|
Dẫn
nhập
Thân xác tiêu tan,
nhưng linh-hồn bất-diệt. Quốc phá gia vong, nhưng tinh-thần
dân-tộc không hề diệt-vong, hay nói khác, hồn nước vẫn
trường-tồn. Tinh-thần ấy chính là ý-thức-hệ, là triết-lý làm nên
đạo sống của cả một chủng-tộc.
Đối với Việt-tộc, đó là triết-lý âm
dương và đạo sống thái-hoà làm nên hồn nước Việt-Nam.
Hồn nước ấy chính là sở-hữu văn-hoá của dòng giống Việt
mà một ngàn năm Bắc-thuộc vẫn không đồng-hoá được Việt-tộc với
Hán-tộc, mà những chiến-dịch thu gom trống đồng, sách vở cũng
không thể tước-đoạt được. Những
chứng-tích khảo-cổ và những khám phá được khai-quật sau này càng
chứng-minh hùng-hồn rằng:
tổ-tiên chúng ta đã xây-dựng từ
ngàn xưa một nền tảng cho Việt-Triết, nhận-diện
con người là trung-tâm điểm của vũ-trụ, là hội-tụ của Đất Trời,
là gạch nối trong tương-quan Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân. Đạo Sống
quy-tụ mọi nẻo ngả tương-liên giao-hội về chung một mối, một
đường. Hồn nước ấy chính là nét đặc-thù của Việt-tộc, tồn-tại
trong văn-hoá Rồng Tiên, mênh-mang trong Tiếng Việt tuyệt-vời,
bàng-bạc trong văn-chương truyền miệng.
Khi chưa có chữ
viết, tư-tưởng của Việt-tộc được thể-hiện trên mặt các trống
đồng, mà chính-sử Hán-tộc đã xác-nhận kể lại trong tập tài-liệu
cổ quý giá nhan-đề “Bách Việt Tiên Hiền Chí” tìm thấy trong
đại-bộ “Lĩnh Nam Di Thư” tàng trữ nơi thư-viện Đại-Học Đông-Kinh
(1). Nhưng còn một dấu-tích
sống động nhất, ghi lại được ý-thức- hệ của tổ-tiên, ấy là tiếng
nói của người Việt muôn thuở
dù cho phiêu-bạt nơi góc bể chân trời, để rồi sau này theo đà
tiến-hóa, khi chữ viết thành hình, tư-tưởng ấy được chuyên- chở
qua các tác-phẩm văn-học,
đặc-biệt qua thi ca thuần-tuý Việt-Nam mà chúng tôi gọi là
thơ Việt.
Hồn nước ấy thể-hiện
trong tiếng Việt nói chung như chúng tôi đã đề-cập trong cuốn
“Tiếng Việt Tuyệt-Vời”, nơi chương 8 bổ-túc. Trong bài dưới đây,
người viết xin được triển-khai thêm:
hồn nước còn thể-hiện cả trong thơ
Việt nói riêng.
* *
*
Chúng tôi trộm nghĩ
có hai yếu-tố làm nên thơ Việt:
- Yếu-tố
thứ
nhất:
thơ
Việt là sở-hữu riêng của người Việt
- Yếu-tố thứ hai:
thơ Việt còn
là thơ chất-chứa những nét đặc-thù
của văn-hoá Việt, đặc-thù trong cấu-trúc của ngôn-ngữ, đặc-thù
trong tư-tưởng của Triết Việt, nói khác, là mang theo hồn nước,
là chuyên-chở được hồn Việt.
Cả hai yếu-tố này đều được đề-cập trong
thơ lục bát & lục bát gián thất, là thể
thơ duy-nhất của riêng
người Việt-Nam.
Riêng yếu-tố thứ hai, với đặc-thù trong tư-tưởng, mở rộng
cho cả các thể thơ du-nhập khác như một yêu-cầu để làm nên thơ
Việt (Vienamese Poetry, Poetry of Vietnam) khác với thơ
Việt-ngữ, thơ bằng lời Việt (Poetry in Vietnamese).
