HỒN NƯỚC

TRONG THƠ VIỆT (*)


26 tháng 10 năm 2006

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

                 

Dẫn nhập

 

Thân xác tiêu tan, nhưng linh-hồn bất-diệt. Quốc phá gia vong, nhưng tinh-thần dân-tộc không hề diệt-vong, hay nói khác, hồn nước vẫn trường-tồn. Tinh-thần ấy chính là ý-thức-hệ, là triết-lý làm nên đạo sống của cả một chủng-tộc. Đối với Việt-tộc, đó là triết-lý âm dương và đạo sống thái-hoà làm nên hồn nước Việt-Nam. Hồn nước ấy chính là sở-hữu văn-hoá của dòng giống Việt mà một ngàn năm Bắc-thuộc vẫn không đồng-hoá được Việt-tộc với Hán-tộc, mà những chiến-dịch thu gom trống đồng, sách vở cũng không thể tước-đoạt được. Những chứng-tích khảo-cổ và những khám phá được khai-quật sau này càng chứng-minh hùng-hồn rằng: tổ-tiên chúng ta đã xây-dựng từ ngàn xưa một nền tảng cho Việt-Triết, nhận-diện con người là trung-tâm điểm của vũ-trụ, là hội-tụ của Đất Trời, là gạch nối trong tương-quan Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân. Đạo Sống quy-tụ mọi nẻo ngả tương-liên giao-hội về chung một mối, một đường. Hồn nước ấy chính là nét đặc-thù của Việt-tộc, tồn-tại trong văn-hoá Rồng Tiên, mênh-mang trong Tiếng Việt tuyệt-vời, bàng-bạc trong văn-chương truyền miệng.  

Khi chưa có chữ viết, tư-tưởng của Việt-tộc được thể-hiện trên mặt các trống đồng, mà chính-sử Hán-tộc đã xác-nhận kể lại trong tập tài-liệu cổ quý giá nhan-đề “Bách Việt Tiên Hiền Chí” tìm thấy trong đại-bộ “Lĩnh Nam Di Thư” tàng trữ nơi thư-viện Đại-Học Đông-Kinh (1). Nhưng còn một dấu-tích sống động nhất, ghi lại được ý-thức- hệ của tổ-tiên, ấy là tiếng nói của người Việt muôn thuở dù cho phiêu-bạt nơi góc bể chân trời, để rồi sau này theo đà tiến-hóa, khi chữ viết thành hình, tư-tưởng ấy được chuyên- chở qua các tác-phẩm văn-học, đặc-biệt qua thi ca thuần-tuý Việt-Nam mà chúng tôi gọi là thơ Việt.

 

Hồn nước ấy thể-hiện trong tiếng Việt nói chung như chúng tôi đã đề-cập trong cuốn “Tiếng Việt Tuyệt-Vời”, nơi chương 8 bổ-túc. Trong bài dưới đây, người viết xin được triển-khai thêm: hồn nước còn thể-hiện cả trong thơ Việt nói riêng.

*   *

*

Chúng tôi trộm nghĩ có hai yếu-tố làm nên thơ Việt:

 

- Yếu-t th nht: thơ Việt là sở-hữu riêng của người Việt

- Yếu-tố thứ hai: thơ Việt còn là thơ chất-chứa những nét đặc-thù của văn-hoá Việt, đặc-thù trong cấu-trúc của ngôn-ngữ, đặc-thù trong tư-tưởng của Triết Việt, nói khác, là mang theo hồn nước, là chuyên-chở được hồn Việt.

 

Cả hai yếu-tố này đều được đề-cập trong thơ lục bát & lục bát gián thất, là thể thơ duy-nhất của riêng người Việt-Nam. Riêng yếu-tố thứ hai, với đặc-thù trong tư-tưởng, mở rộng cho cả các thể thơ du-nhập khác như một yêu-cầu để làm nên thơ Việt (Vienamese Poetry, Poetry of Vietnam) khác với thơ Việt-ngữ, thơ bằng lời Việt (Poetry in Vietnamese).

