LÀM THẾ NÀO ĐỂ CUỐN HÚT

CÁC HỌC-SINH VIỆT TẠI HẢI-NGOẠI

ĐI VÀO QUỸ-ĐẠO HỌC TIẾNG MẸ?

hay là

Đề-Nghị Một Cách Dạy Tiếng Việt

Theo Phương-Pháp Giáo-Dục Hiện-đại.(1)



 

Dẫn Nhập    


 

Lớp học theo quan-niệm giáo-dục hiện-đại được gọi là cấp-tiến (progressive education) đề ra hai yếu-tố chính:

            * Lớp học trước hết là một môi-trường sinh-động: đối-thoại giữa thầy trò, đối-thoại giữa học-trò với nhau. Như vậy, thầy giáo không hẳn chỉ là người truyền-đạt kiến-thức, học-trò là kẻ thụ-động tiếp-thu, mà người thầy còn là một người động-viên, hướng-dẫn (teacher as a stimulator, a guider) và cũng còn là người học hỏi nữa (teacher as a learner).

            * Lớp học lại phải đáp-ứng nhu-cầu và khả-năng phát-triển tâm-lý của thiếu-nhi  cho nên bầu khí lớp học không những phải tự-nhiên, thoải-mái mà bài dạy cũng như phương-pháp, cách thức giảng dạy phải uyển-chuyển thích-nghi với tâm-hồn, với ước muốn ý-hướng của chúng.

 

            Yếu-tố thứ hai đặt ra phương-pháp, cách thức giảng-dạy sẽ được đề-cập trong phần 2. Yếu-tố thứ nhất đặt ra vai trò của người thầy phải hội đủ hai điều-kiện. Điều-kiện thứ nhất là những đức-tính cần-thiết như tư-cách đạo-đức, lương-tâm nghề-nghiệp và lòng yêu nghề, yêu trẻ. Những đức-tính này làm nên mô-phạm để người thầy trở thành khuôn mẫu, và cũng để giúp thầy giải-quyết những thách-đố trước đối-tượng của mình, ngõ hầu sáng-tạo và cải-tiến việc giảng dạy. Những thách-đố này, hoặc  do các vấn-nạn mà đối-tượng đặt ra, hoặc đơn-thuần do chính bầu khí lớp học gợi nguồn cảm-hứng cho người thầy.

            Do đó, điều-kiện thứ hai là phải có kiến-năng đủ để giải-quyết vấn-đề, sẽ được đề-cập ở phần 1. Về phương-diện này, trong địa-hạt dạy ngôn-ngữ, đặc-biệt là dạy tiếng Việt, người thầy phải nắm vững hai thành-phần chủ-yếu của ngữ-học là ngữ-âm (phonetics) và ngữ-nghĩa (semantics). Nếu ngữ-nghĩa đòi phải đọc và học hỏi liên-tục để mở rộng kiến-năng về văn-chương, văn-hoá, thì ngữ-âm là điều-kiện cơ-bản, tiên-quyết ắt phải có, để làm mẫu-mực và hướng-dẫn học đọc.

 

Quả vậy, dạy cho các em biết đọc, biết viết tiếng Việt là cả một nghệ-thuật, mà trước đó người dạy phải nắm vững cấu-trúc và ngữ-pháp tiếng Việt cũng như văn-chương và văn-hoá Việt. Chính người thầy phải phát âm và lên xuống giọng cho rõ-ràng chính-xác, vì đây không phải chỉ là khuôn mẫu mà còn là một yếu-tố tiên-khởi cuốn hút học-trò đi vào quỹ-đạo học tập, bởi lẽ tính nhạc là một trong những nét đặc-thù của tiếng Việt. Trong cuốn Tiếng Việt Tuyệt-Vời (ấn-bản lần 2, Toronto, 2000), chúng tôi có diễn-giải những nét đặc-thù của ngôn-ngữ Mẹ, phân-tích trên cơ-sở của ngữ-âm và ngữ-nghĩa. Riêng về ngữ-âm, chương 6 dành trọn để khảo-luận về “Âm Và Thanh Trong Tiếng Việt”, với những phân-tích, biện-giải cùng miêu-tả và mô-hình minh-hoạ cách phát âm các phụ-âm và nguyên-âm. 