Nói rằng
hồn
nước trong thơ Việt là vì cấu-trúc của thơ Việt thể-hiện được những
nét độc-đáo của ngôn-ngữ Mẹ Việt, và nói lên được tư-tưởng
triết-lý của tổ-tiên Việt-tộc.
Thật thế,
A-
THƠ LỤC BÁT
VÀ SONG THẤT LỤC BÁT
LÀ NHỮNG THỂ-LOẠI ĐỘC-ĐÁO
THUẦN-TUÝ CỦA NGƯỜI VIỆT
I- Hai thể thơ này chỉ có trong văn-học Việt-Nam, không có trong
văn-học Trung-Hoa và các nước khác,
làm thành một thứ văn-chương tryền miệng trong kho-tàng văn-học
dân-gian.
1.1- Thơ Trung-Quốc
có thơ Đường hạn-định
số câu, hoặc bát cú hoặc tứ tuyệt. Riêng thơ Việt
thể lục bát, hơi thơ bắt buộc đi liền để ngưng ở cuối câu bát
làm thành một “liên”. Thơ song thất lục bát thêm hai câu thất
cũng bắt buộc hơi thơ đi liền để ngưng ở cuối câu bảy dưới. Cả
lục bát và song thất lục bát đều trường thiên bất tận.
2.2- Thơ Trung-Quốc
và thơ Tây chỉ có cước-vận. Duy nhất trong thơ Việt còn có cả
yêu-vận, gieo vần ở lưng chừng câu, và khi gieo vần như vậy,
thanh bằng cũng đổi giọng theo.
II- Thơ
lục
bát, một
thiên-bẩm
của
người
Việt-Nam.
Thơ lục bát và song thất lục bát là con đẻ của tục-ngữ ca-dao.
2.1- Người dân quê
Việt-Nam xuất khẩu thành thi:
“Cao-Bằng, Cao-Bẳng, Cao-Băng,
Cao lên tỉnh Lạng, cao
bằng
ngọn tre,”
hoặc:
“Giàu giảu giàu giau, kém mười trâu đầy một
chục,
Lợn đẻ nhung-nhúc,
kém mười đồng đầy một trăm.”
Phải chăng cước-vận và yêu-vận trong hai thể thơ này đã được
định hình từ những cách gieo vần trên đây của ca-dao tục-ngữ?
Thể thơ này, trước khi có văn-tự, tổ-tiên đã dùng để ký-thác
tình-tự. Quần-chúng dù chưa theo đòi nghiên bút, vẫn có thể
tự-nhiên diễn-tả, nếu không đúng y theo lục bát thì cũng
tương-tự cho có vần có điệu. Những bài hát ru em, ca hò ở cả ba
miền Trung, Nam, Bắc, với những câu dài ngắn không đúng là sáu
tiếng, tám tiếng, thế nhưng vẫn có vần ăn khớp hoà-hợp với nhau
giữa câu trên và câu dưới, cho thấy rõ rằng đấy là những
sáng-tác tự-nhiên của họ. Phải tận mắt tham-dự những buổi hát
trống quân, quan họ, chứng-kiến những cuộc đối đáp giữa chàng
trai xa lạ đi trên đường quê với các thôn-nữ cấy lúa cắt rạ dưới
ruộng vọng lên tiếng hát riễu cợt trêu gọi, mới thấy cái
tuyệt-vời của ngôn-ngữ Việt, cái óc sáng-tạo và tâm-hồn dạt-dào
yêu nghệ-thuật của con người Việt-Nam.
Cô gái Huế hò rằng:
“Hò ơ …Con cá tróc
vi
hiềm vì
nước chảy,
Cần câu gẫy
vì bởi bụi hóp cong,
Bởi vì anh mượn người mai chước chưa
xong
Khiến xuôi (xui) nên căn-duyên trắc-trở,
Hò ơ …xuôi (xui) tấm
lòng em khó nguôi.
