|
Trên
sân khấu Đoạn-Trường Tân-Thanh, Thuý- Kiều nổi bật vai-trò một
trang giai-nhân kiều-diễm, với nhan-sắc tuyệt-trần, với tài đàn
quán-thế. Tiếng đàn ấy vận vào thân phận, theo bước chân người
con gái khấp-khểnh trên những chông gai nhọn hoắt của cuộc đời,
vọng lên ai-oán ai đem vào những cơn đau vật-vã: kia là
Hoạn-Thư, người vợ cả ghen tuông hiểm-độc, nọ là Hồ Tôn-Hiến,
tên quan vô-lại tiểu-nhân. Tiếng đàn ấy gói trọn một thiên
tình-sử giữa hai kẻ tri-âm “đồng thanh tưong-ứng, đồng khí
tương-cầu”: Thuý-Kiều và Kim-Trọng.
I- TIẾNG ĐÀN MỞ MÀN
SÂN KHẤU:
1.1- Trước hết tả tiếng
đàn,
người ta phải nhận
rằng sự phân-tích
cûa Nguyễn-Du cực-kỳ tinh-tế, phân-tích từ
điệu đàn thanh-âm, tiết nhịp đến tứ đàn.
·
Về
nhạc-điệu,
thì khi tưng-bừng, mạnh-mẽ, lúc nhẹ-nhàng
lưu-loát. Tả điệu đàn hùng-mạnh, tác-giả bắt ta liên-tưởng tới
tiếng gươm giáo xô-xát trong những trận kịch-chiến trên
chiến-trường Hán Sở.
"Khúc đâu Hán Sở chiến-trường,
Nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau"
Tả điệu
đàn lưu-loát nhẹ êm, tác-giả bắt ta nghĩ đến hình-ảnh mây bay
nước cuốn:
"Kê-Khang này khúc Quảng-Lăng
Một rằng lưu thuỷ hai rằng hành-vân”
·
Về
âm-thanh,
khi thì trong như tiếng hạc lanh-lảnh
vút qua. Tiếng hạc bay cao vừa trong-trẻo vừa âm vang mà sánh
với tiếng đàn, thì tứ đàn thêm sáng-sủa mĩ-lệ, đúng như lời xưa
vẫn tả: “cầm tứ tiêu nhiên”. Âm-thanh lúc đục thì cuồn-cuộn rào
sôi như tiếng suối đổ sa lưng-chừng. Tiếng suối ào ào từ trên
cao gieo mạnh xuống thấp khi chưa chạm đất, mới tới nửa vời thì
réo sôi; đem âm-thanh ấy mà ví với âm-thanh khúc đàn thì thực là
gây một ấn-tượng tân-kỳ vừa gợi hình lại vừa tượng thanh:
“Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục
như tiếng suối mới sa nửa vời.”
·
Nhịp
đàn đổi biến:
Khi
khoan-thai thì thong-thả như gió chiều nhẹ thoảng, thực là cực
tả được âm-hưởng ngân dài của những ngón nắn tiếng vuốt khi đàn
gảy chậm. Lúc mau lẹ thì dồn-dập như mưa rào liên-tiếp, thực là
tận-diễn được cung nhịp ồ-ạt của tiếng đàn ròn-rã cấp-bách khi
đàn gảy mau:
“Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm-sập như trời đổ mưa.”
·
Tả tứ
đàn
não-nùng ai-oán, đàn nghe như gảy bản “Phượng Cầu Kỳ Hoàng”
lâm-ly não-nuột của Tư-Mã Tương-Như xưa kia đã từng xiêu lòng
Trác-Văn-Quân khiến nàng trèo tường trốn đi theo chàng. Tả tứ
đàn mơ-hồ luyến-tiếc, đàn nghe như gảy khúc biệt-ly của nàng
Vương-Tường khi qua biên-giới Hán-Hồ, đã gảy lên để gửi lòng
tưởng nhớ Hán-vương. Dù lâm-ly sầu-thảm, dù thương-nhớ
bâng-khuâng, tiếng đàn có sức hấp-dẫn âm vang gợi cảm lạ thường,
hấp-dẫn như điệu sầu quyến-rũ giai-nhân, âm vang như cung thương
nhớ nhà luyến chúa:
“Quá
quan này khúc Chiêu-Quân,
Nửa
phần luyến chúa, nửa phần tư-gia.”