 

Nói rng hn nước trong thơ Việt là vì cấu-trúc của thơ Việt thể-hiện được những nét độc-đáo của ngôn-ngữ Mẹ Việt, và nói lên được tư-tưởng triết-lý của tổ-tiên Việt-tộc.

 

Thật thế,

 

A-                THƠ LỤC BÁT

VÀ SONG THẤT LỤC BÁT

LÀ NHỮNG THỂ-LOẠI ĐỘC-ĐÁO

THUẦN-TUÝ CỦA NGƯỜI VIỆT

 

I- Hai thể thơ này chỉ có trong văn-học Việt-Nam, không có trong văn-học Trung-Hoa và các nước khác, làm thành một thứ văn-chương tryền miệng trong kho-tàng văn-học dân-gian.

            1.1- Thơ Trung-Quốc có thơ Đường hạn-định số câu, hoặc bát cú hoặc tứ tuyệt. Riêng thơ Việt thể lục bát, hơi thơ bắt buộc đi liền để ngưng ở cuối câu bát làm thành một “liên”. Thơ song thất lục bát thêm hai câu thất cũng bắt buộc hơi thơ đi liền để ngưng ở cuối câu bảy dưới.  Cả lục bát và song thất lục bát đều trường thiên bất tận.

       

            2.2- Thơ Trung-Quốc và thơ Tây chỉ có cước-vận. Duy nhất trong thơ Việt còn có cả yêu-vận, gieo vần ở lưng chừng câu, và khi gieo vần như vậy, thanh bằng cũng đổi giọng theo.

 

II- Thơ lc bát, mt thiên-bm ca người Việt-Nam.

 

Thơ lục bát và song thất lục bát là con đẻ của tục-ngữ ca-dao.

            2.1- Người dân quê Việt-Nam xuất khẩu thành thi:

 

“Cao-Bằng, Cao-Bẳng, Cao-Băng,

Cao lên tỉnh Lạng, cao bằng ngọn tre,”

hoặc:

“Giàu giảu giàu giau, kém mười trâu đầy một chục,

Lợn đẻ nhung-nhúc, kém mười đồng đầy một trăm.”

 

Phải chăng cước-vận và yêu-vận trong hai thể thơ này đã được định hình từ những cách gieo vần trên đây của ca-dao tục-ngữ? Thể thơ này, trước khi có văn-tự, tổ-tiên đã dùng để ký-thác tình-tự. Quần-chúng dù chưa theo đòi nghiên bút, vẫn có thể tự-nhiên diễn-tả, nếu không đúng y theo lục bát thì cũng tương-tự cho có vần có điệu. Những bài hát ru em, ca hò ở cả ba miền Trung, Nam, Bắc, với những câu dài ngắn không đúng là sáu tiếng, tám tiếng, thế nhưng vẫn có vần ăn khớp hoà-hợp với nhau giữa câu trên và câu dưới, cho thấy rõ rằng đấy là những sáng-tác tự-nhiên của họ. Phải tận mắt tham-dự những buổi hát trống quân, quan họ, chứng-kiến những cuộc đối đáp giữa chàng trai xa lạ đi trên đường quê với các thôn-nữ cấy lúa cắt rạ dưới ruộng vọng lên tiếng hát riễu cợt trêu gọi, mới thấy cái tuyệt-vời của ngôn-ngữ Việt, cái óc sáng-tạo và tâm-hồn dạt-dào yêu nghệ-thuật của con người Việt-Nam.

 

Cô gái Huế hò rằng:

 

                     “Hò ơ …Con cá tróc vi hiềm nước chảy,

                     Cần câu gẫy vì bởi bụi hóp cong,

                     Bởi vì anh mượn người mai chước chưa xong

                     Khiến xuôi (xui) nên căn-duyên trắc-trở,

                     Hò ơ …xuôi (xui) tấm lòng em khó nguôi.