Cô gái Bắc tay thoăn-thoắt cấy lúa, miệng đỏng-đảnh hát vọng lên
bờ:
“Cao-ly sắc với ngân-hoàng,
Uống không mát dạ bằng thiếp với
chàng gặp nhau.”
Người miền Nam bị bắt đi phu đồn-điền cũng hát:
“Ở làm chi đây mà phú-lít và cò bót cản
ngăn!
Đi theo ông Lê-Bá-Cử một hai
năm rồi về.”
Những
câu hát, hò trên
đây, người hát như cố ý kéo dài để lựa lời tìm được ra một tiếng
thích-hợp gieo vần cho khớp nhau. Đó là sáng-tác độc-đáo
tự-nhiên của người Việt.
2.2- Người trẻ hôm nay cũng xuất khẩu thành thi.
Nhan-nhản trên lưới điện-toán, thơ của các bạn trẻ không vần
nhưng có âm-điệu trầm bổng, phảng-phất khuôn dáng các bài thơ
hay bài ca-dao không luật như dẫn ở trên, đọc lên vẫn có cung
bậc du-dương nhịp-nhàng. Về kỹ-thuật của hai thể thơ này, chúng
tôi cũng đã tóm lược trong chương 5 của cuốn Tiếng Việt
Tuyệt-Vời.
B- THƠ VIỆT CHỨA ĐỰNG NÉT
ĐẶC-THÙ CỦA CẤU-TRÚC TIẾNG VIỆT
I- Cấu-trúc một vần và cấu-trúc lưỡng-từ cho phép đảo lộn vị-trí
của từ hay đọc xuôi đọc ngược
mà câu văn vẫn có nghĩa và có nhiều ý-nghĩa khác nhau. Cho nên
ta có thể làm những bài thơ Việt đọc xuôi đọc ngược mà thơ Tây
không có. Riêng về thơ lục bát, để chứng-minh vẻ đẹp độc-đáo của
ngôn-ngữ Mẹ Việt, chúng tôi có đề-xuất lối đọc xuôi đọc ngược
này trong hai tác-phẩm Tiếng Việt Tuyệt-Vời và Về
nguồn. Ngay cả lục bát gián thất, chúng tôi cũng khám phá
lối đọc xuôi đọc ngược này, xin đan-cử mấy bài trích trong các
thiệp xuân mỗi năm
của chúng tôi gửi đến các thân-hữu:
Bài 1: Mừng Xuân Mới
(song thất lục bát liên-hoàn thuận-nghịch-độc)
(đọc xuôi)
Vang hát rộn, reo mừng chốn
chốn,
Nạn khổ xong, dẹp dọn
tuyết, băng.
Làng, buôn nhuộm nắng, xuân sang,
Mông-mênh vàng thắm núi, sông,
nương, đồng.
(đọc ngược)
Băng, tuyết dọn, dẹp xong
khổ nạn,
Chốn chốn mừng, reo rộn hát vang.
Sang xuân, nắng nhuộm buôn, làng,
Đồng, nương, sông, núi thắm vàng
mênh-mông.
(liên-hoàn)
Vang hát rộn reo
mừng chốn
chốn
Nån khổ xong, dẹp dọn
tuyết, băng
Làng, buôn........
Bài 2: Tình Xuân
(song thất lục bát liên-hoàn thuận-nghịch-độc)
(đọc xuôi)
Trăng gió quyến hoa cười lơi-lả,
Luyến vương lòng nghe gió
gọi trăng.
Dâng trào ước mộng lâng lâng,
Tươi xinh, hồng thắm, sáng,
trong, duyên nồng.
(đọc ngược)
Trăng gọi gió, nghe lòng
vương luyến,
Lả-lơi cười, hoa quyến gió
trăng.
Lâng-lâng ước mộng trào dâng,
Nồng duyên trong sáng, thắm hồng
xinh tươi.
(liên-hoàn)
Trăng gió quyến hoa cười lơi-lả,
Luyến vương lòng nghe gió
gọi trăng…..
Dâng trào ước........