Phân-tách
đã thấu-đáo, lối so-sánh kỳ-thú lại càng
khiến cho sự phân-tách thêm tinh-vi, tài thẩm-âm ghi tiếng càng
thêm tinh-nhuệ, chẳng khác tài ký-âm của một nhạc-sĩ.
1.2-
Sau cùng, để
gây thêm réo-rắt cho nhịp điệu, tác-giả khéo-léo
ghi nhận cả hiệu-lực
ảnh-hưởng của cung đàn:
“Ngọn đèn khi tỏ, khi mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ-ngẩn sầu,
Khi
tựa gối, khi cúi đầu,
Khi
vò chín khúc, khi chau đôi mày.”
Hay đến
nỗi người nghe phải mê hồn, không nén nổi được cảm-xúc trào
tuôn, phải chau mày, cúi đầu, tựa gối, phải hồi-hộp bứt-rứt vì
ruột rối vò tơ. Cái dáng bồn-chồn của chàng Kim thực đã lột hết
được nỗi khắc-khoải trong tâm-tư, vẻ đau-đớn trên khuôn mặt, tả
hết được cung điệu sầu thảm bi-ai, đề-cao được biệt-tài âm-nhạc
của Kiều.
Hình
như nhịp đàn khoan, mau, thong-thả, dồn-dập, ung-dung, tới-tấp,
cũng làm cho ngọn đèn dầu khi tỏ, khi mờ, lờ-mờ ẩn hiện. Thực
ra, đó chỉ là cái cảm-giác của chàng Kim lúc say nghe đắm-đuối
tưởng chừng ngoại-cảnh cũng như lòng mình đương hồi-hộp nao-nao.
Dù đó là cảm-giác của Kim, song lối diễn-tả ấy vẫn như muốn nói
hiệu-lực trực-tiếp của cung đàn; vả lại, nghe đàn đến nỗi tưởng
cảnh cũng như lòng mình, thì quả tiếng đàn đã mê-hoặc được lòng
trí người nghe, người nghe nhận-xét sai lạc chỉ vì mê-mẩn
tâm-thần. Như vậy cũng là một cách gián-tiếp miêu-tả tiếng đàn,
tán-dương cái tài diệu-xảo của Kiều.
Tóm
lại, vừa đục vừa trong, khi mau khi chậm, lúc tưng-bừng lúc
lưu-loát, khi oán khi thương, đủ điệu đủ vẻ với mãnh-lực gợi cảm
kỳ-diệu len-lỏi vào tâm-tư của người thưởng-thức, tiếng đàn
du-dương réo-rắt ấy đã minh-chứng danh-tài nhạc-nghệ của
Thuý-Kiều. Với tiếng đàn ấy, ngụ-ý tán-dương của chàng Kim ngay
từ lúc mời Kiều gảy đàn, tưởng không phải là không xứng-đáng:
“Rằng nghe nổi tiếng cầm-đài,
Nước
non luống những lắng tai Chung-Kỳ.”
II- TIẾNG ĐÀN TRONG
BI-KỊCH
Trên
đường gian-truân lưu-lạc, mỗi khi tai-biến ập đến vật ngã
tâm-hồn, tiếng đàn Kiều lại thổn-thức tiếng nói của chứng-nhân.