 

Cô gái Bắc tay thoăn-thoắt cấy lúa, miệng đỏng-đảnh hát vọng lên bờ:

“Cao-ly sắc với ngân-hoàng,

Uống không mát dạ bằng thiếp với chàng gặp nhau.”

 

Người miền Nam bị bắt đi phu đồn-điền cũng hát:

                        “Ở làm chi đây mà phú-lít và cò bót cản ngăn!

                        Đi theo ông Lê-Bá-Cử một hai năm rồi về.”

Nhng câu hát, hò trên đây, người hát như cố ý kéo dài để lựa lời tìm được ra một tiếng thích-hợp gieo vần cho khớp nhau. Đó là sáng-tác độc-đáo tự-nhiên của người Việt.

 

      2.2- Người trẻ hôm nay cũng xuất khẩu thành thi. Nhan-nhản trên lưới điện-toán, thơ của các bạn trẻ không vần nhưng có âm-điệu trầm bổng, phảng-phất khuôn dáng các bài thơ hay bài ca-dao không luật như dẫn ở trên, đọc lên vẫn có cung bậc du-dương nhịp-nhàng. Về kỹ-thuật của hai thể thơ này, chúng tôi cũng đã tóm lược trong chương 5 của cuốn Tiếng Việt Tuyệt-Vời. 

 

B- THƠ VIỆT CHỨA ĐỰNG NÉT ĐẶC-THÙ CỦA CẤU-TRÚC TIẾNG VIỆT  

 

I- Cấu-trúc một vần và cấu-trúc lưỡng-từ cho phép đảo lộn vị-trí của từ hay đọc xuôi đọc ngược mà câu văn vẫn có nghĩa và có nhiều ý-nghĩa khác nhau. Cho nên ta có thể làm những bài thơ Việt đọc xuôi đọc ngược mà thơ Tây không có. Riêng về thơ lục bát, để chứng-minh vẻ đẹp độc-đáo của ngôn-ngữ Mẹ Việt, chúng tôi có đề-xuất lối đọc xuôi đọc ngược này trong hai tác-phẩm Tiếng Việt Tuyệt-Vời Về nguồn. Ngay cả lục bát gián thất, chúng tôi cũng khám phá lối đọc xuôi đọc ngược này, xin đan-cử mấy bài trích trong các thiệp xuân mỗi năm của chúng tôi gửi đến các thân-hữu:  

 

Bài 1:  Mừng Xuân Mới

(song thất lục bát liên-hoàn thuận-nghịch-độc)

 

(đọc xuôi)

Vang hát rộn, reo mừng chốn chốn,

Nạn khổ xong, dẹp dọn tuyết, băng.

Làng, buôn nhuộm nắng, xuân sang,

Mông-mênh vàng thắm núi, sông, nương, đồng.

 

(đọc ngược)

Băng, tuyết dọn, dẹp xong khổ nạn,

Chốn chốn mừng, reo rộn hát vang.

Sang xuân, nắng nhuộm buôn, làng,

Đồng, nương, sông, núi thắm vàng mênh-mông.

 

(liên-hoàn)

Vang hát rộn reo mừng chốn chốn

Nån khổ xong, dẹp dọn tuyết, băng

Làng, buôn........

 

Bài 2: Tình Xuân

(song thất lục bát liên-hoàn thuận-nghịch-độc)

 

(đọc xuôi)

 

Trăng gió quyến hoa cười lơi-lả,

Luyến vương lòng nghe gió gọi trăng.

Dâng trào ước mộng lâng lâng,

Tươi xinh, hồng thắm, sáng, trong, duyên nồng.

 

(đọc ngược)

 

Trăng gọi gió, nghe lòng vương luyến,

Lả-lơi cười, hoa quyến gió trăng.

Lâng-lâng ước mộng trào dâng,

Nồng duyên trong sáng, thắm hồng xinh tươi.

 

                                               (liên-hoàn)

 

Trăng gió quyến hoa cười lơi-lả,

Luyến vương lòng nghe gió gọi trăng…..

Dâng trào ước........