Bài 3: Xuân ngóng Ç®i
(song thất lục bát liên-hoàn thuận-nghịch-độc)
(đọc xuôi)
Sao se thắt, nghe
gào sông núi!
Mắt đỏ ngầu, hận
tủi xót
đau.
Vào Xuân gió gọi
mai đào,
Đâu nào đào thắm,
đỏ trầu, xanh
cau?
(đọc
ngược)
Đau
xót tủi,
hận
ngầu
đỏ
mắt,
Núi sông gào, nghe
thắt se
sao!
Đào mai gọi gió
Xuân vào,
Cau xanh trầu đỏ,
thắm đào nào đâu?
(liên-hoàn)
Sao se
thắt, nghe gào sông núi!
Mắt đỏ ngầu, hận
tủi xót
đau.
Vào Xuân
................................
................................................................
Bài
4-
XUÂN-NIỆM
(song
thất lục bát liên-hoàn thuận-nghịch-độc)
(đọc
xuôi)
Hương xuân ngát
thơm đời tươi
thắm,
Đất với trời say
đắm
yêu
thương,
Phường thôn gội
nắng triêu-dương,
Trời mù hương khói,
niệm
chuông
dâng
lời.
(đọc
ngược)
Thương yêu đắm say
trời
với
đất,
Thắm tươi đời thơm
ngát
xuân
hương.
Dương-triêu nắng
gội thôn,
phường,
Lời dâng chuông
niệm, khói
hương
mù trời.
(liên
hoàn)
Hương xuân ngát
thơm đời tươi
thắm,
Đất với trời say
đắm
yêu
thương,
Phường thôn.....................
…………………………..
(Trích thiệp xuân Đinh-Hợi 2007)
II- Riêng trong thơ lục bát và song thất lục bát, cấu-trúc của
thể thơ này còn chứa đựng cả mô-hình Việt-Triết âm dương
với hình-tượng của lục khí bát quái, với nhịp phách song trùng
như âm dương vận hành, với chu-kỳ sinh và tái sinh tiếp-diễn
miên-tục qua giòng thơ thanh-thoát tự-do, lang-thang trên đường
trường bất tận. Cặp lục bát trên sáu dưới tám gọi là một liên,
liên-kết một ngắn một dài, nối liền âm với dương, ràng buộc lục
khí bát quái, và ngay trong mỗi câu dù lục hay bát, cung bậc và
điệu thơ cũng chìm nổi nhấp-nhô theo nhịp hai thành từng cặp
song-hành:
Hoa giãi nguyệt (t),
/ nguyệt in (b) một
tấm (t)
Nguyệt lồng hoa (b), / hoa
thắm (t)
từng bông (b)
Nguyệt hoa (b) / hoa
nguyệt (t)
/ trùng
trùng (b)/
Trên hoa (b)
/dưới nguyệt (t)
/ trong
lòng (b1)/xiết
đâu!(b2)/
Đâu xiết kể (t)
/ trăm
sầu (b) / nghìn
não (t),
Từ nữ-công (b), / phụ-xảo
(t) đều
nguôi (b),
Biếng cầm (b) kim /,
biếng (t) đưa
thoi (b),
Oanh đôi (b) thẹn
dệt (t),
bướm
đôi
(b2)
ngại
thùa (b1)
(Chinh-Phụ Ngâm-Khúc)

 Về điểm này, tác-giả Lê-Công-Tâm
biện-luận: “Tám quẻ trong Kinh Dịch gồm có: càn, đoài, ly, chấn,
tốn, khảm, cấn, khôn. Càn khôn là cha mẹ, sáu quẻ: đoài, ly,
chấn, tốn, khảm, cấn là sáu người con do càn khôn sinh ra và còn
được gọi là lục khí. Cha mẹ vì đã già nên khó thay đổi, còn các
con còn trẻ nên dễ thay đổi, vì thế gọi là lục khí… Theo
quan-niệm của Dịch thì lục khí bao giờ cũng quan-trọng hơn càn
khôn cho nên mới có câu: “con hơn cha nhà có phúc” (6).