2.1-
Khi bị Hoạn-Thư hạ nhục
trước mặt
Thúc-Sinh, người đầu tiên đã đem đến cho nàng tận-hưởng
hạnh-phúc vợ chồng, “suốt một năm ròng”, “lạt tình
tào-khang” với vợ cả mà “mặn tình cát--luỹ” với mình,
tiếng đàn Kiều như nức-nở khóc than:
“Bốn
dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan-nát lòng.”
Tiếng
đàn ấy khóc cho thân phận:
“Rõ-ràng thật lứa đôi ta,
Làm
ra con ở, chúa nhà đôi nơi.”
Tiếng
đàn ấy khóc than vì trong cái thế sa cơ “đất thấp trời cao”,
Kiều biết “ăn làm sao, nói làm sao bây giờ”. Mà mình nhìn
chồng thì:
“Càng trông mặt, càng ngẩn-ngơ,
Ruột
tằm đòi đoạn như tơ rối bời.”
Tiếng
đàn ấy khóc than bởi vì:
“Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm.”
Tiếng
đàn ấy khóc than cho cõi lòng “tê-mê choáng-váng” buộc
phải nhìn tình-địch vui cười lả-lơi với người chồng chung mà mới
trước đây vẫn cùng mình “chữ tình càng nặng, chữ duyên càng
nồng”:
“Vợ
chồng chén tác, chén thù,
Bắt
nàng đứng chực trì, hồ hai nơi.”
Trò
chơi quái ác ấy càng làm cho tình-địch thoả lòng vì “vui này
đã bõ đau ngầm xưa nay”, thì cũng càng khiến Thúc-Sinh
“như dại như ngây”, không phải chỉ “giọt dài giọt ngắn
chén vơi chén đầy”, mà “còn gịọt châu lã-chã khôn cầm,
cúi đầu chàng những gạt thầm giọt sương”. Trách nào mà tiếng
đàn chẳng ai-oán xót-xa,
ai-oán như vậy hèn chi “người trên tiệc” ngồi kia
chẳng “ruột đầy gan héo”, làm gì mà “chẳng tan nát
lòng”!
2.2-
Đến khi gảy đàn cho Hồ Tôn-Hiến,
thì cung đàn
nghe sao đau buốt tái-tê, tiếng đàn dằn-vặt réo-rắt sôi niềm
nghẹn-ngào uất-ức!
·
Nghẹn-ngào
vì Kim-Trọng
còn
đó, Thúc-Sinh còn đây, nhưng Từ-Hải, người
chồng ân-nhân tình nghĩa thì nay còn đâu? Mà ai đã khiến chàng
hoá ra người thiên-cổ? Chàng ơi! Chính thiếp đã đang tâm giết
chàng! Hãy nghe nàng nức-nở,
“Khóc rằng: ‘Trí dũng có thừa,
Bởi
nghe lời thiếp nên cơ-hội này,
Mặt
nào trông thấy nhau đây?
Thôi
liều sống chết một ngày với nhau!’ ”
Nghẹn-ngào vì đối với người trước, nghĩa tình đã trả, nhưng đối
với người bây giờ thì ân-nghĩa chưa xong. Thật vậy,
*
Nợ tình
đối với Kim-Trọng,
người yêu
đầu đời, nàng đã lo tròn chu-tất, đã cậy nhờ em gái thay mình
chắp nối nhân-duyên, đã trao lại cho em những kỷ-vật của tình
xuân để chàng làm tin khi trở về “Vườn Thuý”:
“Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót
tình máu mủ thay lời nước non,
Chị
dù thịt nát xương mòn,
Ngậm
cười chín suối hãy còn thơm lây.
Chiếc vành với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù
em nên vợ nên chồng,
Xót
người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên,
Mất
người còn chút của tin,
Phím
đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.”
* Ân-tình đối với Thúc-Sinh,
thì nàng cũng đã
“Gấm
trăm cuốn, bạc nghìn cân,
Tạ
lòng dễ xứng báo ân gọi là.”