 

Bài 3: Xuân ngóng Ç®i

(song thất lục bát liên-hoàn thuận-nghịch-độc)

 

(đọc xuôi)

 

Sao se thắt, nghe gào sông núi!

Mắt đỏ ngầu, hận tủi xót đau.

Vào Xuân gió gọi mai đào,

Đâu nào đào thắm, đỏ trầu, xanh cau?

 

(đọc ngược)

 

Đau xót ti, hn ngu đỏ mắt,

Núi sông gào, nghe thắt se sao!

Đào mai gọi gió Xuân vào,

Cau xanh trầu đỏ, thắm đào nào đâu?

 

(liên-hoàn)


Sao se thắt, nghe gào sông núi!

Mắt đỏ ngầu, hận tủi xót đau.

Vào Xuân ................................

................................................................

 

Bài 4- XUÂN-NIỆM

(song thất lục bát liên-hoàn thuận-nghịch-độc)

 

(đọc xuôi)

Hương xuân ngát thơm đời tươi thắm,

Đất với trời say đắm yêu thương,

Phường thôn gội nắng triêu-dương,

Trời mù hương khói, niệm chuông dâng lời.

 

(đọc ngược)

Thương yêu đắm say trời với đất,

Thắm tươi đời thơm ngát xuân hương.

Dương-triêu nắng gội thôn, phường,

Lời dâng chuông niệm, khói hương mù trời.

 

(liên hoàn)

Hương xuân ngát thơm đời tươi thắm,

Đất với trời say đắm yêu thương,

Phường thôn.....................

…………………………..

(Trích thiệp xuân Đinh-Hợi 2007)  

 

II-  Riêng trong thơ lục bát và song thất lục bát, cấu-trúc của thể thơ này còn chứa đựng cả mô-hình Việt-Triết âm dương với hình-tượng của lục khí bát quái, với nhịp phách song trùng như âm dương vận hành, với chu-kỳ sinh và tái sinh tiếp-diễn miên-tục qua giòng thơ thanh-thoát tự-do, lang-thang trên đường trường bất tận. Cặp lục bát trên sáu dưới tám gọi là một liên, liên-kết một ngắn một dài, nối liền âm với dương, ràng buộc lục khí bát quái, và ngay trong mỗi câu dù lục hay bát, cung bậc và điệu thơ cũng chìm nổi nhấp-nhô theo nhịp hai thành từng cặp song-hành:

 

Hoa giãi nguyệt (t), / nguyệt in (b) một tấm (t)

Nguyệt lồng hoa (b), / hoa thắm (t) từng bông (b)

Nguyệt hoa (b) / hoa nguyệt (t) / trùng trùng (b)/

Trên hoa (b) /dưới nguyệt (t) / trong lòng (b1)/xiết đâu!(b2)/

Đâu xiết kể (t) / trăm sầu (b) / nghìn não (t),

Từ nữ-công (b), /  phụ-xảo (t) đều nguôi (b),

Biếng cầm (b) kim /, biếng (t) đưa thoi (b),

Oanh đôi (b)  thẹn dệt (t), bướm đôi (b2) ngại thùa (b1)

(Chinh-Phụ Ngâm-Khúc)

 

Về điểm này, tác-giả Lê-Công-Tâm biện-luận: “Tám quẻ trong Kinh Dịch gồm có: càn, đoài, ly, chấn, tốn, khảm, cấn, khôn. Càn khôn là cha mẹ, sáu quẻ: đoài, ly, chấn, tốn, khảm, cấn là sáu người con do càn khôn sinh ra và còn được gọi là lục khí. Cha mẹ vì đã già nên khó thay đổi, còn các con còn trẻ nên dễ thay đổi, vì thế gọi là lục khí… Theo quan-niệm của Dịch thì lục khí bao giờ cũng quan-trọng hơn càn khôn cho nên mới có câu: “con hơn cha nhà có phúc” (6).