C- Thơ Việt Chuyên-Chở Hồn Việt
Thơ Vìệt chất-chứa hồn Việt vì
mang tính nhạc là
nét độc-đáo của tiếng Việt, và
chất-chứa tính dân-tộc
là Việt-triết của tổ-tiên.
I- Tính nhạc trong thơ Việt
1.1- Tiết-tấu:
Vì cách phối-trí thanh theo luật nhất-định nên nhạc trong
thơ Việt diễm-ảo vô cùng, diễm-ảo vì luật
phối-trí thanh hợp với tính nhạc có sẵn trong từ làm nên
tiết-tấu nhịp-nhàng cho thơ.
Nhịp phách này so với thơ Trung-Quốc cũng khác hẳn. Minh-hoạ sau
đây cho thấy nét đặc-thù trong giòng nhạc thơ Việt:
|
Thơ |
đã sẵn có nhịp |
đã sẵn có cung |
|
Tây |
+ |
0 |
|
Việt |
+ |
+ |
Nhịp phách trong thơ lục bát
2 2
2
2
2 2 2
Nhịp phách của 2 câu 7 trong thơ Đường và song thất lục bát:
|
Thơ Đường
thất ngôn
bát cú |
4
[2+2]
Bước tới Đèo Ngang
Cỏ cây chen đá |
3
bóng xế tà
lá chen hoa |
|
Thơ Việt
song thất
lục bát |
3
Thuở trời đất
Khách má hồng |
4
[2+2]
nổi cơn gió bụi
nhiều nỗi truân-chuyên
|
1.2- Âm thanh:
Dï-nhiên như đã nói
trong “Tiếng Việt Tuyệt Vời”, thơ Tây không có cung nhạc
tự-nhiên, chỉ có điệu nhịp tiết-tấu. Nhạc trong thơ Tây là nhạc
chế sẵn cho lời. Ý dìu lời đi vào nhạc-điệu, chứ lời không mang
theo nhạc dẫn đưa tình ý. Trái lại vì mỗi lời Việt mang theo một
nốt nhạc khác nhau, nên trong văn, nhất là trong thơ Việt, nhạc
biến-ảo theo lời. Nhạc vốn đã làm nên duyên-dáng du-dương cho
tiếng Việt thì hẳn nhiên nhạc cũng là yếu-tố cơ-bản trong thơ
Việt. Ngôn-ngữ có nhạc là do cách sử-dụng từ sao cho réo-rắt,
đấy là cách gieo bình và trắc-thanh, sao cho êm-ái du-dương, đấy
là cách ngắt nhịp, lựa chọn âm-vận.
Người
Việt ngâm thơ mà người ngoại-quốc nói là hát thơ. Nói như thế
không sai. Khi ngâm thơ, ta thưởng-thức giọng ngâm và điệu ngâm.
Ngâm thơ là phổ nhạc vào thơ, một thứ nhạc đã được chế sẵn để
chuyên-chở ý thơ, cũng hệt như ngâm vọng cổ một bản mà lời chẳng
có gì làm sâu-sắc văn-vẻ cho lắm nếu đem đọc lời của bản nhạc
này. Vậy khi nói đến nhạc của thơ, là nói đến đọc thơ.
Đọc thơ lột hết được
tính nhạc của thơ tự nó đã có sẵn trong lời thơ.
Nóí như vậy là muốn nói đến thơ tự-do, thơ
xuôi, tuy là vay mượn chình-thức thơ Tây, nhưng nếu
không có nhạc trong thơ, thì chẳng hoá ra là thơ ngoại-lai.
