|
Một
vài địa-danh hoặc cơ-sở du-lịch ở Canada mang tên gọi như
Huron Lake, Senaca College, hay thủ-đô
Ottawa, hoặc Sun Dance Lodge, v.v… Những
tên gọi ấy phản ánh sắc-thái đa-văn-hoá muốn ghi dấu ấn cội
nguồn khi mượn tên gọi của các thổ-dân tại xứ này. Ở miền
đông, vùng tỉnh-bang Ontario có hai bộ-tộc chính: bộ-tộc thứ
nhất là Iroquonian ở phía nam, từ hồ Simcoe xuống tới
phía bắc Nữu-Ước, Hoa-Kỳ, bao gồm các nhóm Huron,
Tobacco, Mohawk, Oneida, Onandaga, Cayuga và Seneca;
bộ-tộc thứ hai là Algonkian ở phía bắc, bao gồm các nhóm
Algonkins, Ojibwe, Ottawa và Cree. Còn ở
miền tây, tại tỉnh-bang Alberta, chủ-yếu gồm sắc
dân Blackfeet với Lễ Hội Sun Dance
là đặc-trưng văn-hóa và tín-ngưỡng của họ. Tại Hoa-Kỳ và Canada,
tên gọi “Indians” không có nghĩa là những người Ấn-Độ, mà
dùng để chỉ những thổ-dân vốn đã sống thành các bộ-tộc trước khi
các nước này lập quốc. (1)
1- Vài
nét về thổ-dân Blackfeet tại Bắc Mĩ
(2)
Tại
vùng Bắc-Mĩ, họ lập cư tại các đồng bằng nên quen gọi là “Plains
Indians”, trong số này Blackfeet là một sắc dân
đông-đảo. Để gọi tên dân-tộc và
bộ-tộc này, khoa nhân-chủng-học thường dùng danh-từ số ít
Blackfoot, trong khi các chính-quyền và lãnh-chúa bộ-tộc thì
quen dùng danh-từ số nhiều là Blackfeet như “Blackfeet Indian
Reservation” và “Blackfeet Nation”.
Cộng-đồng Blackfeet gồm bốn cộng-đoàn: nhóm Pikuni (Piegan)
phía Bắc, nhóm Pikuni (Piegan) phía Nam, nhóm
Blood (hay Kainah) và nhóm Blackfeet (hay
Siksika). Nhóm Pikuni phía Nam định-cư tại vùng Montana
Hiệp-Chủng-Quốc và ba nhóm kia định-cư tại vùng Alberta Canada.
Khi ký thỏa-ước với sắc-tộc Niissitapi, được coi như là một
chủng-tộc hiện-hữu (the "Real People"), chính-quyền Canada
khởi-sự tiếp-xúc với sắc-dân Siksikas sống tại giáp ranh
của bộ-tộc Niitsittapiskaku, họ đã tưởng lầm tất cả những
người Niitsittapis đều là dân Blackfeet. Thực ra đó là
những người Peigans, Blackfeet Montana, Bloods và
Blackfeet/Siskika. Vì thế người ta đã gộp chung tất cả các
sắc-dân trên vào tên gọi Blackfeet, hơn nữa như sẽ đề-cập, các
sắc dân này đều có văn-hoá, ngôn-ngữ, và tín-ngưỡng tương-tự.
Người
ta cho rằng sở dĩ có tên gọi Blackfeet là do sự bạc màu của da
hươu khi thổ-dân dùng tro để thuộc da cho mềm làm trang-phục.
Các sắc dân này cùng nói một ngôn-ngữ - ngôn-ngữ Algoquian - tuy
có khác nhau đôi chút về cú-pháp. Các cộng-đoàn này sống như
những tiểu-quốc (nations) trong lãnh-địa riêng của mình, nhưng
tôn-trọng biên-giới của nhau, thoả-ước hỗ-tương phòng vệ và tự
do kết-hôn với nhau.
Họ là
dân du-mục săn bắn và lượm hái. Mùa hè, họ sống quây-quần trong
những lều trại lớn và săn trâu. Mùa đông, họ tách ra thành từng
toán chừng từ 10 đến 20 lều trại, có người đàn ông đứng đầu
chỉ-huy, thường phải khoẻ-mạnh, thiện-chiến và thành-thạo về
nghi-lễ. Dân Blackfeet có tinh-thần độc-lập, chiến-đấu dữ-dội và
luôn luôn đoạt thắng-lợi, vì thế họ đã chiếm-cứ một lãnh-địa
bao-la trải suốt từ phía bắc sông Saskatchewan dọc theo vùng
Edmonton, Alberta của Canada, chạy dài xuống tiểu-bang Montana
đến sông Missouri của Hoa kỳ.
