Lớp học theo quan-niệm giáo-dục hiện-đại được gọi
là cấp-tiến (progressive education) đề ra hai yếu-tố chính:
*
Lớp học trước hết là một môi-trường
sinh-động:
đối-thoại giữa thầy
trò, đối-thoại giữa học-trò với nhau. Như vậy, thầy giáo không
hẳn chỉ là người truyền-đạt kiến-thức, học-trò là kẻ
thụ-động
tiếp-thu,
mà người thầy còn là một người động-viên, hướng-dẫn
(teacher as a
stimulator, a guider) và cũng còn là người học hỏi nữa
(teacher as a learner).
*
Lớp học lại phải đáp-ứng nhu-cầu và
khả-năng phát-triển tâm-lý của thiếu-nhi cho nên
bầu khí lớp học không những phải tự-nhiên,
thoải-mái mà bài dạy cũng như phương-pháp,
cách thức giảng dạy
phải uyển-chuyển
thích-nghi với
tâm-hồn,
với ước muốn và ý-hướng của chúng.
Yếu-tố thứ hai đặt ra
phương-pháp, cách thức giảng-dạy
sẽ được đề-cập trong
phần 2.
Yếu-tố thứ nhất đặt ra vai trò của người
thầy phải hội đủ hai điều-kiện. Điều-kiện thứ nhất là
những đức-tính cần-thiết như tư-cách đạo-đức, lương-tâm
nghề-nghiệp và lòng yêu nghề, yêu trẻ. Những đức-tính này làm
nên mô-phạm để người thầy trở thành khuôn mẫu, và cũng để giúp
thầy giải-quyết những thách-đố trước đối-tượng của mình, ngõ hầu
sáng-tạo và cải-tiến việc giảng dạy. Những thách-đố này, hoặc
do các vấn-nạn mà đối-tượng đặt ra, hoặc đơn-thuần do
chính bầu khí lớp học gợi nguồn cảm-hứng cho người thầy.
Do đó, điều-kiện thứ hai là phải có
kiến-năng
đủ để giải-quyết vấn-đề, sẽ được đề-cập ở phần 1.
Về phương-diện này,
trong địa-hạt dạy ngôn-ngữ, đặc-biệt là dạy tiếng Việt,
người thầy phải nắm
vững hai thành-phần chủ-yếu của ngữ-học là ngữ-âm
(phonetics) và ngữ-nghĩa (semantics). Nếu ngữ-nghĩa đòi
phải đọc và học hỏi liên-tục để mở rộng kiến-năng về văn-chương,
văn-hoá, thì ngữ-âm là điều-kiện cơ-bản, tiên-quyết ắt phải có,
để làm mẫu-mực và hướng-dẫn học đọc.
Quả vậy, dạy cho các em biết đọc, biết viết tiếng
Việt là cả một nghệ-thuật, mà trước đó người dạy phải nắm vững
cấu-trúc và ngữ-pháp tiếng Việt cũng như văn-chương và văn-hoá
Việt. Chính người thầy phải
phát âm và lên xuống giọng cho rõ-ràng chính-xác,
vì đây không phải chỉ là khuôn
mẫu mà còn là
một yếu-tố
tiên-khởi cuốn hút học-trò đi vào quỹ-đạo học tập,
bởi lẽ tính nhạc là một trong những nét đặc-thù của tiếng
Việt. Trong cuốn Tiếng Việt Tuyệt-Vời (ấn-bản lần 2,
Toronto, 2000), chúng tôi có diễn-giải những nét đặc-thù của
ngôn-ngữ Mẹ, phân-tích trên cơ-sở của ngữ-âm và ngữ-nghĩa. Riêng
về ngữ-âm, chương 6 dành trọn để khảo-luận về “Âm Và Thanh Trong
Tiếng Việt”, với những phân-tích, biện-giải cùng miêu-tả và
mô-hình minh-hoạ cách phát âm các phụ-âm và nguyên-âm.
Thiếu-nhi dễ bắt chước mau lẹ, đó là thiên-bẩm.