 

C- Thơ Việt Chuyên-Chở Hồn Việt

 

            Thơ Vìệt chất-chứa hồn Việt vì mang tính nhạc là nét  độc-đáo của tiếng Việt, và chất-chứa tính dân-tộc là Việt-triết của tổ-tiên.

 

I- Tính nhạc trong thơ Việt   

        1.1- Tiết-tấu: Vì cách phối-trí thanh theo luật nhất-định nên nhạc trong thơ Việt diễm-ảo vô cùng, diễm-ảo vì luật phối-trí thanh hợp với tính nhạc có sẵn trong từ làm nên tiết-tấu nhịp-nhàng cho thơ. Nhịp phách này so với thơ Trung-Quốc cũng khác hẳn. Minh-hoạ sau đây cho thấy nét đặc-thù trong giòng nhạc thơ Việt:                

                    

Thơ

đã sẵn có nhịp

đã sẵn có cung

Tây

+

0

Việt

+

+

                                  

Nhịp phách trong thơ lục bát

 

                                    2                2               2

                                    2                2                2                2

 

Nhịp phách của 2 câu 7 trong thơ Đường và song thất lục bát:

 

Thơ Đường

thất ngôn

bát cú

4 [2+2] 

Bước tới Đèo Ngang

Cỏ cây chen đá

3

bóng xế tà

lá chen hoa

Thơ Việt

song thất

lục bát

3

Thuở trời đất

Khách má hồng

4 [2+2]

nổi cơn gió bụi

nhiều nỗi truân-chuyên

 

 

            1.2- Âm thanh:

 

            Dï-nhiên như đã nói trong “Tiếng Việt Tuyệt Vời”, thơ Tây không có cung nhạc tự-nhiên, chỉ có điệu nhịp tiết-tấu. Nhạc trong thơ Tây là nhạc chế sẵn cho lời. Ý dìu lời đi vào nhạc-điệu, chứ lời không mang theo nhạc dẫn đưa tình ý. Trái lại vì mỗi lời Việt mang theo một nốt nhạc khác nhau, nên trong văn, nhất là trong thơ Việt, nhạc biến-ảo theo lời. Nhạc vốn đã làm nên duyên-dáng du-dương cho tiếng Việt thì hẳn nhiên nhạc cũng là yếu-tố cơ-bản trong thơ Việt. Ngôn-ngữ có nhạc là do cách sử-dụng từ sao cho réo-rắt, đấy là cách gieo bình và trắc-thanh, sao cho êm-ái du-dương, đấy là cách ngắt nhịp, lựa chọn âm-vận. 

 

            Người Việt ngâm thơ mà người ngoại-quốc nói là hát thơ. Nói như thế không sai. Khi ngâm thơ, ta thưởng-thức giọng ngâm và điệu ngâm. Ngâm thơ là phổ nhạc vào thơ, một thứ nhạc đã được chế sẵn để chuyên-chở ý thơ, cũng hệt như ngâm vọng cổ một bản mà lời chẳng có gì làm sâu-sắc văn-vẻ cho lắm nếu đem đọc lời của bản nhạc này. Vậy khi nói đến nhạc của thơ, là nói đến đọc thơ. Đọc thơ lột hết được tính nhạc của thơ tự nó đã có sẵn trong lời thơ.   

 

            Nóí như vậy là muốn nói đến thơ tự-do, thơ xuôi, tuy là vay mượn chình-thức thơ Tây, nhưng nếu không có nhạc trong thơ, thì chẳng hoá ra là thơ ngoại-lai. Thơ không có nhạc mà chỉ chuyên-chở ý-tưởng, đúng hơn chỉ là một bài dịch thơ sang tiếng Việt hơn là một bài thơ Việt. Nói là vay mượn, chứ thực ra trước khi ta có thơ xuôi gần đây, thì từ thuở xa xưa, ta đã có văn biền-ngẫu qua những bài văn-sách, kinh-nghĩa của lối khoa-cử. Và trước khi du-nhập thơ tự-do của Tây-phương thì ca-dao với lối hát xẩm, ta cũng đã có thơ tự-do rồi, một thứ thơ tự-do với nhịp phách và cước-vận như của thơ Tây, lại còn mang tính dân-tộc với cung bậc thanh-âm rộn-ràng và với yêu-vận gieo ở lưng chừng câu. Như bài sau đây:

 

                        Ba mươi Tết, lại ba mươi Tết,

                        Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú khách

                        Một tay cô cầm cái dù rách

                        Một tay cô xách cái chăn bông

          Cô ra bờ sông

          Cô trông sang nước người

          i chú Chệt ơi là chú Chệt ơi!