* Còn như đối với
họ Từ “là đấng
anh-hùng, dọc ngang trời rộng vẫy-vùng bể khơi”, là người
nàng đã từng “trộm nhờ sấm sét ra tay” để cho “tấc
riêng như cất gánh đầy đổ đi”, nàng đã từng “tạ lạy ơn”
chàng mà rằng:
“Khắc xương ghi dạ xiết chi,
Dễ
đem gan óc đền nghì trời mây!”
Vậy mà
bây giờ ân này chưa trả, nghĩa ấy chưa đền, “ai ngờ một phút
tan-tành thịt xương!” chỉ vì chàng đã “tin tôi nên quá
nghe lời, đem thân bách chiến làm tôi triều-đình”.
·
Uất-hận
vì nhìn kia!
*
Chồng nàng
chết oan tức-tưởi.
Vị “tướng-quân gan liền” chọc trời khuấy nước” chết đứng
ngay giữa trần-tiền, đó chẳng phải là
oan-ức hay sao?
“Khí
thiêng khi đã về thần,
Nhơn
nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng,
Trơ
như đá, vững như đồng,
Ai
lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời.”
Mãi đến
khi vợ chàng lại gần khóc than vật-vã “gieo đầu một bên”,
bấy giờ chàng mới chịu ngã xuống, đó chẳng phải là
tức-tưởi
hay sao?
“Lạ
thay oan-khí tương-triền,
Nàng
vừa phục xuống, Từ liền ngã ra.”
*
Uất-hận
vì bị ép buộc phải cùng
với quân vô-lại ăn mừng chiến-thắng chồng mình, phải mua vui cho
lũ bất-nhân hả-hê trước cái chết của chồng mình,
thử hỏi lòng dạ nào đang tâm cho được?
“Trong quân mở tiệc hạ công,
Xôn-xao ti-trúc hội-đồng quân quan.”
Bắt
nàng thị-yến dưới màn,
Gìở
say lại ép cung đàn nhặt tâu.”
Đối với
một trò chơi vô nhân-đạo tàn-nhẫn đến như vậy, làm sao nàng
không uất-hận cho cam? Cho nên điệu đàn quằn-quại ghê rợn, như
mưa sầu gió thảm phủ lấp đất trời. Âm-thanh nặng đục như máu đỏ
ngầu trong giòng lệ. Nhịp đàn vùi dập như xô hồn chìm trong vực
thẳm. Cả một cõi lòng tan-nát quyện quánh vào cung đàn như rít
lên niềm uất-hận hờn-căm. Con tim se thắt cho ngón tay vắt máu
xe xoắn tơ đồng. Trước mặt Hoạn-Thư, lệ ướt đầm-đìa trên phím
cho lòng ai phải nát tan. Bây giờ thì không phải lệ tuôn, mà lá
máu trào đỏ thắm phím dây, tiếng đàn sầu thảm cho ai kia lòng
lang dạ thú cũng phải nhăn mày ứa lệ:
“Một
cung gió thảm mưa sầu,
Bốn
dây rỏ máu năm đầu ngón tay,
Ve
ngâm vượn hót nào tày,
Lọt
tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu.”
Không
khóc được thành tiếng vì nghẹn-ngào, không nói được nên lời vì
uất-hận, thì đã có tiếng đàn này khóc hộ nói thay. Chính lời thơ
trác-tuyệt đẫm lệ ấy đã thẩm âm một cách tuyệt-vời tiếng đàn ướt
đẫm máu tim này.
III- TIẾNG ĐÀN HẠ MÀN SÂN KHẤU
Đây là
lần thứ hai và cũng là lần chót, chàng Kim được thưởng-thức tài
nghệ của người tình qua cung đàn Bạc-Mệnh. Một bản đàn, hai cung
điệu, hai tâm-tình, hai thời-điểm. Thời-gian qua đi, tâm-tình
chuyển-biến, điệu đàn đổi thay.