Khả-năng này càng lớn lên càng bị hạn chế. Cho nên đối với các
thanh-thiếu-niên quen nói ngoại-ngữ như ngôn-ngữ chính, việc
mô-tả các cử-động của môi, miệng, lưỡi để hướng-dẫn cách phát âm
là cần-thiết.
Đó là kinh-nghiệm có kết-quả chúng tôi thu-thập được khi dạy
tiếng Việt cho người Canada lớn tuổi.
Về tiếng Việt, với cấu-trúc của chữ quốc-ngữ, ở
đây, chúng tôi chỉ xin tóm-tắt vài nét chính-yếu.
Phần 1-
Một vài ghi-chú về âm và thanh
1- Cần phân-biệt dấu giọng và dấu chữ:
a-
dấu
giọng làm nên tính nhạc của ngôn-ngữ,
đưa giọng lên cao, xuống thấp theo thang âm, gồm có sắc,
huyền, hỏi, nặng, ngã và không dấu.
b-
dấu chữ biến đổi chữ này sang chữ khác tạo thành âm mới
như o
thành ô, ơ, u thành ư, e thành ê, a thành
ă, â. Hai chữ này quen gọi tên mẫu-tự đọc là á và
ớ, không đứng một mình mà phải ghép với phụ-âm cuối từ
mới phát âm được để tạo nên mẫu-âm và từ, ví-dụ: ăn, âm,
cằn-nhằn, ầm-ầm, lầm-rầm. Sau đây là đồ-biểu thang âm của
ngữ Việt gồm 2 âm-giai cao và thấp đối xứng nhau. Dấu ngã kẹt
trong hốc mũi, dấu hỏi như đọng trong cổ họng. Khi luyện giọng,
làm điệu tay theo dáng hướng của thang âm này. Cách này, chúng
tôi đã áp-dụng kết-quả khả-quan, khi hướng-dẫn cho người Canada
học tiếng Việt.


2- một
từ = (một
tiếng) được cấu-t
ạo như sau:
a-
một nguyên-âm chính.
Ví-dụ: A! U ú ớ.
b-
phụ-âm đầu từ (đơn, kép) + mẫu-âm.
Có thể là
mẫu-âm chính gốc hoặc đơn như
a, hoặc ghép
(như ây, eo) hay
mẫu-âm biến dạng (như ăm,
on, ông…)
Ví-dụ:
Vậy
là nhà
bà Ba
Béo không
còn xa lắm.
c -mẫu-âm + phụ-âm
cuối từ = mẫu-âm biến dạng.
Ví-dụ:
uổng
công
vun
trồng
3- mẫu-âm:
gồm
có mẫu-âm chính gốc
và mẫu-âm biến
dạng.
Chúng
tôi đề-nghị gọi tên như vậy, cho thuận-lý theo ngữ-học,
thay vì gọi là vần xuôi và
vần ngược chỉ có tính-cách nhận dạng chữ
viết mà thôi. Như vần
oang, là khởi từ
mẫu-âm chính oa
làm gốc, rồi xoang miệng biến-thể
do miệng mở dài sang hai bên mép với âm
ngờ
thêm vào, nên được ký-âm theo dạng chữ
mới là oang.


TỪ (Tiếng)
=
phụ-âm đầu từ
+
mẫu-âm

(word )
Nguyên-âm đơn / kép 2 / kép 3
=
mẫu-âm chính gốc
[ o / oa / oai
]
Nguyên-âm:
đơn / kép 2
+
phụ-âm cuối từ
=
mẫu âm biến dạng
(o) ( oa)
(n)
(nh)
= (oan) (oanh)
Sau đây là trích
đoạn bảng tóm-tắt trong cuốn Tiếng Việt Tuyệt-Vời:
|
Mẫu-âm chính gốc |
Mẫu-âm biến dạng |
|
Mẫu-âm đơn |
Mẫu-âm ghép |
(ghép thêm phụ-âm cuối từ) |
|
Âm
đơn
thường |
Âm
đơn đặc-biệt |
Âm ghép
2 |
Âm
ghép
3 |
ghép
1
phụ-âm |
ghép
2
phụ-âm |
Ví-dụ
|
|
o
|
ô
|
oe
ôi
|
oeo
|
oen
ôn
|
oong
ông |
ò, ó, o… o!