Đời sống tín-ngưỡng
của họ tập-trung vào những bó bùa phép (medicine bundles) và
những nghi-thức khi dùng chúng trong phụng-vụ tế-lễ. Những bó
này mỗi người sở-hữu được do cuộc tiếp-xúc với thần-linh, rất
được tôn-kính, nhất là những bó thu được trong các cuộc
chiến-thắng, có thể là nón đội đầu, áo mặc, khiên thuẫn, và
thương giáo. Những cuộc thần-giao này thường xảy ra hoặc trong
giấc chiêm-bao hoặc trong sự linh-ứng. Một thanh-niên, thường là
do một thầy bùa cao-niên hơn giám-hộ, anh ta đi kiếm một nơi
hưu-quạnh, chay tịnh nhịn ăn cho đến khi được thần linh-ứng.
Cũng có nhiều người đã thất-bại chẳng bao giờ được linh-thị
(vision) hết.
2-
Tổ-chức lễ-hội Sun Dance của sắc dân Blackfeet
Đại-Hội
Vinh-Tôn Mặt Trời hay Sun Dance của dân Blackfeet là một cuộc lễ
lớn nhất, rất quan-trọng, có tính-cách tôn-giáo của thổ-dân
Indians tại vùng đồng bằng miền Tây Canada, được tổ-chức hằng
năm hoặc hai năm một lần, cũng tương-tự như trong cộng-đoàn
những sắc dân khác, tuy có khác nhau đôi chút, chẳng hạn trong
dân Blackfeet thì người đàn bà đóng vai chủ-tế. Sắc-thái chung
là: múa hát, đánh trống, thần-giao linh-thị, chay tịnh, và đôi
khi là tự hành xác. Từ lúc chuẩn-bị đến khi cử-hành lễ khiêu-vũ,
đại-hội kéo dài trong nhiều ngày thường tổ-chức vào hạ chí
khoảng 21 tháng 6, bắt đầu từ hoàng hôn của ngày chuẩn-bị và
cũng chấm dứt vào hoàng hôn của ngày cuối cùng. Lễ-Hội Sun
Dance gồm các giai-đoạn sau: bốn ngày đầu là dựng lều trại, ngày
thứ năm đem các bó lợi-phẩm đã thu lượm được trao cho bà thầy,
các trẻ em và người lớn ốm yếu thì đem dâng của lễ; sang ngày
thứ sáu là cuộc khiêu-vũ vinh-tôn Mặt Trời, thổi tù-và, đôi khi
còn có thêm việc tự hành xác; bốn ngày còn lại dành cho những
nghi-thức của các đàn ông trong mỗi cộng-đoàn.
Lễ hội
mang ý-nghĩa một sự liên-tục giữa sự sống và sự chết, cho rằng
cuộc sống thực sự không kết thúc nhưng là một sự tái tục
luân-hồi. Mọi tạo-vật đều tương-quan lệ-thuộc lẫn nhau [a
continuity between life and death - a regeneration, there is no
true end to life, but a cycle of symbolic and true deaths and
rebirths. All of nature is intertwined and dependent on one
another.] (2)
|
 |
 |
|
Thổ-dân
Blackfeet khoảng năm 1908 (2a) |
Lều Sun Dance thời xa xưa (2b) |
Dân
Blackfeet tổ-chức Lễ Hội khi nào người đàn bà thề-nguyền cần-cù
và trung-thành với chồng mình. Ở các bộ-tộc khác có thể được
tổ-chức để cho người đàn ông khấn hứa tạ ơn vị Thần Sinh-Mệnh
(the Master of Life) (3). Chẳng hạn, họ khấn hứa nếu một người
thân yêu của họ khỏi bệnh, họ sẽ tập họp dân-chúng đến dự lễ.
