộn-ràng.

 

Thế nhưng Kiều lại sầu khổ đa mang, uỷ-mị đến yếu-đuối, khóc kẻ vô danh, xót người trong mộng, khư-khư ôm giữ bóng ma, lại thêm dị-đoan mê-tín. Tin ở mộng-triệu, tin lời đoán số, lúc nào cũng như liên-cảm cái số kiếp đoạn-trường khó bề thoát khỏi, lúc nào cũng đinh-ninh trong dạ “nghìn thu bạc-mệnh một đời tài-hoa” để rồi “trông người lại ngẫm đến ta, một dầy một mỏng biết là có nên?”. Lửa vui đang bốc thì mưa sầu đã đổ. Tuy lòng có hồi-hộp rộn-rã tưoi vui, song nỗi mừng chỉ như mưa rào mau ngớt, chứ còn tự nơi sâu thẳm, lòng vẫn rầu-rĩ buồn lo, cái buồn day-dứt như mưa dầm dai-dẳng. Hỷ-hoan tỏ hiện ra ngoài, đắng cay hãy còn ngậm nuốt bên trong, bởi vậy đàn buồn thì điệu sầu ai-oán.  

 

Trái lại, ngày nay, lòng Kiều như cả một chiều mưa mới dứt. Buồn vui lẫn-lộn. Vui vì đoạn-trường đã qua, buồn vì tình đà tan biến. Có đặt mình vào cảnh-ngộ Kiều mới thấy cõi lòng hoang-tàn nhưng trong sáng. Một tâm-hồn mệt-mỏi vừa mới bừng tỉnh sau cơn ác-mộng. Niềm sung-sướng rũ sạch bụi trần bắt gặp nỗi “thẹn” “hoa tàn, trăng khuyết”, cho nên cung nhịp không thể chơi-vơi rộn-ràng. Một tâm-hồn tươi-tắn chợt vọng-hoài quá-khứ. Buồn mà không thảm vì không giận tủi ghen tưông, nhưng chỉ vì nhớ tiếc tình đầu tươi thắm, quyến-luyến tuổi xuân yêu đời. Cho nên âm-tiết bản đàn không thể não-nề réo-rắt, mà trái lại lướt đi mơ-màng, nhẹ thoảng như hơi ấm trời xuân. Vui không lên cao, buồn không xuống thấp, vì lòng Kiều đã trở nên thư-thái an-hoà.

 

IV- NGHỆ-THUẬT GN LIỀN VI TÂM-HỒN

 

Chính sự chuyển biến của tâm-tình cùng với biến-thể của ngón đàn kỳ-diệu ấy đã minh-chứng  mối liên-hệ mật-thiết phải có giữa nghệ-thuật và tâm-hồn. Qua nhận-xét của chàng Kim, thì tuy vẫn một bản đàn năm cũ, song

“Chàng rằng: ‘Phổ ấy tay nào,

Xưa sao sầu thảm, nay sao vui-vầy?

 

Phải chăng vì lòng Kim-Trọng vui, nên nghe đàn vui như vậy? Phải chăng vì lòng Kiều đang bâng-khuâng sung-sướng, nên ngón đàn trở nên đổi khác ngày xưa?

“Tẻ vui bởi tại lòng này,

Hay là khổ tạn đến ngày cam lai?”

Kim-Trọng đã hỏi Kiều như thế. Một đằng có thể do Kim-Trọng đinh-ninh trong dạ, một đằng có thể do Thuý-Kiều “xôn-xao” trong tâm-tư. Nhưng cung điệu của ngón đàn, dù ảnh-hưởng bởi lòng Kim hay tình Kiều, lời phê-bình của chàng Kim cũng đã chứng-tỏ: tiếng đàn đổi thay theo tâm-hồn, nói lên những rung cảm chân-thành của người tấu, gợi được cảm-xúc lai-láng nơi người nghe. Lại như đã thấy, khi Kiều đàn cho vợ chồng Thúc-Sinh cũng như cho Hồ Tôn-Hiến, cung đàn biến điệu thật kỳ-ảo vô cùng.  