 

Thiếu-nhi dễ bắt chước mau lẹ, đó là thiên-bẩm. Khả-năng này càng lớn lên càng bị hạn chế. Cho nên đối với các thanh-thiếu-niên quen nói ngoại-ngữ như ngôn-ngữ chính, việc mô-tả các cử-động của môi, miệng, lưỡi để hướng-dẫn cách phát âm là cần-thiết. Đó là kinh-nghiệm có kết-quả chúng tôi thu-thập được khi dạy tiếng Việt cho người Canada lớn tuổi.

Về tiếng Việt, với cấu-trúc của chữ quốc-ngữ, ở đây, chúng tôi chỉ xin tóm-tắt vài nét chính-yếu.

 

Phần 1-  Một vài ghi-chú về âm và thanh

 

1-  Cần phân-biệt dấu giọng và dấu chữ:

a dấu giọng làm nên tính nhạc của ngôn-ngữ, đưa giọng lên cao, xuống thấp theo thang âm, gồm có sắc, huyền, hỏi, nặng, ngã và không dấu.

b- dấu chữ biến đổi chữ này sang chữ khác tạo thành âm mới như o thành ô, ơ, u thành ư, e thành ê, a thành ă, â. Hai chữ này quen gọi tên mẫu-tự đọc là áớ, không đứng một mình mà phải ghép với phụ-âm cuối từ mới phát âm được để tạo nên mẫu-âm và từ, ví-dụ: ăn, âm, cằn-nhằn, ầm-ầm, lầm-rầm. Sau đây là đồ-biểu thang âm của ngữ Việt gồm 2 âm-giai cao và thấp đối xứng nhau. Dấu ngã kẹt trong hốc mũi, dấu hỏi như đọng trong cổ họng. Khi luyện giọng, làm điệu tay theo dáng hướng của thang âm này. Cách này, chúng tôi đã áp-dụng kết-quả khả-quan, khi hướng-dẫn cho người Canada học tiếng Việt.

 

                                                             

2- một từ = (một tiếng) được cấu-t ạo như  sau:

 

a-      một nguyên-âm chính.

Ví-dụ: A! U ú ớ.

     b- phụ-âm đầu từ (đơn, kép) + mẫu-âm.

Có thể là mẫu-âm chính gốc hoặc đơn như a, hoặc ghép (như ây, eo) hay mẫu-âm biến dạng (như ăm, on, ông…)

Ví-dụ: Vậy là nhà bà Ba Béo không còn xa lắm.

        c -mẫu-âm + phụ-âm cuối từ = mẫu-âm biến dạng.

Ví-dụ: uổng công vun trng

 

3- mẫu-âm: gồm có mẫu-âm chính gốc mẫu-âm biến dạng.  Chúng tôi đề-nghị gọi tên như vậy, cho thuận-lý theo ngữ-học, thay vì gọi là vần xuôi và vần ngược chỉ có tính-cách nhận dạng chữ viết mà thôi. Như vần oang, là khởi từ mẫu-âm chính oa làm gốc, rồi xoang miệng biến-thể do miệng mở dài sang hai bên mép với âm ngờ thêm vào, nên được ký-âm theo dạng chữ mới là oang.

TỪ  (Tiếng) =  phụ-âm đầu từ      +          mẫu-âm         

    (word )

              Nguyên-âm đơn / kép 2 / kép 3 = mẫu-âm  chính gốc

                                  [ o  /   oa   /   oai ]          

               Nguyên-âm:

                đơn / kép 2 + phụ-âm cuối từ   =  mẫu âm biến dạng

                  (o)   ( oa)           (n)  (nh)       =       (oan)    (oanh)         

 

Sau đây là trích đoạn bảng tóm-tắt trong cuốn Tiếng Việt Tuyệt-Vời:

 

Mẫu-âm chính gốc

Mẫu-âm biến dạng

Mẫu-âm đơn

Mẫu-âm ghép

(ghép thêm phụ-âm cuối từ)

Âm

đơn

thường

Âm

đơn đặc-biệt

Âm ghép

  2

Âm

ghép

3

ghép

1

phụ-âm

ghép

2

phụ-âm

Ví-dụ

 

o

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ô

 