Hoặc có thể Thần Tối Cao (the Grand Spirit) phán bảo cho một
người phải làm như thế để tránh một tai-ương sắp xảy ra. Người
nào đứng ra triệu-tập dân-chúng đến dự lễ, phải thề-nguyền rằng
sáu tháng trước và sau kỳ lễ, người ấy phải sống một cuộc đời
tốt lành. (4)
Đã có
một thời cả hai chính-quyền Canada và Hoa-Kỳ cấm đoán, nhưng sau
đó, Sun Dance được tổ-chức lại vì đã cắt bỏ nghi-thức tự hành
xác (self-torture) (5). Họ cắm cột dựng lều và khiêu-vũ ở trong
ấy. Lều khiêu-vũ gọi là Sun Dance Lodge. Mọi thứ trang-hoàng
trong lều đều mang một ý-nghĩa riêng. Cột làm bằng một thứ cây.
Cây này là tượng-trưng cho đời sống. Họ làm một tổ chim trên
chạc cây. Đấy là hình-ảnh nơi trú-ngụ của con người. Bốn cọc
khác tượng-trưng cho bốn góc của trái đất, tức bốn phương trời.
Mười hai cột thẳng ám-chỉ các sự huyền-bí, chẳng hạn mười hai
đức-hạnh trong tín-ngưỡng của thổ-dân như là: nói điều phải, làm
điều tốt,…Những lá cờ hiệu treo ở cây cột là tượng-trưng những
tặng-phẩm dâng lên Thiên-Nhiên là Mặt Trời, Gió, Mây và Nước.
Dân-chúng phải tạ ơn, họ dâng tặng Thiên-Nhiên vì Thiên-Nhiên
cho họ đủ mọi thứ. Đến lượt họ, họ tặng lại cho dân-chúng, cho
khách tham-dự, và cho những ai cần-thiết trong số thân-nhân của
họ.
Trong
lều khiêu-vũ, người ta cầu-nguyện vị Thần Tối-Cao là Mặt Trời.
Mây, gió, nước, loài vật, tất cả đều do Thần Tối-Cao sai bảo.
Mặt Trời cai-quản mọi vật, từ cây cỏ, con người đến loài vật. Đó
là Đấng coi sóc về sức khoẻ, sức mạnh và mọi thứ cần-thiết để
nuôi sống con người (6).
Bài
tường-thuật dưới đây là lời của một bô lão Blackfeet kể lại
thần-thoại nói về nguồn gốc của một đại-lễ vốn là tập-tục của
sắc dân Blackfeet, được tác-gỉả Ella Elizabeth Clark chuyển âm
và do ngưòi viết chuyển ngữ.
2- Thần-thoại về “Sun
Dance” theo lời kể của một bô lão thổ-dân Blackfeet (7)
Lễ Sun
Dance đã có từ xa xưa khi mà dân Blackfeet chưa biết dùng ngựa,
vẫn còn dùng chó làm vật chở hàng, và chưa biết dùng kẹp gỗ để
chặn đè những vách lều của họ.
Một hôm
đầu mùa hạ, dân làng chúng tôi cắm trại dưới chân núi. Đêm ấy
trời không vẩn mây, hai cô gái nằm ngủ trên bãi cỏ ngoài căn lều
nhà họ. Cô chị có tên là nàng “Lông Vũ” (Feather Woman), cô thức
dậy trước khi trời tảng sáng, vừa hay Sao Mai (Morning Star) đã
lên cao khỏi đồng cỏ. Ánh Sao chiếu qua làn không-khí sớm mai
trong vắt, trông chàng đẹp hẳn ra. Cô gái nằm dán mắt nhìn Sao,
tới khi thấy chàng Sao Mai dường như đã tiến lại rất gần, nàng
tưởng-tượng ngay chính chàng là người yêu của mình.
Rốt
cuộc nàng đánh thức cô em, lớn tiếng gọi em dậy: “Dậy nhìn Sao
Mai kìa! Chàng đẹp thế kia, hẳn chàng thông-minh lắm. Đã nhiều
chàng trai trẻ muốn cưới chị làm vợ, nhưng chị chỉ yêu có một
mình anh Sao Mai thôi!”
Rồi vài
tuần trăng qua đi, khi lá trở vàng,và khi những đàn ngỗng đã bay
xuôi nam, nàng Lông Vũ một mình ra bờ sông kín nước. Trên đường
trở về, nàng thấy một chàng trai trẻ đứng ngay phía trước mặt
mình. Nàng khẽ tránh sang một bên, rồi đi vượt lên trên, nhưng
chàng liền giơ tay ra như muốn chặn lại. Bực
mình về cử-chỉ bạo-dạn ấy, nàng la lên: “Tránh ra! Từ trước đến
giờ, chưa chàng trai nào dám chặn đường ta cả!”