3.1- Cung đàn biến
điệu
Cung
đàn tuy biến điệu mà tài-năng vẫn không suy giảm, vẫn “nghề
riêng ăn đứt hồ-cầm một trương”
Ngày
xưa, trong buổi sơ-ngộ đối-diện tình-quân, điệu đàn mạnh-mẽ bất
thường, âm-thanh lúc bổng thì lên cao, khi trầm thì đổ xuống
thật sâu. Nhịp đàn vừa khoan-thai như gió thoảng đã vội dồn bước
đi mau như trời mưa sầm-sập. Tiếng đàn lúc dồn-dập sát phạt như
binh-khí chạm khua trên trận-địa, khi réo-rắt tỉ-tê như mây bay
nước cuốn. Giọng đàn khi tưng-bừng hớn-hở, lúc ai-oán sầu-bi. Tứ
đàn vui thì vui náo-nức, buồn thì buồn tái-tê.
Ngày
nay, khi cùng chàng tái-ngộ, cung bậc trở nên dịu-dàng êm-ái,
âm-thanh đổi sang du-dương nhẹ-nhàng. Tiếng đàn lúc trong-trẻo
không còn sôi rào như tiếng suối dội sa nửa vời, nhưng trong ấm
ngân vang; cũng không còn lanh-lảnh như tiếng hạc bay qua, nhưng
trong-trẻo như ngọc châu ngời sáng dưới nước lồng trăng. Điệu
đàn khi êm vui dịu-dàng như hơi ấm mùa xuân, bâng-khuâng mơ-màng
dìu hồn người vào xa-xăm cõi mộng, lúc buồn thảm thì nhẹ-nhàng
chơi-vơi như giọng quyên lơ-lửng giục người nghe ngẩn-ngơ
luyến-tiếc:
“Khúc đâu đầm-ấm dương-hoà,
Ấy là
hồ-điệp hay là Trang-Sinh?
Khúc
đâu êm-ái xuân-tình,
Ấy hồn
Thục-đế hay mình đỗ-quyên?
Trong sao châu rỏ duềnh quyên!
Ấm
sao hạt ngọc Lam-Điền mới đông!”
Vui mà
không loạn, đàn vui dìu-dịu êm êm. Buồn mà không đau xót, đàn
thương êm-ái lâng-lâng. Nhưng điệu thương chưa dứt, đã tiếp chen
điệu vui mơ-màng. Một đằng gay-gắt rền-rĩ khiến người nghe phải
“cúi đầu, tựa gối”. Một đằng buồn vui êm dịu khiến người
nghe chỉ thấy lòng nao-nao niềm nhớ, xao-xuyến niềm vui. Bởi vì:
3.2- Tâm-tình
chuyển-biến
Trong
buổi ban sơ, lòng Kiều là cả một mùa xuân đang chuyển hướng: vui
thì vui hớn-hở như ngày xuân phơi-phới đang lên, nhưng buồn thì
vẫn phảng-phất âu-lo như chiều xuân tàn-tạ cuối mùa. Tình xuân
lai-láng ban đầu bao giờ chẳng là mạnh-mẽ lớn-lao? Vốn quen
“êm-đềm trướng rủ màn che, tường đông ong bướm đi về mặc ai”,
bỗng dưng gặp khách thư-sinh mà “tình trong như đã”, mới
trộm liếc “nghé theo” mà đã “xăm-xăm băng lối vườn
khuya một mình”. Sóng tình cuồn-cuộn dâng cao, làm sao nhạc
lòng không hoan-ca náo-nức, cho nên đàn vui nhộn-nhịp tới-tấp
rộn-ràng.