 

 

 

oe

 

 

 

 

 

ôi

 

 

 

 

oeo

 

 

 

 

 

 

 

 

 

oen

 

 

 

 

ôn

 

 

 

 

 

oong

 

 

 

 

ông

ò, ó, o… o!

khóc oe-oe

nằm khoèo

hoen ố

xoong chảo

 

xổ số

lôi-thôi

ôn-tồn

lông ngỗng

 

4-      Vấn-đề phát-âm nguyên-âm, phụ-âm, mẫu-âm và từ

 

a)  gọi tên mẫu-t tuỳ theo môi-trường học chữ. Ở Việt-Nam, quen gọi tên theo phát-âm La-ngữ như u, e, o. Tại hải-ngoại, các em quen gọi tên mẫu-tự theo Pháp hoặc Anh-ngữ, thì cứ để gọi như vậy cho khỏi rối loạn. Tuy nhiên phụ-âm thì phát âm theo tự-nhiên, nguyên-âm thì phát âm theo La-ngữ như vẫn quen dùng. Ta quen phát âm chữ t (tên gọi mẫu-tự là tê, ti) là tờ, chúng tôi cứ giữ nguyên lối này. Ví dụ:

 

Mẫu-âm

 

gọi tên tuỳ theo môi-trường học chữ

 

Phát âm

 

c

t

v

h

e

a

 

(Việt, La, Pháp), Xi (Anh-ngữ)

Tê (Việt, La, Pháp), Ti (Anh-ngữ)

(Việt, La, Pháp), Vi (Anh-ngữ)

Hát (Việt, La, Pháp), êt-tch (Anh-ngữ)

e (Việt, La-ngữ), ơ, i (Pháp, Anh)

a (Việt, La, Pháp), a, ê, ơ (Pháp, Anh)

 

cờ

tờ

vờ

hờ

e

a

 

b) các phụ-âm đầu từ và cuối từ:

 

Số thứ tự

Phụ âm

Ghép đầu từ để cấu-tạo từ

Ghép cuối từ để

cấu-tạo mẫu-âm

 

Ví-dụ

 

1

 

 

 

5

 

 

 

 

 

11

 

 

14

15

 

16

17

18

19

 

 

22

 

 

25

 

27

b

c

ch

d

đ

g

h

gh

k

kh

l

m

n

nh

ng

 

ngh

p

ph

q/qu

r

s

t

th

tr

v

x

gi

 

ba

ca

cha

da

đa

ga

ha

ghe, ghê, ghi

ke,kê,ky

kha

la

ma

na

nha

nga

 

nghe, nghê

pa

pha

qua

ra

sa

ta

tha

tra

va

xa

gia

 

ac, ăc, âc,

ach

 

 

 

 

 

 

 

 

am, âm, ăm

an, ăn, ân

anh

ang, ăng, âng

 

 

ap, ăp, âp

 

 

 

 

at, ăt, ât

 

bạc cắc, lấc-cấc

lách-cách

 

 

 

 

 

 

 

 

tấm, cám, cà-lăm

ăn gian, ân-cần

lanh-chanh

vầng trăng sáng

 

 

cắp tráp, lập-cập

 

 

 

 

mát mặt, mất mặt

c) phát-âm một số phụ-âm:

 

Song có trường-hợp phụ-âm đầu từ c, k, g, gh, ng, ngh, gi, thì sao? Về vấn-đề tại sao chia ra nhiều thứ như vậy trong khi cùng phát-âm là cờ, gờ, ngờ, chúng tôi có biện-giải ở sách đã dẫn nơi chương 6- Âm và Thanh Trong Tiếng Việt. Duy có điều sau đây đã nêu thắc-mắc chưa được giải-quyết, nay xin đề-nghị:

·        c ghép với các âm mở a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư: phát-âm là cờ như thường-lệ.

·        ghép với âm khép e, ê, i, y, phát-âm là (không dấu huyền, đọc mạnh).

·        cũng vậy g phát-âm là gờ như đã quen dùng, gh phát-âm là (không dấu huyền, đọc mạnh).