Chàng
ôn-tồn trả lời: “Tôi là Sao Mai đây. Buổi sớm mai nọ, lúc trăng
đẹp tươi như hoa, tôi đã thấy nàng ngủ trên bãi cỏ cạnh nhà tôi
và tôi đã yêu nàng. Bây giờ tôi muốn nàng theo tôi về trời, về
nhà cha tôi, nhà ông Mặt Trời. Tại đó, chúng mình sẽ vui sống
an-hoà.”
Chàng
Sao Mai cao lớn, thân hình ngay-ngắn, tóc dài óng-ả có cài một
nhánh lông chim màu vàng. Chàng cầm một cành cây đỗ-tùng
(juniper branch), đầu cành có treo cái mạng nhện. Chàng mặc áo
đẹp bằng da thú đã thuộc mềm và toả ngát mùi hương của gỗ thông
và cỏ thơm.
Nàng
Lông Vũ chạnh nhớ tới vẻ đẹp của chàng trai trên bầu trời vào
một buổi sáng nọ đầu mùa hạ, tim nàng lại thổn-thức mến yêu.
Nàng muốn đi theo chàng, song còn ngần-ngại., nàng nói: “Tôi
phải về thưa với cha mẹ tôi trước đã.”
Sao Mai
đáp: “Không, không được nói cho ai hay. Không được nói cho ai
hay em sẽ đi đâu!”. Rồi
chàng trao cho nàng cành cây đỗ-tùng có cái mạng nhện, cài nhánh
lông chim màu vàng lên mái tóc nàng, và dặn nàng lối đi: “Hãy
nắm chặt sợi dây trên của mạng nhện, đặt chân lên sợi dây dưới.
Giờ thì nhắm mắt lại!”
Chàng
dẫn nàng đi, đến khi nàng mở mắt ra thì vừa hay hai người đã lên
tới trời, và đang đứng trước một căn lều rộng-rãi.
Sao Mai
nói: “Đây là nhà cha mẹ tôi, nhà ông Mặt Trời và bà Mặt Trăng.
Em vào đi, mẹ tôi đón em trong ấy!”
Bấy giờ
là ban ngày, ông Mặt Trời còn đang rong-ruổi đường xa, nhưng bà
Mặt Trăng thì ở nhà. Sao Mai thưa với mẹ: “Đêm nọ, dưới ánh
trăng đẹp tươi như hoa, con đã thấy cô gái này ngủ trên bãi cỏ.
Con yêu nàng và mang nàng về nhà làm vợ con.”
Bà Mặt
Trăng đón nàng Lông Vũ, coi nàng như con gái. Đến tối, chúa tể
Mặt Trời trở về, ông cũng đón tiếp nàng niềm-nở như thế. Bà Mặt
Trăng mặc cho nàng chiếc áo bằng da hoẵng đã thuộc mềm, có
trang-điểm những răng nai rừng, và tặng cho nàng đôi xuyến bằng
răng nai, lại thêm một tấm áo choàng bằng da hươu với phấn màu
linh-thiêng. Bà nói: “Mẹ cho con những tặng-vật này vì con đã
làm vợ con trai mẹ.”
Nàng
Lông Vũ sống với Sao Mai hạnh-phúc trên trời, và học được nhiều
điều. Khi nàng sinh con đầu lòng, hai vợ chồng đặt tên cho nó là
Thằng Sao (Star Boy).
Rồi bà
Mặt Trăng trao cho nàng Lông Vũ một cái xẻng đào rễ cây, bà nói:
“Chỉ có người đàn bà nào trong sạch mới được dùng cái này. Con
có thể dùng cái xẻng này mà đào mọi thứ rễ, nhưng mẹ báo trước
rằng con không được đào rễ cái cây cải bự kia ở gần nhà ông
Nhện. Con đã có con rồi. Đào bật rễ ấy lên là chúng ta hết thảy
đều xui-xẻo đó!”
Đi đâu
nàng Lông Vũ cũng mang theo con và cái xẻng. Nàng vẫn thấy cái
cây cải bự kia, nhưng lại sợ chẳng dám đụng tới. Một hôm, đi
ngang qua, nàng nghĩ tới lời lẽ bí-hiểm mà bà Mặt Trăng đã
dặn-dò mình trước đây, nên tò-mò muốn biết bên dưới ấy ra sao.
Đặt đứa bé xuống đất, nàng đào xới cho tới lúc cái xẻng cắm chặt
trong lòng đất, không sao rút lên được.