          Một tay cô cầm quan tiền,

          Một tay cô cầm thằng bù-nhìn,

          Cô ném xuống sông;

          Quan tiền nặng, quan tiền chìm,

          Bù-nhìn nhẹ, bù-nhìn nổi,

          Ối ai ơi cûa nặng hơn người!

 

Tản-Đà nổi tiếng với những bài thơ mới, truyền-cảm sâu xa, vì nó không còn gò bó theo luật-lệ, chỉ giữ lại cái thanh-tú của nhạc dấu, của âm-điệu mà thôi. Chẳng hạn bài Thiên-Thai:

 

Lá đào rơi rắc lối Thiên-Thai,

Suối tiễn oanh đưa luống ngậm-ngùi.

Nửa năm tiên-cảnh,

Một bước trần-ai.

Ước cũ duyên thừa có thế thôi!

Đá mòn rêu nhạt,

Nước chảy huê trôi.

Cái hạc bay lên vút tận trời!

Cửa động,

Đầu non,

Đường lối cũ,

Trời đất từ nay xa cách mãi!

Nghìn năm thơ-thẩn bóng trăng trôi.

 (Nguyễn Khắc-Hiếu)

 

II- Tính dân-tộc trong thơ Việt

 

            Thơ Việt phải thể-hiện bản-sắc của giống nòi, nói lên được tâm-thức của tổ-tiên ngàn xưa truyền lại cho con cháu lập quốc và hưng quốc. Ta së nghï thế nào khi thế-hệ hậu-duệ mình tìm trong lịch-sử thi ca nước Việt, thấy rằng cha ông chúng đã đánh mất gốc nguồn? Nhân-loại qua nền thi ca hiện nay đánh giá được thế nào là tính dân-tộc của người Việt, ấy là tuỳ theo thơ Việt có chuyên-chở được hồn nước hay không? Người ta sẽ thấy được đời sống vật-chất, tình-cảm, và tư-tưởng của giống nòi, nhận rõ chân-dung con người Việt-Nam là thế đó, lai căn hay mất gốc? Những loại thơ truyền miệng sau đây liệu có gọi là thơ mang theo hồn nước hay không?  

“Thương  cha, thương mẹ, thương chồng,

Thương người: thương một, thương ông: thương mười.”

 

Và:

“Thằng Trời hãy đứng một bên,

Để ông Thuỷ-lợi đứng lên làm Trời!”

Hay:

“Thắp đèn cho sáng ba gian,

Lôi mi ra giữa đình làng đêm nay,

Đấu cho tan-tác mặt mày,

Đấu cho mồ mả tụi bay chẳng còn.”

 

Liệu chúng ta có chấp-nhận những lời thơ nghịch thiên-lý và  luân-thường như thế để bảo rằng đó là thơ Việt, thơ mang hồn nước, thơ của chủng-tộc Việt hay không?  