·        ng phát-âm là ngờ như đã quen dùng,  ngh phát-âm là ngơ (không dấu huyền, đọc mạnh).

·        gi phát-âm là giờ. Riêng trường-hợp này có biệt-l như sau:

 

Nếu mẫu-âm ghép vào bắt đầu bằng i thì vì trùng với i của phụ-âm đầu từ gi nên đơn-giản bớt một chữ i. Ví-dụ: cái gì = gi-ì = g(i) ì thành gì; gi iếng = g(i) iếng = giếng. Do đó nơi sách đã dẫn, chúng tôi có mạo-muội đề-nghị thay gi bằng z. Dẫu sao khi chưa có Hàn-Lâm-Viện chính-thức, vẫn phải áp-dụng cách viết theo tập-quán như trên.

 

      d) phát-âm mẫu-âm: Mẫu-âm cần được phát âm cho chính-xác. Ví-dụ: âm anh và inh trong câu “Đêm qua tát nước đầu đình, để quên chiếc áo trên cành hoa sen”, nhiều người đọc nghe na ná như “đầu đừn, trên cằn hoa sen”; các âm anh, inh, ăn, ưn, tuy đều là âm khép, khi phát âm xoang miệng xẹp xuống theo hình chữ nhật hẹp, nhưng với anh và inh thì miệng khép hẹp và chạy dài sang hai bên mép, còn với ăn, ưn thì âm khép, hẹp và ngắn hơn. (Xin xem thêm Tiếng Việt Tuyệt Vời, 1999, chương 6, Âm và  Thanh Trong Tiếng Việt)

 

      e) phát-âm từ-ngữ: Tiếng Việt hàm-ngụ chữ Việt và lời Việt. Chữ Quốc-ngữ là một ký-âm-pháp lời Việt rất tinh-tế, chính-xác. Nói làm sao thì viết làm vậy. Chữ viết ký-âm theo những uốn nắn của cử-động môi, miệng, răng, hàm, lưỡi, theo âm-hưởng trong xoang miệng, trong cổ họng và trong hốc mũi:

 

            *  Âm của mỗi từ do từng cặp song âm đọc lướt nhanh ghép lại.           Ví-dụ: choáng váng mặt mày.

Từ choáng có phụ-âm đầu từ CH ghép với mẫu-âm biến-dạng OANG, mẫu âm này hợp bởi mẫu-âm chính gốc kép OA với phụ-âm kép cuối NG. Nếu tách âm ra, ta có:

                  âm  OA  do           : O-A = OA

                  âm  OANG do      : OA-NGỜ = OANG

âm CHOANG do: CHỜ-OANG=CHOANG (xem thêm TVTV, Chg. 8: Tiếng Việt Với Triết-lý Âm Dương và Đạo Sống Thái-Hoà...).

 

            *  Đây chính là cách phát-âm theo phương-pháp tự-nhiên hay quy-nạp-pháp sẽ đề-cập ở phần 2.  Vì tính-chất ký-âm như vậy, thiết-nghĩ không nên đánh vần theo lối xưa: c-h-o-cho-a-choa-n-g-choang. Lối đánh vần này có tính-cách nhồi sọ, không tự-nhiên, ngăn chặn khả-năng tự-phát của người học, nhất là của trẻ em rất sợ nhàm chán, thích bắt chước, thường nhờ mô-phỏng mà dễ nhận-diện những từ-ngữ mới.

 

Nhìn khuôn-âm OANG, với Bảng Tập Ráp Vần chúng tôi đề-nghị nơi phần hướng-dẫn đầu sách HỌC ĐỌC TIẾNG VIỆT, các em có thể tự đọc lấy trôi chẩy các từ đồng-dạng và, từ đó, phấn-khởi đọc toàn bài hay tự đặt câu lấy một mình [xin xem phụ-đính dưới cui bài này] (2)

 

            **   Đối với thiếu-niên chỉ quen nói tiếng bản xứ, cũng như cho người ngoại-quốc lớn tuổi mà khả-năng bắt chước phát âm hạn-chế, ngoài việc giải-thích và mô-tả cách phát âm, ta nên dùng phép đối-chiếu các vần tương-tự giữa hai sinh-ngữ: ngôn-ngữ họ thường dùng (Anh & Pháp) và ngôn-ngữ Việt. Ví-dụ họ đọc được One day, thì cũng đọc được lo toan, bờ đê, hay voyage, quoi tiếng Pháp, thì cũng đọc được dễ-dàng quay  qua.  Cách này chúng tôi đã áp-dụng hiệu-nghiệm.