Thấy
hai con hạc bự bay trên đỉnh đầu, nàng gọi chúng giúp đỡ. Gọi cả
ba lần đều thất-vọng cả ba. Đến lần thứ tư thì chúng lượn vòng
rồi đậu xuống cạnh nàng. Con hạc trống ngồi bên này cây cải, còn
vợ nó thì ngồi phía bên kia. Con hạc trống quặp chặt cái mỏ dài
nhọn hoắt vào cây cải, rồi nó lay qua lay lại, vừa lay vừa hát
bài ca bùa chú:
“Rễ này
là rễ thần thiêng,
Đào đâu
rễ cũng thiêng-liêng coi chừng!”
Nó lập
đi lập lại bài ca bốn lần, quay về bốn hướng: nam, bắc, đông,
tây. Xong bốn lần thì nhổ được cây cải lên.
Nàng
Lông Vũ nhìn xuống qua hố sâu vừa đào, thì thấy bên dưới là trái
đất rộng. Nàng có biết đâu rằng chính cây cải đã lấp kín hố này
sau khi Sao Mai đã mang nàng đi chui qua hố ấy để về trời. Ở
duới xa xa nữa, nàng thấy trại lều của dân Blackfeet nơi nàng đã
từng quen sống trước đây. Nàng thấy cả những chàng trai trẻ đang
chơi đùa. Nàng thấy cả những phụ-nữ đang thuộc da, dựng lều, hái
trái trên đồi, băng qua những đồng cỏ, tới sông kín nước. Nàng
ngồi lâu lắm, đăm-chiêu nhìn cảnh gia-đình xưa. Trở về lều, nàng
vừa đi vừa khóc. Nàng thấy cô-đơn, và vọng nhớ về quê cũ vớí
những đồng cỏ xanh mướt, với dân làng thân yêu.
Về tới
lều, nàng thấy hai mẹ con Sao Mai đang chờ mình. Thoạt thấy vợ,
Sao Mai lên tiếng: “Mình nhổ rễ cây thiêng-liêng mất rồi!” Thấy
nàng im-lặng, Mặt Trăng tiếp lời: “Mẹ đã dặn con không được đào
cây cải ấy lên. Mẹ thương thằng Sao, mẹ chẳng muốn đi với nó.”
Chẳng
ai nói thêm một lời, vì bấy giờ là ban ngày, ông chúa tể Mặt
Trời vẫn còn rong-ruổi đường xa. Tối về, vừa bước vào lều, ông
đã hỏi ngay: “Có chuyện gì thế, con gái? Trông con có vẻ buồn,
dường như con có điều gì băn-khoăn?”
- Dạ
vâng, con nhớ nhà. Hôm nay con đã nhìn xuống thấy dân làng của
con.
Ông chú
tể Mặt Trời cả giận, nói với Sao Mai: “Nó đã không vâng lời, thì
phải phú nó về!”
Bà Mặt
Trăng cố gắng vuốt cơn giận của ông Mặt Trời, nhưng ông lại nói
tiếp: “Nó phải trở về với dân làng của nó. Nó không được chung
hưởng hạnh-phúc với chúng ta nữa.”
Vì thế
Sao Mai dẫn nàng Lông Vũ đến nhà ông Nhện, mà từ đó mạng nhện
của ông đã kéo nàng lên trời trước kia. Chàng đội cho nàng chiếc
nón bùa thiêng. Nón này chỉ có người đàn bà trong sạch mới được
đội mà thôi. Chàng đặt thằng Sao vào lòng nàng, lấy áo da hươu
quấn cả hai mẹ con lại rồi chào từ-biệt.
Ông
Nhện cẩn-thận đem họ chui qua cái hố ấy xuống mặt đất. Bấy giờ
là buổi chiều giữa mùa Hạ, đang tuần trăng, và những trái sim
đang bắt đầu chín mọng, nàng Lông Vũ trở về với dân-chúng. Nàng
sống với cha mẹ mình mà chẳng bao giờ thấy hạnh-phúc. Thường
thường nàng mang theo thằng Sao lên đỉnh núi ngồi nhớ tiếc
chồng. Một đêm kia, nàng ngồi một mình bên sườn núi. Trước khi
trời tảng sáng, khi Sao mai đã lên khỏi cánh đồng, nàng xin
chồng cho nàng quay về trời. Nhưng chàng từ-chối: “Em đã không
vâng lời, nên không thể quay về trời được. Tội của em là
nguyên-cớ làm cho em khổ đau, đem phiền-muộn đến cho em và cho
nhân-dân của em.”