khóc oe-oe
nằm khoèo
hoen ố
xoong chảo
xổ số
lôi-thôi
ôn-tồn
lông ngỗng |
4-
Vấn-đề
phát-âm nguyên-âm, phụ-âm, mẫu-âm và từ
a)
gọi tên mẫu-tự
tuỳ theo môi-trường học chữ. Ở Việt-Nam, quen gọi
tên theo phát-âm La-ngữ như u, e, o. Tại hải-ngoại, các
em quen gọi tên mẫu-tự theo Pháp hoặc Anh-ngữ, thì cứ để gọi như
vậy cho khỏi rối loạn. Tuy nhiên phụ-âm thì phát âm theo
tự-nhiên, nguyên-âm thì phát âm theo La-ngữ như vẫn quen dùng.
Ta quen phát âm chữ t (tên gọi mẫu-tự là tê, ti)
là tờ, chúng tôi cứ giữ nguyên lối này. Ví dụ:
|
Mẫu-âm |
gọi tên
tuỳ theo môi-trường học chữ |
Phát âm |
|
c
t
v
h
e
a |
Xê
(Việt, La, Pháp), Xi (Anh-ngữ)
Tê (Việt,
La, Pháp), Ti (Anh-ngữ)
Vê
(Việt, La, Pháp), Vi
(Anh-ngữ)
Hát
(Việt, La, Pháp), êt-tch
(Anh-ngữ)
e
(Việt, La-ngữ), ơ, i
(Pháp, Anh)
a
(Việt, La, Pháp), a, ê, ơ
(Pháp, Anh) |
cờ
tờ
vờ
hờ
e
a |
b)
các phụ-âm đầu từ và cuối từ:
|
Số thứ tự |
Phụ âm |
Ghép đầu từ
để cấu-tạo từ |
Ghép cuối từ để
cấu-tạo mẫu-âm |
Ví-dụ
|
|
1
5
11
14
15
16
17
18
19
22
25
27 |
b
c
ch
d
đ
g
h
gh
k
kh
l
m
n
nh
ng
ngh
p
ph
q/qu
r
s
t
th
tr
v
x
gi
|
ba
ca
cha
da
đa
ga
ha
ghe,
ghê,
ghi
ke,kê,ky
kha
la
ma
na
nha
nga
nghe, nghê
pa
pha
qua
ra
sa
ta
tha
tra
va
xa
gia |
ac,
ăc,
âc,
ach
am,
âm,
ăm
an,
ăn,
ân
anh
ang,
ăng,
âng
ap,
ăp,
âp
at,
ăt,
ât |
bạc cắc,
lấc-cấc
lách-cách
tấm, cám,
cà-lăm
ăn gian,
ân-cần
lanh-chanh
vầng trăng sáng
cắp tráp,
lập-cập
mát mặt, mất
mặt |
c)
phát-âm một số phụ-âm:
Song có trường-hợp
phụ-âm đầu từ c, k, g, gh, ng, ngh, gi, thì sao? Về
vấn-đề tại sao chia ra nhiều thứ như vậy trong khi cùng phát-âm
là cờ, gờ, ngờ, chúng tôi có biện-giải ở sách đã
dẫn nơi chương 6- Âm và Thanh Trong Tiếng Việt. Duy có điều sau
đây đã nêu thắc-mắc chưa được giải-quyết, nay xin đề-nghị:
·
c
ghép với các âm mở a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư: phát-âm là
cờ như thường-lệ.
·
ghép với âm khép e,
ê, i, y, phát-âm là cơ (không dấu huyền, đọc mạnh).
·
cũng vậy g
phát-âm là gờ
như đã quen dùng,
gh phát-âm là gơ (không dấu huyền, đọc mạnh).
·
và ng phát-âm
là ngờ như đã quen dùng, ngh phát-âm là ngơ
(không dấu huyền, đọc mạnh).
·
gi
phát-âm là giờ. Riêng trường-hợp này có biệt-lệ
như sau:
Nếu mẫu-âm ghép vào
bắt đầu bằng i thì vì trùng với i của phụ-âm đầu
từ gi nên đơn-giản bớt một chữ i. Ví-dụ: cái gì =
giờ-ì = g(i) ì
thành gì; giờ iếng = g(i)
iếng = giếng.