 

            **    Ngoài ra vấn-đề dạy tiếng Việt theo phương-pháp song ngữ cũng đã được đề-xuất. Vấn-đề này này cần phải được xác-định cho rõ hơn. Thiết-nghï, học sinh-ngữ cần được đàm-thoại, trước khi học đọc, học viết, không phải chỉ học nghe mà còn học nói, và vì ngôn-ngữ còn là một tập-quán, nên cần được luyện tp thường-xuyên, lâu dài nhất là tiếng Việt, ngoài tính nhạc với thang âm quả thực khó lên xuống cho đúng giọng, cách phát âm lại rất tinh-tế với sự uốn nắn tối-đa những cử-động của lưỡi và hàm, miệng. Vì thế, song-ngữ chỉ nên coi là một phương-thức bất-đắc-dĩ, chẳng hạn khi dạy cách phát âm như vừa nói hoặc khi cần phải giải-thích một từ-ngữ, nhiều khi không thể giải-thích theo lối định-nghĩa có tính-cách trừu-tượng của diễn-dịch-pháp, mà nên giải-thích bằng cách cho biết tiếng đồng-nghĩa của ngoại-ngữ, ví-dụ giảng nghĩa các ngữ-vựng: trường học, lớp học, phòng học, chiến-tranh, hoà-bình, v..v…, nên nói thêm những từ-ngữ này đồng-nghĩa với the school, the class-room, the war, peace, v.v…Tuyệt-đối không tr li bng ngoi-ng khi hc-trò đặt câu hỏi bằng ngoại-ngữ. Phải khuyến-khích học-trò nói tiếng Việt, trường-hợp này, thầy dịch sang tiếng Việt rồi cho học-trò lập lại câu hỏi, hoặc ngược lại thầy hỏi bằng tiếng Việt, rồi dịch sang ngoại-ngữ để cho học-trò hiểu ý-nghĩa của câu nói tiếng Việt.

 

Đây cũng là vấn-đề đặt ra cho các bậc phụ-huynh, nên cố-gắng nói chuyện với con em bằng tiếng Mẹ, vì ngôn-ngữ là một tập-quán mà các em thì đã có nhiều cơ-hội nói ngoại-ngữ ở trường học và ngoài xã-hội. Nhất là, trẻ em vốn có năng-khiếu tiếp nhận nhiều tiếng nói một cách dễ-dàng và tự-nhiên, đó là thiên-bẩm. Lại nữa, có những điều chỉ có thể diễn-tả bằng tiếng Việt, có những điều chỉ có thể diễn-tả bằng tiếng bn-xứ.  Cho nên ti hi-ngoi, các bc ph-huynh cn tranh-th thi-gian ít-i ti nhà để cho các em tập nói tiếng Mẹ, không phải chỉ vì những lợi-ích trên mà còn là để duy-trì và bồi-dưỡng cho các em văn-hóa Việt với những giá-trị đạo-đức, những truyền-thống cao đẹp của cha ông, và như vậy sẽ không đánh mất con em, không để chúng vuột ra khỏi tầm tay của mình.

 

5-      về cách đánh dấu giọng: đánh dấu giọng trên chủ-âm.

Dĩ-nhiên khi một từ chỉ có một nguyên-âm làm mẫu-âm, thì nguyên-âm này là chủ-âm. Ví-dụ: Ta có gi sò

Ngoài ra, ta phân-bit 3 trường-hợp sau đây:

a- Nếu là mẫu-âm biến-dạng: dấu giọng được đánh trên nguyên-âm đứng liền trước phụ-âm cuối từ đầu tiên, ví-dụ: mát mt, xunh-xoàng, uyn-chuyn, hoành-hành, niêm-yết.