Thế
nhưng Kiều lại sầu khổ đa mang, uỷ-mị đến yếu-đuối, khóc kẻ vô
danh, xót người trong mộng, khư-khư ôm giữ bóng ma, lại thêm
dị-đoan mê-tín. Tin ở mộng-triệu, tin lời đoán số, lúc nào cũng
như liên-cảm cái số kiếp đoạn-trường khó bề thoát khỏi, lúc nào
cũng đinh-ninh trong dạ “nghìn thu bạc-mệnh một đời tài-hoa”
để rồi “trông người lại ngẫm đến ta, một dầy một mỏng biết là
có nên?”. Lửa vui đang bốc thì mưa sầu đã đổ. Tuy lòng có
hồi-hộp rộn-rã tưoi vui, song nỗi mừng chỉ như mưa rào mau ngớt,
chứ còn tự nơi sâu thẳm, lòng vẫn rầu-rĩ buồn lo, cái buồn
day-dứt như mưa dầm dai-dẳng. Hỷ-hoan tỏ hiện ra ngoài, đắng cay
hãy còn ngậm nuốt bên trong, bởi vậy đàn buồn thì điệu sầu
ai-oán.
Trái
lại, ngày nay, lòng Kiều như cả một chiều mưa mới dứt. Buồn vui
lẫn-lộn. Vui vì đoạn-trường đã qua, buồn vì tình đà tan biến. Có
đặt mình vào cảnh-ngộ Kiều mới thấy cõi lòng hoang-tàn nhưng
trong sáng. Một tâm-hồn mệt-mỏi vừa mới bừng tỉnh sau cơn
ác-mộng. Niềm sung-sướng rũ sạch bụi trần bắt gặp nỗi “thẹn”
“hoa tàn, trăng khuyết”, cho nên cung nhịp không thể
chơi-vơi rộn-ràng. Một tâm-hồn tươi-tắn chợt vọng-hoài quá-khứ.
Buồn mà không thảm vì không giận tủi ghen tưông, nhưng chỉ vì
nhớ tiếc tình đầu tươi thắm, quyến-luyến tuổi xuân yêu đời. Cho
nên âm-tiết bản đàn không thể não-nề réo-rắt, mà trái lại lướt
đi mơ-màng, nhẹ thoảng như hơi ấm trời xuân. Vui không lên cao,
buồn không xuống thấp, vì lòng Kiều đã trở nên thư-thái an-hoà.
IV- NGHỆ-THUẬT GẮN
LIỀN VỚI
TÂM-HỒN
Chính
sự chuyển biến của tâm-tình cùng với biến-thể của ngón đàn
kỳ-diệu ấy đã minh-chứng mối liên-hệ mật-thiết phải có giữa
nghệ-thuật và tâm-hồn. Qua nhận-xét của chàng Kim, thì tuy vẫn
một bản đàn năm cũ, song
“Chàng rằng: ‘Phổ ấy tay nào,
Xưa
sao sầu thảm, nay sao vui-vầy?
Phải
chăng vì lòng Kim-Trọng vui, nên nghe đàn vui như vậy? Phải
chăng vì lòng Kiều đang bâng-khuâng sung-sướng, nên ngón đàn trở
nên đổi khác ngày xưa?
“Tẻ
vui bởi tại lòng này,
Hay
là khổ tạn đến ngày cam lai?”
Kim-Trọng đã hỏi Kiều như thế. Một đằng có thể do Kim-Trọng
đinh-ninh trong dạ, một đằng có thể do Thuý-Kiều “xôn-xao”
trong tâm-tư. Nhưng cung điệu của ngón đàn, dù ảnh-hưởng bởi
lòng Kim hay tình Kiều, lời phê-bình của chàng Kim cũng đã
chứng-tỏ: tiếng đàn đổi thay theo tâm-hồn, nói lên
những rung cảm chân-thành của người tấu, gợi được cảm-xúc
lai-láng nơi người nghe. Lại như đã thấy, khi Kiều đàn cho vợ
chồng Thúc-Sinh cũng như cho Hồ Tôn-Hiến, cung đàn biến điệu
thật kỳ-ảo vô cùng.