Sau đó,
chẳng mấy tuần trăng, nàng Lông Vũ chết. Rồi cha mẹ nàng cũng
chết. Còn lại có mình thằng Sao. Nó nghèo đến nỗi không có áo
mặc, ngay cả giầy da hươu cũng chẳng có. Nó xấu-hổ chẳng dám
chơi với các bạn trẻ khác. Khi dân Blackfeet nhổ trại, nó sợ đi
theo họ vì bị các trẻ kia ném đá và ăn hiếp. Lúc lớn lên, nó
hiểu ngay rằng vết sẹo bí-hiểm trên mặt nó càng đáng chú-ý hơn.
Ai cũng chế-nhạo trêu ghẹo nó, gọi nó là thằng Sẹo Mặt
(Scarface).
Khi
thằng Sao đã thành người lớn, nó yêu một cô gái trong dân
Blackfeet, cô gái đẹp của một ông đoàn-trưởng vai vế. Thằng Sẹo
Mặt – vì cô ta quen gọi như vậy - tặng cho cô một món quà với
lời cầu hôn. Cô ta khinh-khỉnh trả lời không chịu, trừ phi không
còn vết sẹo kia trên trán nó nữa.
Quá
thiểu-não, thằng Sao đi hỏi ý một bà lão thầy bùa, là bạn
duy-nhất của nó. Bà lão bảo: “Vết sẹo trên mặt ngươi là do ông
chúa tể Mặt Trời, ông nội ngươi, đã khắc lên, chỉ mình ông ấy
mới có thể xoá đi được.”
Thế rồi
thằng Sao quyết-định lên trời, tới nhà ông Mặt Trời. Bà lão thầy
bùa làm cho nó đôi giầy da hươu, cho nó ít ruốc chà bông.
Thằng
Sao một mình lặn-lội, băng đồng, leo núi, sau cùng nó gặp một
con sông lớn hướng về phía mặt trời lặn. Đã ba ngày ba đêm nó ở
bên sông ăn chay cầu-nguyện chúa tể Mặt Trời. Sang đến chiều
ngày thứ tư, nó thấy một con đường mòn rực sáng vắt ngang sông.
Nó cứ theo con đường này mà đi. Khi tới gần nhà ông Mặt Trời, nó
đứng núp chờ đợi. Sáng hôm sau, khi ông Mặt Trời bước ra khỏi
lều, sẵn-sàng lên đường xa rong-ruổi, chợt thấy thằng Sao
xuất-hiện, ông nội nó chẳng thèm nhận ra nó, lại còn nổi giận
tơi-bời vì thoạt thấy người từ trái đất đi lên. Nhưng bà Mặt
Trăng đã can ngăn.
Sao Mai
bây giờ trông vẫn còn trẻ đẹp. Chàng đốt cỏ thơm làm nhang và để
con mình ngồi xông khói hương thiêng. Nghe thằng Sao kể chuyện
chỉ vì bị người yêu khước-từ mà nó phải lặn-lội đường xa tới
đây, cha nó buồn thương cho số phận nó, và hiểu rằng tại sao mặt
nó trông buồn thiu và tiều-tuỵ như thế. Sao Mai hứa với nó: “Cha
sẽ giúp con.”
Thằng
Sao sống với Sao Mai tại nhà ông bà Mặt Trời, Mặt Trăng. Một
hôm, cả nhà đi săn, nó đã cứu sống cha nó. Nó đã giết bảy con
chim khổng-lồ hung-ác toan giết chết Sao mai. Cả ba người đều
biết ơn nó. Lời kêu xin của cha nó đã thuyết-phục được ông Mặt
Trời xoá bỏ vết sẹo trên mặt nó.
Xoá
xong rồi, ông Mặt Trời nói với thằng Sao: “Ông sẽ cho cháu làm
sứ-giả thông-tin cho dân Blackfeet. Cháu hãy bảo cho chúng biết
rằng: ông sẽ chữa cho kẻ ốm đau được lành-mạnh nếu hằng năm
chúng cử-hành đại-lễ vinh-tôn ông.”
Rồi ông
dạy thằng Sao tất cả những mầu-nhiệm của ngày lễ Sun Dance và
dạy nó cầu-nguyện ra sao, hát những bài ca nào. Ông cho thằng
Sao đeo hai nhánh lông quạ đen làm sứ-giả của Mặt Trời xuống
trái đất, và cho cả một chiếc áo choàng bằng da hươu thuộc mềm.