 

*   *

*

Kết-luận

 

Việt-thi hay Việt-văn chỉ là những diện của một điểm chung là văn-học, văn-hoá làm nên văn-minh. Khi nói Việt-văn là đã tự nói lên vẻ đẹp của ngữ Việt rồi, vì văn là những nét vằn thể-hiện nên vẻ đẹp. Cái gì làm nên vẻ đẹp độc-đáo tuyệt-vời? Không hẳn chỉ là cấu-trúc và nhạc-tính cûa ngữ Việt mà còn là cái hồn nước trong ngữ Việt thể-hiện qua Việt-Triết âm dương, ấy là đạo sống Thái-Hoà cûa tổ-tiên, nhân-sinh-quan và vũ-trụ-quan của giống nòi, cho phép nhận rõ chân-dung con người là hội-tụ giao-thoa của Trời Đất, là tinh-thần dân-tộc, là ý-chí bất-khuất, độc-lập, tự-chủ, là lập-trường không nghiêng ngả, là tương-thân kết-đoàn, là thuận thiên-lý, trọng nhân-luân, là tình yêu hài-hoà, hài-hoà với thiên-nhiên với Trời Đất, với tha-nhân. nói chung ấy là tinh-thần nhân-bản của trăm con trăm trứng cùng sinh ra trong một bọc Mẹ, là phân tán nhị nguyên nhưng hoà-đồng nhất thể như huyền-thoại Rồng Tiên đã viết lên trang đầu của Việt-sử làm thành hiến-chương cho con cháu Hùng-Vương lập quốc và hưng quốc.  

             

Vâng, hồn nước quả tiềm-tàng trong văn-hóa Rồng Tiên, bàng-bạc trong ngôn-ngữ Mẹ Việt. Lại biết rằng ngôn-ngữ có thể làm bại-hoại tư-tưởng và ngược lại, nhất là đối với thứ ngôn-ngữ vô cùng phong-phú súc-tích như tiếng Việt, bởi thế một khi tập-quán xấu đã bén rễ, thì đây là một báo động cho các nhà làm văn-hoá, cho tất cả những ai còn tha-thiết tới tiền-đồ văn-học Việt-Nam. Cho nên, tuy đường về quê hương mở ra nhiều phương lắm lối, song đối với thế-hệ trẻ mai này sẽ theo gót cha anh xây đắp giang-sơn, thiển-nghĩ con đường văn-học, văn-hoá Mẹ Việt hơn bao giờ vẫn là một chính-lộ dẫn đưa họ về nguồn, bởi vì:   

 

Cội nguồn hoa thắm ngát hương,

Đường về le-lói ánh dương huy-hoàng,

Gió reo chim hót ca vang:

“Việt-Nam văn-hiến vinh-quang muôn đời!”

 

Chú-thích:

 

(*) Bàì viết nguyên là bài thuyết-trình tại Văn Bút Ontario Canada năm 2000, sau được đăng lại trên quý-san Định Hướng Paris số 28 Mùa Đông năm 2001, nay được hiệu-đính lại mô-hình âm dương trong thơ lục bát và song thất lục bát và thêm vài bài thơ song thất lục bát liên-hoàn thuận, nghịch- độc.

 

(1) Vũ Đình-Trác: Trết-Lý Truyền-Thống Việt-Tộc Dọn Đường Cho Thần-Học Việt-Nam, tạp-san Định Hướng số 11, 1996.

(2) Đỗ Quang-Vinh, Tiếng Việt Tuyệt-Vời, chương 8: Tiếng Việt Với Triết-Lý A6m Dương Và Đạo Sống Thái-Hoà, (ấn- bản lần 2, Toronto, 2000)

 (3) Khiếu Đức-Long: Đặc-tính gốc Nước của văn-hoá Việt-Nam, Vietnamologica, số 1, 1995, tr.176 & 177.

(4) Kim Định: Cơ cấu uyên-nguyên, Hội Hữu tập-san, Việt-Học Hàn-Lâm Giáo-Sï Việt-Nam Hải-Ngoại chủ-trương, số 3, ngày 15-3-1986,

(5) Thái-văn-Kiểm, Triết Việt: Đông-Hồ và triết-lý nhân-sinh, Vietnamologica, số 1, 1995, tr. 141)

(6)  Lê-công-Tâm: Vài suy nghï về mối liên-hệ giữa tiếng Việt và văn-hoá Việt, tạp-chí Định Hướng, số 5, 1994.

 

e-mail: doquangvinhvenguon@yahoo.com

 

Trở về Trang Chính