 

b- Nếu là mẫu-âm ghép 2: dấu giọng được đánh trên nguyên-âm đầu, như: ái, ói, i, i, íu, úi, i, éo, ếu, ngoi-trừ trong các từ sau đây: oa, qua, oe, que, uê, uy, uơ, chủ- âm là a, e, ê, y, ơ nên dấu ging được đánh trên các nguyên- âm chủ-âm này, ta có: đầu tóc loà-xoà, hoà-hp, hoa qu, nôn o, qu bói, đề-hu, kiệt-qu, say tuý-luý, qu-lu, qu-trách, thu ấy.

 

c- Nếu là mẫu-âm ghép 3: chủ-âm là nguyên-âm giữa, dấu giọng được đánh trên các nguyên-âm chủ-âm này: Ví-dụ: kêu oai-oái, ngoáy tai, ngoằn-ngoèo [ngoằn có dấu huyền đánh trên chữ ă vì  thuộc về trường-hợp (a) có mẫu-âm biến-dạng nói trên]

 

6-      Trường-hợp I ngắn hay Y dài: Xin xem bài này nơi trang 156-161 trong TIẾNG VIỆT TUYỆT-VỜI (ấn-bản 2, Toronto, 2000). Xin trích tóm-lược sau đây:

 

 Thông-thường viết I ngắn, chỉ viết Y dài khi:
 
a- từ nào duy-nhất có 1 mẫu-tự phát ra âm i: ta có các từ: y, ý, ỳ, ỷ, ỹ, ỵ .
b- đầu từ là một nguyên-âm phát ra âm i đứng trước mẫu-âm ghép hay biến-dạng: Ta có các từ yêu, yếu, yểu, yêm, yếm, yểm, yên, yến, yểng, yết, vì y có chức-năng của một bán-phụ-âm đầu từ (semi-consonne) như trong yeux tiếng Pháp hay yesterday tiếng Anh. Do đó không có YA, nhưng IA, vì I ngắn ở đây là một bán-nguyên-âm (semi-voyelle) trong mẫu-âm ghép IA giống như la-liếm.
c- phụ-âm đầu từ có điểm phát-âm ở giữa vòm miệng  hay trong cổ họng: Đó là K, L, H. Ví-dụ: Ký Ly hỷ mũi.
 

Thông-thường viết I ngắn, chỉ viết Y dài khi:


 
a- từ nào duy-nhất có 1 mẫu-tự phát ra âm i: ta có các từ: y, ý, ỳ, ỷ, ỹ, ỵ .
b- đầu từ là một nguyên-âm phát ra âm i đứng trước mẫu-âm ghép hay biến-dạng: Ta có các từ yêu, yếu, yểu, yêm, yếm, yểm, yên, yến, yểng, yết, vì y có chức-năng của một bán-phụ-âm đầu từ (semi-consonne) như trong yeux tiếng Pháp hay yesterday tiếng Anh. Do đó không có YA, nhưng IA, vì I ngắn ở đây là một bán-nguyên-âm (semi-voyelle) trong mẫu-âm ghép IA giống như la-liếm.
c- phụ-âm đầu từ có điểm phát-âm ở giữa vòm miệng  hay trong cổ họng: Đó là K, L, H. Ví-dụ: Ký Ly hỷ mũi.
 

(xem mô-hình khu-cái bên dưới)

mô-hình khẩu-cái,

vị-trí phát âm của các phụ-âm đầu từ

 

 

Phần 2- Phương-pháp giảng dạy

  

Phương-pháp giảng dạy phải thoả-mãn nhu-cầu và khả-năng phát-triển tâm-lý của thiếu-nhi. Điều này buộc ta phải hiểu rõ đối-tượng ngõ hầu tìm ra cách thức cùng tài-liệu giảng dạy sao cho thích-ứng.

 

I- Hiểu rõ đối-tượng

 

1)  Trẻ em hay bắt chước, dễ mô-phỏng, so-sánh đối-chiếu, và từ đó dễ nhận-diện.

 

Ngay từ lúc lên hai tuổi, chúng đã ưa làm theo những gì chúng được quan-sát, và có thể đối-chiếu giữa vật này với vật khác tương-tự. Nhìn vào ảnh của ông bà, ng