Ông nói: “Chỉ có người đàn bà tốt lành, đức-hạnh mới được khoác
áo choàng này. Người ấy sẽ chủ lễ Sun Dance, và kẻ đau ốm sẽ
được khỏi bệnh.” Sao Mai cho con chàng một cái sáo thần và một
bài ca tuyệt-diệu. Chàng nói: “Với những thứ này, con có thể
mê-hoặc được trái tim của người yêu.”
Thằng
Sao đi đường tắt theo giòng sông Ngân để trở về trái đất và lều
trại của dân Blackfeet. Nó dạy cho dân làng biết về lễ Sun Dance
y như ông nội nó đã dạy bảo. Nó chiếm được trái tim người yêu
đúng như cha nó là Sao Mai đã tiên-báo.
Về sau,
ông Mặt Trời đem cả hai vợ chồng nó lên trời. Ông cho thằng Sao
được nên đẹp-đẽ sáng-láng y hệt như cha nó. Mỗi khi Sao Mai và
con chàng xuất-hiện ở phía đông lúc sớm mai, dân-chúng Blackfeet
cứ nhầm lẫn hai người với nhau. Vì thế, họ thường gọi ngôi sao
con bằng một tên gọi có nghĩa là “Sao Mai Trộn Không Lẫn”
(Mistake Morning Star).
Còn
ngôi sao đứng yên kia, ngôi sao ở phương Bắc đó, chính là cái hố
trên trời, mà chính từ đó, nàng Lông Vũ đã được kéo chui qua để
lên trời và trở lại xuống đất. Ánh sáng của ngôi sao này là do
ánh sáng từ nhà ông Mặt Trời rọi tới. Những ngôi sao xếp vòng
cánh cung ở hướng đông kia, chính là nhà ông Nhện. Mỗi khi bạn
gặp những hòn đá chôn vùi phân nửa trên những cánh đồng, đấy
chính là những hòn đá trước đây được dùng để đè chặn các vách
lều trại của dân Blackfeet, bạn sẽ hiểu được tại sao tổ-tiên
chúng tôi lại gọi vòng sao cánh cung kia là “nhà của ông Nhện”.
Những
tặng-vật nàng Lông Vũ mang từ trời xuống vốn được dùng trong lễ
Sun Dance đầu tiên và được dùng đi dùng lại từ bấy lâu nay. Cái
nón bùa thiêng, cái áo trang-điểm răng hươu, cái xẻng đào cây
cải bự, cỏ thơm làm nhang, những cái nĩa cời than hồng khỏi bếp
lửa, tất cả những thứ ấy, bao giờ bà thầy cũng dùng trong lễ
khấn nguyện, và bà giữ-gìn cẩn-thận cho tới ngày hội lễ năm sau.
Đây là những vật linh-thiêng trong ngày lễ Sun Dance. Những vật
ấy đem từ nhà Mặt Trời xuống để chúng tôi vinh-tôn trong ngày
đại-lễ của chúng tôi. (6)
kết-luận
Một
thần-thoại huyền-diệu, trữ-tình, nên thơ mà cũng hiện-thực làm
ta chợt liên-tưởng tới hình-ảnh của người thôn-nữ Việt-Nam một
đêm trăng nọ trong ca-dao:
Đêm qua
ra đứng bờ ao,
Trông
cá, cá lặn; trông sao, sao mờ.
Buồn
trông con nhện giăng tơ,
Nhện
ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
Buồn
trông chênh-chếch sao mai,
Sao ơi,
sao hỡi, nhớ ai sao mờ?
Lòng
tin ở Thần Tối Cao Mặt Trời, sự khẩn cầu Thiên-Nhiên, Mây, Gió,
Nước, lại làm ta liên-tưởng tới Ông Trời, tới các thần “tứ pháp”
(Pháp-Vân, Pháp-Vũ, Pháp-Lôi, Pháp-Điện) trong tín-ngưỡng của
người dân Việt. Cảnh thằng Sao con của vợ chồng Sao Mai và Lông
Vũ bị bọn trẻ bắt nạt, chế riễu, ăn hiếp đã cho ta từ chốn
“Bồng-Lai tiên-cảnh” trở về với hiện-thực quen thuộc của
thực-tại trần-thế.