Thơ không có nhạc mà chỉ chuyên-chở ý-tưởng, đúng hơn chỉ là một
bài dịch thơ sang tiếng Việt hơn là một bài thơ Việt. Nói là vay
mượn, chứ thực ra trước khi ta có thơ xuôi gần đây, thì từ thuở
xa xưa, ta đã có văn biền-ngẫu qua những bài văn-sách,
kinh-nghĩa của lối khoa-cử. Và trước khi du-nhập thơ tự-do của
Tây-phương thì ca-dao với lối hát xẩm, ta cũng đã có thơ tự-do
rồi, một thứ thơ tự-do với nhịp phách và cước-vận như của thơ
Tây, lại còn mang tính dân-tộc với cung bậc thanh-âm rộn-ràng
và với yêu-vận gieo ở lưng chừng câu. Như bài sau đây:
Ba mươi Tết, lại ba mươi
Tết,
Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú
khách
Một tay cô cầm cái dù
rách
Một tay cô
xách cái chăn bông
Cô ra bờ sông
Cô trông
sang nước người
i
chú Chệt ơi là chú Chệt ơi!
Một tay cô cầm quan tiền,
Một tay cô cầm thằng bù-nhìn,
Cô ném xuống sông;
Quan tiền nặng, quan tiền
chìm,
Bù-nhìn nhẹ, bù-nhìn nổi,
Ối ai ơi cûa nặng hơn
người!
Tản-Đà nổi tiếng với những bài thơ mới, truyền-cảm sâu xa, vì nó
không còn gò bó theo luật-lệ, chỉ giữ lại cái thanh-tú của nhạc
dấu, của âm-điệu mà thôi. Chẳng hạn bài Thiên-Thai:
Lá đào rơi rắc lối Thiên-Thai,
Suối tiễn oanh đưa luống ngậm-ngùi.
Nửa năm tiên-cảnh,
Một bước trần-ai.
Ước cũ duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn rêu nhạt,
Nước chảy huê trôi.
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
Trời đất từ nay xa cách mãi!
Nghìn năm thơ-thẩn bóng trăng trôi.
(Nguyễn Khắc-Hiếu)
II- Tính dân-tộc trong thơ Việt
Thơ Việt phải thể-hiện bản-sắc của
giống nòi, nói lên được tâm-thức của tổ-tiên ngàn xưa truyền lại
cho con cháu lập quốc và hưng quốc. Ta së nghï thế nào khi
thế-hệ hậu-duệ mình tìm trong lịch-sử thi ca nước Việt, thấy
rằng cha ông chúng đã đánh mất gốc nguồn? Nhân-loại qua nền thi
ca hiện nay đánh giá được thế nào là tính dân-tộc của người
Việt, ấy là tuỳ theo thơ Việt có chuyên-chở được hồn nước hay
không? Người ta sẽ thấy được đời sống vật-chất, tình-cảm, và
tư-tưởng của giống nòi, nhận rõ chân-dung con người Việt-Nam là
thế đó, lai căn hay mất gốc? Những loại thơ truyền miệng sau đây
liệu có gọi là thơ mang theo hồn nước hay không?
“Thương cha, thương mẹ, thương chồng,
Thương người: thương một, thương ông: thương mười.”
Và:
“Thằng Trời hãy đứng một bên,
Để ông Thuỷ-lợi đứng lên làm Trời!”
Hay:
“Thắp đèn cho sáng ba gian,
Lôi mi ra giữa đình làng đêm nay,
Đấu cho tan-tác mặt mày,
Đấu cho mồ mả tụi bay chẳng còn.”
Liệu chúng ta có chấp-nhận những lời thơ nghịch thiên-lý và
luân-thường như thế để bảo rằng đó là thơ Việt, thơ mang hồn
nước, thơ của chủng-tộc Việt hay không?
* *
*
Kết-luận
Việt-thi hay Việt-văn chỉ là những diện của một điểm chung là
văn-học, văn-hoá làm nên văn-minh. Khi nói Việt-văn là đã tự nói
lên vẻ đẹp của ngữ Việt rồi, vì văn là những nét vằn thể-hiện
nên vẻ đẹp. Cái gì làm nên vẻ
đẹp độc-đáo tuyệt-vời?