Do đó nơi sách đã
dẫn, chúng tôi có mạo-muội đề-nghị thay gi bằng z.
Dẫu sao khi chưa có
Hàn-Lâm-Viện chính-thức, vẫn phải áp-dụng cách viết theo
tập-quán như trên.
d) phát-âm mẫu-âm:
Mẫu-âm
cần được phát âm cho chính-xác.
Ví-dụ: âm anh và inh trong câu “Đêm qua tát nước đầu
đình, để quên chiếc áo trên cành hoa sen”, nhiều
người đọc nghe na ná như “đầu đừn, trên cằn hoa
sen”; các âm anh, inh, ăn, ưn, tuy đều là âm khép, khi
phát âm xoang miệng xẹp xuống theo hình chữ nhật hẹp, nhưng với
anh và inh thì miệng khép hẹp và chạy dài sang hai bên
mép, còn với ăn, ưn thì âm khép, hẹp và ngắn hơn.
(Xin xem thêm Tiếng Việt Tuyệt Vời, 1999, chương 6, Âm và Thanh
Trong Tiếng Việt)
e) phát-âm từ-ngữ:
Tiếng Việt hàm-ngụ chữ Việt và lời Việt.
Chữ Quốc-ngữ là một
ký-âm-pháp lời Việt rất tinh-tế, chính-xác. Nói làm sao thì viết
làm vậy. Chữ viết ký-âm theo những uốn nắn của cử-động môi,
miệng, răng, hàm, lưỡi, theo âm-hưởng trong xoang miệng, trong
cổ họng và trong hốc mũi:
* Âm của mỗi từ do từng cặp song âm đọc lướt nhanh
ghép lại.
Ví-dụ: choáng váng mặt mày.
Từ choáng có
phụ-âm đầu từ CH ghép với mẫu-âm biến-dạng OANG,
mẫu âm này hợp bởi mẫu-âm chính gốc kép OA với phụ-âm kép
cuối
tØ
NG.
Nếu tách âm ra, ta
có:
âm OA do :
O-A = OA
âm OANG do :
OA-NGỜ
= OANG
âm
CHOANG do:
CHỜ-OANG=CHOANG
(xem thêm TVTV, Chg.
8: Tiếng Việt Với Triết-lý Âm Dương và Đạo Sống Thái-Hoà...).
* Đây chính
là cách phát-âm theo phương-pháp tự-nhiên hay
quy-nạp-pháp sẽ đề-cập ở phần 2. Vì tính-chất
ký-âm như vậy, thiết-nghĩ không nên đánh vần theo
lối xưa: c-h-o-cho-a-choa-n-g-choang. Lối đánh
vần này có tính-cách nhồi sọ, không tự-nhiên, ngăn chặn
khả-năng tự-phát của người học, nhất là của trẻ em rất sợ nhàm
chán, thích bắt chước, thường nhờ
mô-phỏng mà dễ nhận-diện những từ-ngữ mới.
Nhìn khuôn-âm OANG, với
Bảng Tập Ráp Vần chúng tôi đề-nghị nơi phần
hướng-dẫn đầu sách HỌC ĐỌC TIẾNG VIỆT,
các em có thể tự đọc lấy trôi chẩy các từ đồng-dạng và, từ đó,
phấn-khởi đọc toàn bài hay tự đặt câu lấy một mình [xin xem
phụ-đính dưới
cuối
bài này]
(2)
** Đối với thiếu-niên chỉ quen nói tiếng bản xứ,
cũng như cho người ngoại-quốc lớn tuổi mà khả-năng bắt
chước phát âm hạn-chế, ngoài việc giải-thích và mô-tả
cách phát âm, ta nên dùng phép đối-chiếu các vần
tương-tự giữa hai sinh-ngữ: ngôn-ngữ họ thường dùng (Anh
& Pháp) và ngôn-ngữ Việt. Ví-dụ họ đọc được One day, thì cũng
đọc được lo toan, bờ đê, hay voyage,
quoi tiếng Pháp, thì cũng đọc được dễ-dàng
quay qua. Cách này chúng tôi đã áp-dụng
hiệu-nghiệm.