Bởi
vậy, nếu nghệ-thuật chỉ đặc-sắc khi phản-ánh được tâm-hồn nghệ
sĩ và lan truyền được cảm-xúc của mình làm cảm-hoá người sành
điệu thưởng-thức, thì ở đây, qua tiếng đàn của Thuý-Kiều,
Nguyễn-Du đã chứng-tỏ đó là chân nghệ-thuật vậy.

KẾT-LUẬN:
Đến
đây, chẳng
những
nhận
chân
được tài thẩm âm của Nguyễn-Du, mà còn còn
thấy ở nơi tác-giả cách đạo-diễn tài-tình.
Cùng với cung đàn sơ-ngộ năm xưa,
giáo đầu bản trường-ca não-nuột, ta gặp đôi tri-kỷ Bá-Nha, Tử-Kỳ:
“Rằng: ‘Nghe nổi tiếng cầm-đài,
Nước non
luống những lắng tai Chung-Kỳ’ ”
Hôm nay, khi cung đàn
tái-ngộ kết-thúc bi-kịch, bóng Tử-Kỳ, Bá-Nha lại xuất-hiện, diễn
nốt vai trò dang-dở, hai kẻ tri-âm trở về trong niềm cảm-thông
chua xót:
“Một phen tri-kỷ
cùng nhau,
Cuốn
dây từ đấy về sau cũng chừa.”
Nếu
Tử-Kỳ nghe Bá-Nha gảy đàn mà thẫn-thờ, vui tươi lúc cung bậc
vòi-vọi như non cao, khi nhạc đàn cuồn-cuộn như nước chảy,
thì Kim-Trọng nghe Kiều đàn cũng “khi tựa gối, khi cúi đầu,
khi vò chín khúc, khi chau đôi mày”.
Nếu
Bá-Nha mất Tử-Kỳ, người bạn chí-thiết, mà đập đàn bẻ phím,
thì ngày nay mất chàng Kim, người tình thiết-ái, Kiều cũng
“cuốn dây từ đấy về sau cũng chừa”.
Lần
sơ-ngộ thì chuyện người xưa được Kim-Trọng chỉ rõ (nước non),
xưng danh (Chung-Kỳ). Lần này tái-ngộ, Kiều chỉ nhắc tới
điển-ý xa vời (tri-kỷ, cũng chừa).
Cuộc
đời thắm-thiết ngày trước của Tử-Kỳ, Bá-Nha cũng như của
Kim-Trọng, Thuý-Kiều, ngày nay chỉ còn là vang bóng chập-chờn.
Mở bằng
lời chàng Kim, kết bằng lời Thuý-Kiều; mở bằng tình giao-kết gắn
bó đủ đôi, kết bằng nỗi đơn-côi lẻ bóng. Cung đàn đổi thay theo
nhạc-cảnh vén mở hạ màn, quả đã bố-cục nhất-quán cho vở kịch
Bạc-Mệnh, gói trọn thiên tình-sử bi-đát của đôi tài-tử
giai-nhân.
*
Đỗ Quang-Vinh:
Cử-Nhân Luật-khoa,
Cao-học Kinh-Tế Đại Học Saigon, Cử-Nhân Giáo-Dục tại
Đại-Học Toronto Canada, tác-giả nhiều bài nghiên-cứu trên các
báo Việt-Ngữ ở hải-ngoại. Tác-phẩm chính đã xuất-bản:
1) Tôn-giáo: Tin Yêu
(thơ), Hành-Trang Lên Đường
2) Giáo-khoa và
văn-học: Học Đọc Tiếng Việt; Ca-Dao Đố Vui Học Tiếng Việt; Lục
Bát Đố Vui Học Tiếng Việt; Tiếng Việt Tuyệt-Vời; Về Nguồn (thơ);
Bút-Thuật của Nguyễn-Du Trong Đoạn-Trường Tân-Thanh.
e-mail:
doquangvinhvenguon@yahoo.com
Trở về Trang Chính
|