Không hẳn chỉ là cấu-trúc và
nhạc-tính cûa ngữ Việt mà còn là
cái hồn nước trong ngữ Việt thể-hiện qua Việt-Triết âm
dương, ấy là đạo sống Thái-Hoà cûa tổ-tiên,
là
nhân-sinh-quan và vũ-trụ-quan của giống nòi, cho phép nhận rõ
chân-dung con người là hội-tụ giao-thoa của Trời Đất, là
tinh-thần dân-tộc, là ý-chí bất-khuất, độc-lập, tự-chủ, là
lập-trường không nghiêng ngả, là tương-thân kết-đoàn, là thuận
thiên-lý, trọng nhân-luân, là tình yêu hài-hoà, hài-hoà với
thiên-nhiên với Trời Đất, với tha-nhân.
nói chung ấy là
tinh-thần nhân-bản của trăm con trăm trứng
cùng sinh ra trong một bọc Mẹ, là phân tán nhị nguyên nhưng
hoà-đồng nhất thể như huyền-thoại Rồng Tiên đã viết lên trang
đầu của Việt-sử làm thành hiến-chương cho con cháu Hùng-Vương
lập quốc và hưng quốc.
Vâng, hồn nước quả tiềm-tàng trong văn-hóa Rồng Tiên, bàng-bạc
trong ngôn-ngữ Mẹ Việt. Lại biết rằng ngôn-ngữ có thể làm
bại-hoại tư-tưởng và ngược lại, nhất là đối với thứ ngôn-ngữ vô
cùng phong-phú súc-tích như tiếng Việt, bởi thế một khi tập-quán
xấu đã bén rễ, thì đây là một báo động cho các nhà làm văn-hoá,
cho tất cả những ai còn tha-thiết tới tiền-đồ văn-học Việt-Nam.
Cho nên, tuy đường về quê hương mở ra nhiều phương lắm lối, song
đối với thế-hệ trẻ mai này sẽ theo gót cha anh xây đắp
giang-sơn, thiển-nghĩ con đường văn-học, văn-hoá Mẹ Việt hơn bao
giờ vẫn là một chính-lộ dẫn đưa họ về nguồn, bởi vì:
Cội nguồn hoa thắm ngát hương,
Đường về le-lói ánh dương huy-hoàng,
Gió reo chim hót ca vang:
“Việt-Nam văn-hiến vinh-quang muôn
đời!”
Chú-thích:
(*)
Bàì viết nguyên là bài thuyết-trình tại Văn Bút Ontario Canada
năm 2000, sau được đăng lại trên quý-san Định Hướng Paris số 28
Mùa Đông năm 2001, nay được hiệu-đính lại mô-hình âm dương trong
thơ lục bát và song thất lục bát và thêm vài bài thơ song thất
lục bát liên-hoàn thuận, nghịch- độc.
(1) Vũ Đình-Trác: Trết-Lý Truyền-Thống Việt-Tộc Dọn Đường Cho
Thần-Học Việt-Nam, tạp-san Định Hướng số 11, 1996.
(2) Đỗ Quang-Vinh, Tiếng Việt Tuyệt-Vời, chương 8: Tiếng Việt
Với Triết-Lý A6m Dương Và Đạo Sống Thái-Hoà, (ấn- bản lần 2,
Toronto, 2000)
(3) Khiếu Đức-Long: Đặc-tính gốc Nước của văn-hoá Việt-Nam,
Vietnamologica, số 1, 1995, tr.176 & 177.
(4) Kim Định: Cơ cấu uyên-nguyên, Hội Hữu tập-san,
Việt-Học Hàn-Lâm Giáo-Sï Việt-Nam Hải-Ngoại chủ-trương, số 3,
ngày 15-3-1986,
(5) Thái-văn-Kiểm, Triết Việt: Đông-Hồ và triết-lý nhân-sinh,
Vietnamologica, số 1, 1995, tr. 141)
(6) Lê-công-Tâm: Vài suy nghï về mối liên-hệ giữa tiếng Việt và
văn-hoá Việt, tạp-chí Định Hướng, số 5, 1994.
e-mail:
doquangvinhvenguon@yahoo.com
Trở về Trang Chính
|