Tình
yêu trai gái, trật-tự tôn ti, cũng như lòng yêu thương, và
nghĩa-vụ của mỗi phần-tử trong gia-đình: cha mẹ, vợ chồng, dâu,
con, cùng tinh-thần kết-đoàn trong đời sống cộng-đồng vốn sinh
hoạt có tổ-chức quây-quần quy-củ cũng như quan-niệm luân-lý của
những người Indians giàu tưởng-tượng mà lại thực-tiễn này dường
như phảng-phất đâu đây tâm-thức của người Á-Đông nói chung và
của người Việt-Nam nói riêng. Đây là một xã-hội hữu thần mà nền
văn-hoá của họ cũng có những nét tiếp-cận với nền văn-hoá Á-Đông
ít nhiều còn ghi dấu ấn.
Lại
cũng được biết, các nhà
nhân-chủng-học ngày nay đều cho
rằng những thổ-dân
tiên-khởi ấy chính là những người đã từ miền Đông Bắc Á-châu xâm
nhập Alaska
vào
Mĩ-Châu từ khoảng 30,000 năm trước, vào thời cuối
cùng của thời-đại băng-hà. Ở thời-kỳ này, hầu hết các sông biển
đều bị đóng băng, mực biển thấp hơn bây giờ, do đó, một dải đất
liền đã bắc cầu nối hai lục-địa lại, nơi đó chính là eo biển
Bering (Bering Strait) hiện nay, cứ tới mùa đông là đóng băng.
(Collier’s Encyclopedia, vol. 12, Indian Americans. )
Hẳn
nhiên khi lưu lạc tới một phương trời mới, cho dù xa thẳm đến
đâu, tổ-tiên của những người gốc
Á-Đông này đã mang theo văn-hoá của mình, và cho dù năm tháng
trải dài hàng mấy chục ngàn năm, văn-hoá ấy vẫn được bảo-tồn
luân-lưu muôn thế-hệ.
Điều
này cho phép chúng ta suy nghĩ, có phải chăng đó là mẫu-số chung
về cội nguồn chủng-tộc, văn-hoá, và người Việt hôm nay trong
thực-tại của đất nước cũng như trong cuộc lưu-vong tản mát khắp
nơi trên địa-cầu, liệu có làm được công việc duy-trì căn-tính và
bảo-tồn văn-hoá cội nguồn để cũng lưu truyền lại cho muôn thế-hệ
sau này như những người đã đi trước hay không?
-------------------------------------------------------------------------------------------------
Cước-chú:
(1) Khi
Columbus đặt chân lên miền Tân Thế-Giới, thì từ hàng ngàn năm
trước đó, các lục-địa vùng Bắc và Nam Mĩ đã có những người từ
Á-châu đến lập cư ở đây rồi. Khi Columbus tới Bahamas năm 1492,
ông nghĩ rằng mình đã tới các đảo ngoài khơi duyên hải Đông-Á,
và cho đó là Indies rồi gọi các người dân ở đây là Indians.
Kể từ đó, các nhà thám-hiểm dùng tên gọi này để chỉ tất cả các
thổ-dân của miền Tân Thế-Giới.
(2)
www.crystalinks.com/sundance.html
www.artisanatindien.com/blackfoot.html
www.astronomy.pomona.edu/archeo/plains/plains;html
(2a)
Among the Blackfoot, circa 1908 photo by Trueman, courtesy
Library & Archieves Canada/C-14106 (www.thecanadianencyclopedia.com/index.cfm?PgNm=TCE&Params=A1ARTA0007786)
(2b)
www.legendsofamerica.com/NA-Arapaho.html
(3)
Lời dẫn của Ella
Elizabeth Clark tác-giả cuốn Indian Legends of Canada,
ISBN: 0771021224,
Pub. Date: 9/1/1991,
Publisher(s): Random House Inc.,
trang 63, bài “The Origin of the Sun Dance”.
(4)
Lời kể của một bô
lão 82 tuổi vốn là thầy bùa của bộ-tộc Stoney, thuật trong sách
đã dẫn, trang 133, bài “The Vision of the Chief Walking
Buffalo”
(5)
Xem 1- sách đã dẫn
(6)
Xem 2, sách đã dẫn
(7)
Lời tường-thuật của
dân Blackfeet, Ella Elizabeth sưu-tầm, Đỗ Quang-Vinh chuyển-ngữ
từ bài “The Origin of the Sun Dance”, trang 62, sách đã
dẫn.
Trở về Trang Chính
|