** Ngoài ra vấn-đề dạy tiếng Việt theo
phương-pháp song ngữ cũng đã được đề-xuất. Vấn-đề này
này cần phải được xác-định cho rõ hơn. Thiết-nghï, học sinh-ngữ
cần được đàm-thoại, trước khi học đọc, học viết, không phải chỉ
học nghe mà còn học nói, và vì ngôn-ngữ còn là một tập-quán, nên
cần được luyện
tập
thường-xuyên,
lâu dài nhất là tiếng Việt, ngoài tính nhạc với thang âm quả
thực khó lên xuống cho đúng giọng, cách phát âm lại rất tinh-tế
với sự uốn nắn tối-đa những cử-động của lưỡi và hàm, miệng. Vì
thế, song-ngữ chỉ nên coi là một phương-thức bất-đắc-dĩ, chẳng
hạn khi dạy cách phát âm như vừa nói hoặc khi cần phải
giải-thích một từ-ngữ, nhiều khi không thể giải-thích theo lối
định-nghĩa có tính-cách trừu-tượng của diễn-dịch-pháp, mà nên
giải-thích bằng cách cho biết tiếng đồng-nghĩa của ngoại-ngữ,
ví-dụ giảng nghĩa các ngữ-vựng: trường học, lớp học, phòng học,
chiến-tranh, hoà-bình, v..v…, nên nói thêm những từ-ngữ này
đồng-nghĩa với the school, the class-room, the war, peace, v.v…Tuyệt-đối
không trả
lời
bằng
ngoại-ngữ
khi học-trò
đặt câu hỏi bằng ngoại-ngữ.
Phải khuyến-khích học-trò nói tiếng Việt, trường-hợp này, thầy
dịch sang tiếng Việt rồi cho học-trò lập lại câu hỏi, hoặc ngược
lại thầy hỏi bằng tiếng Việt, rồi dịch sang ngoại-ngữ để cho
học-trò hiểu ý-nghĩa của câu nói tiếng Việt.
Đây cũng là vấn-đề đặt ra cho các bậc phụ-huynh, nên cố-gắng nói
chuyện với con em bằng tiếng Mẹ, vì ngôn-ngữ là một tập-quán mà
các em thì đã có nhiều cơ-hội nói ngoại-ngữ ở trường học và
ngoài xã-hội.
Nhất là, trẻ em vốn có năng-khiếu tiếp nhận nhiều tiếng nói một
cách dễ-dàng và tự-nhiên, đó là thiên-bẩm. Lại nữa, có những
điều chỉ có thể diễn-tả bằng tiếng Việt, có những điều chỉ có
thể diễn-tả bằng tiếng
bản-xứ.
Cho nên tại
hải-ngoại,
các bậc
phụ-huynh
cần
tranh-thủ
thời-gian
ít-ỏi
tại
nhà
để cho các em tập nói tiếng Mẹ, không phải chỉ vì những lợi-ích
trên mà còn là để duy-trì và bồi-dưỡng cho các em văn-hóa Việt
với những giá-trị đạo-đức, những truyền-thống cao đẹp của cha
ông, và như vậy sẽ không đánh mất con em, không để chúng vuột ra
khỏi tầm tay của mình.
5-
về cách đánh dấu giọng:
đánh dấu giọng trên chủ-âm.
Dĩ-nhiên khi một từ chỉ có một nguyên-âm làm mẫu-âm, thì
nguyên-âm này là chủ-âm. Ví-dụ: Ta có
giỏ sò
Ngoài ra, ta phân-biệt
3 trường-hợp
sau đây:
a- Nếu là mẫu-âm biến-dạng: dấu giọng được đánh trên
nguyên-âm đứng liền trước phụ-âm cuối từ đầu tiên,
ví-dụ: mát
mặt,
xuềnh-xoàng,
uyển-chuyển,
hoành-hành,
niêm-yết.