 

Bởi vậy, nếu nghệ-thuật chỉ đặc-sắc khi phản-ánh được tâm-hồn nghệ sĩ và lan truyền được cảm-xúc của mình làm cảm-hoá người sành điệu thưởng-thức, thì ở đây, qua tiếng đàn của Thuý-Kiều, Nguyễn-Du đã chứng-tỏ đó là chân nghệ-thuật vậy.

                                                        

 

 

KẾT-LUẬN:

 

Đến đây, chẳng nhng nhn chân được tài thẩm âm của Nguyễn-Du, mà còn còn thấy ở nơi tác-giả cách đạo-diễn tài-tình. Cùng với cung đàn sơ-ngộ năm xưa, giáo đầu bản trường-ca não-nuột, ta gặp đôi tri-kỷ Bá-Nha, Tử-Kỳ:

“Rằng: ‘Nghe nổi tiếng cầm-đài,

Nước non luống những lắng tai Chung-Kỳ’

Hôm nay, khi cung đàn tái-ngộ kết-thúc bi-kịch, bóng Tử-Kỳ, Bá-Nha lại xuất-hiện, diễn nốt vai trò dang-dở, hai kẻ tri-âm trở về trong niềm cảm-thông chua xót:

“Một phen tri-kỷ cùng nhau,

Cuốn dây từ đấy về sau cũng chừa.”

 

Nếu Tử-Kỳ nghe Bá-Nha gảy đàn mà thẫn-thờ, vui tươi lúc cung bậc vòi-vọi như non cao, khi nhạc đàn cuồn-cuộn như nước chảy, thì Kim-Trọng nghe Kiều đàn cũng “khi tựa gối, khi cúi đầu, khi vò chín khúc, khi chau đôi mày”.

 

Nếu Bá-Nha mất Tử-Kỳ, người bạn chí-thiết, mà đập đàn bẻ phím, thì ngày nay mất chàng Kim, người tình thiết-ái, Kiều cũng “cuốn dây từ đấy về sau cũng chừa”.

 

Lần sơ-ngộ thì chuyện người xưa được Kim-Trọng chỉ rõ (nước non), xưng danh (Chung-Kỳ). Lần này tái-ngộ, Kiều chỉ nhắc tới điển-ý xa vời (tri-kỷ, cũng chừa).

 

Cuộc đời thắm-thiết ngày trước của Tử-Kỳ, Bá-Nha cũng như của Kim-Trọng, Thuý-Kiều, ngày nay chỉ còn là vang bóng chập-chờn.

 

Mở bằng lời chàng Kim, kết bằng lời Thuý-Kiều; mở bằng tình giao-kết gắn bó đủ đôi, kết bằng nỗi đơn-côi lẻ bóng. Cung đàn đổi thay theo nhạc-cảnh vén mở hạ màn, quả đã bố-cục nhất-quán cho vở kịch Bạc-Mệnh, gói trọn thiên tình-sử bi-đát của đôi tài-tử giai-nhân.

 

* Đỗ Quang-Vinh: Cử-Nhân Luật-khoa, Cao-học Kinh-Tế Đại Học Saigon, Cử-Nhân Giáo-Dục tại Đại-Học Toronto Canada, tác-giả nhiều bài nghiên-cứu trên các báo Việt-Ngữ ở hải-ngoại. Tác-phẩm chính đã xuất-bản:

1) Tôn-giáo: Tin Yêu (thơ), Hành-Trang Lên Đường

2) Giáo-khoa và văn-học: Học Đọc Tiếng Việt; Ca-Dao Đố Vui Học Tiếng Việt; Lục Bát Đố Vui Học Tiếng Việt; Tiếng Việt Tuyệt-Vời; Về Nguồn (thơ); Bút-Thuật của Nguyễn-Du Trong Đoạn-Trường Tân-Thanh.  

e-mail: doquangvinhvenguon@yahoo.com

 

Trở về Trang Chính