b- Nếu là mẫu-âm ghép 2: dấu giọng được đánh trên
nguyên-âm đầu,
như:
ái,
ói,
ối,
ới, íu, úi,
ửi, éo,
ếu,
ngoại-trừ
trong các từ
sau
đây:
oa, qua, oe, que, uê, uy, uơ,
chủ-
âm là a, e, ê, y, ơ
nên dấu
giọng
được
đánh trên các nguyên-
âm chủ-âm này, ta có: đầu
tóc loà-xoà,
hoà-hợp,
hoa quả,
nôn oẹ,
quẻ
bói, đề-huề,
kiệt-quệ,
say tuý-luý,
quỵ-luỵ,
quở-trách,
thuở
ấy.
c- Nếu
là mẫu-âm ghép 3:
chủ-âm là nguyên-âm
giữa,
dấu giọng được đánh trên các nguyên-âm chủ-âm này: Ví-dụ: kêu
oai-oái,
ngoáy
tai, ngoằn-ngoèo
[ngoằn có dấu huyền đánh trên chữ ă vì thuộc về
trường-hợp (a) có mẫu-âm biến-dạng nói trên]
6-
Trường-hợp I ngắn hay Y dài: Xin xem bài này nơi trang 156-161 trong TIẾNG VIỆT TUYỆT-VỜI (ấn-bản 2,
Toronto, 2000). Xin trích tóm-lược sau đây:
Thông-thường viết I
ngắn, chỉ viết Y dài khi:
a- từ nào duy-nhất có 1 mẫu-tự phát ra âm i: ta có các từ: y, ý,
ỳ, ỷ, ỹ, ỵ .
b- đầu từ là một nguyên-âm phát ra âm i đứng trước mẫu-âm ghép
hay biến-dạng: Ta có các từ yêu, yếu, yểu, yêm, yếm, yểm, yên,
yến, yểng, yết, vì y có chức-năng của một bán-phụ-âm đầu từ
(semi-consonne) như trong yeux tiếng Pháp hay yesterday tiếng
Anh. Do đó không có YA, nhưng IA, vì I ngắn ở đây là một
bán-nguyên-âm (semi-voyelle) trong mẫu-âm ghép IA giống như
la-liếm.
c- phụ-âm đầu từ có điểm phát-âm ở giữa vòm miệng hay trong cổ
họng: Đó là K, L, H. Ví-dụ: Ký Ly hỷ mũi.

Thông-thường viết I ngắn, chỉ viết Y dài khi:
a- từ nào duy-nhất có 1 mẫu-tự phát ra
âm i: ta có các từ: y, ý, ỳ,
ỷ, ỹ, ỵ .
b- đầu từ là một nguyên-âm phát ra âm i đứng trước mẫu-âm ghép
hay biến-dạng: Ta có các từ yêu, yếu,
yểu, yêm, yếm, yểm, yên, yến, yểng, yết, vì y có
chức-năng của một bán-phụ-âm đầu từ (semi-consonne) như trong
yeux tiếng Pháp hay yesterday tiếng Anh. Do đó không có YA,
nhưng IA, vì I ngắn ở đây là một bán-nguyên-âm (semi-voyelle)
trong mẫu-âm ghép IA giống như la-liếm.
c- phụ-âm đầu từ có điểm phát-âm ở giữa
vòm miệng hay trong cổ họng:
Đó là K, L, H. Ví-dụ: Ký Ly hỷ
mũi.
(xem mô-hình khẩu-cái
bên dưới)

mô-hình khẩu-cái,
vị-trí phát âm của các phụ-âm đầu từ
Phần 2- Phương-pháp giảng dạy
Phương-pháp giảng
dạy phải thoả-mãn nhu-cầu và khả-năng phát-triển tâm-lý của
thiếu-nhi. Điều này buộc ta phải hiểu rõ đối-tượng
ngõ hầu tìm ra cách thức cùng tài-liệu giảng dạy sao cho
thích-ứng.
I- Hiểu rõ đối-tượng
1)
Trẻ em
hay bắt chước, dễ mô-phỏng, so-sánh đối-chiếu, và từ đó dễ
nhận-diện.
Ngay từ lúc lên hai
tuổi, chúng đã ưa
làm theo những gì
chúng được quan-sát,
và có thể đối-chiếu giữa vật này với vật
khác tương-tự.
Nhìn vào ảnh của
ông bà, ng |