NGUỒN GỐC ĐẠI-HỘI KHIÊU-VŨ

VINH-TÔN MẶT TRỜI

(Sun Dance)


27 tháng 04 năm 2006

Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này 

 Một vài địa-danh hoặc cơ-sở du-lịch ở Canada mang tên gọi như Huron Lake, Senaca College, hay thủ-đô Ottawa, hoặc Sun Dance Lodge, v.v… Những tên gọi ấy phản ánh sắc-thái đa-văn-hoá muốn ghi dấu ấn cội nguồn khi mượn tên gọi của các thổ-dân tại xứ này. Ở miền đông, vùng tỉnh-bang Ontario có hai bộ-tộc chính: bộ-tộc thứ nhất là Iroquonian ở phía nam, từ hồ Simcoe xuống tới phía  bắc Nữu-Ước, Hoa-Kỳ, bao gồm các nhóm Huron, Tobacco, Mohawk, Oneida, Onandaga, Cayuga và Seneca; bộ-tộc thứ hai là Algonkian ở phía bắc, bao gồm các nhóm Algonkins, Ojibwe, Ottawa và Cree. Còn ở miền tây, tại tỉnh-bang Alberta, chủ-yếu gồm sắc dân Blackfeet với Lễ Hội Sun Dance là đặc-trưng văn-hóa và tín-ngưỡng của họ. Tại Hoa-Kỳ và Canada, tên gọi “Indians” không có nghĩa là những người Ấn-Độ, mà dùng để chỉ những thổ-dân vốn đã sống thành các bộ-tộc trước khi các nước này lập quốc. (1)

 

1- Vài nét về thổ-dân Blackfeet tại Bắc Mĩ (2)

 

Tại vùng Bắc-Mĩ, họ lập cư tại các đồng bằng nên quen gọi là “Plains Indians”, trong số này Blackfeet là một sắc dân đông-đảo. Để gọi tên dân-tộc và bộ-tộc này, khoa nhân-chủng-học thường dùng danh-từ số ít Blackfoot, trong khi các chính-quyền và lãnh-chúa bộ-tộc thì quen dùng danh-từ số nhiều là Blackfeet như “Blackfeet Indian Reservation”“Blackfeet Nation”.

 

Cộng-đồng Blackfeet gồm bốn cộng-đoàn: nhóm Pikuni (Piegan) phía Bắc, nhóm Pikuni (Piegan) phía Nam, nhóm Blood (hay Kainah) và nhóm Blackfeet (hay Siksika). Nhóm Pikuni phía Nam định-cư tại vùng Montana Hiệp-Chủng-Quốc và ba nhóm kia định-cư tại vùng Alberta Canada. Khi ký thỏa-ước với sắc-tộc Niissitapi, được coi như là một chủng-tộc hiện-hữu (the "Real People"), chính-quyền Canada khởi-sự tiếp-xúc với sắc-dân Siksikas sống tại giáp ranh của bộ-tộc Niitsittapiskaku, họ đã tưởng lầm tất cả những người Niitsittapis đều là dân Blackfeet. Thực ra đó là những người Peigans, Blackfeet Montana, Bloods và Blackfeet/Siskika. Vì thế người ta đã gộp chung tất cả các sắc-dân trên vào tên gọi Blackfeet, hơn nữa như sẽ đề-cập, các sắc dân này đều có văn-hoá, ngôn-ngữ, và tín-ngưỡng tương-tự.

 

Người ta cho rằng sở dĩ có tên gọi  Blackfeet là do sự bạc màu của da hươu khi thổ-dân dùng tro để thuộc da cho mềm làm trang-phục. Các sắc dân này cùng nói một ngôn-ngữ - ngôn-ngữ Algoquian - tuy có khác nhau đôi chút về cú-pháp. Các cộng-đoàn này sống như những tiểu-quốc (nations) trong lãnh-địa riêng của mình, nhưng tôn-trọng biên-giới của nhau, thoả-ước hỗ-tương phòng vệ và tự do kết-hôn với nhau.

 

Họ là dân du-mục săn bắn và lượm hái. Mùa hè, họ sống quây-quần trong những lều trại lớn và săn trâu. Mùa đông, họ tách ra thành từng toán chừng từ 10 đến 20 lều trại, có người đàn ông đứng đầu chỉ-huy, thường phải khoẻ-mạnh, thiện-chiến và thành-thạo về nghi-lễ. Dân Blackfeet có tinh-thần độc-lập, chiến-đấu dữ-dội và luôn luôn đoạt thắng-lợi, vì thế họ đã chiếm-cứ một lãnh-địa bao-la trải suốt từ phía bắc sông Saskatchewan dọc theo vùng Edmonton, Alberta của Canada, chạy dài xuống tiểu-bang Montana đến sông Missouri của Hoa kỳ.

Đời sống tín-ngưỡng của họ tập-trung vào những bó bùa phép (medicine bundles)  và những nghi-thức khi dùng chúng trong phụng-vụ tế-lễ. Những bó này mỗi người sở-hữu được do cuộc tiếp-xúc với thần-linh, rất được tôn-kính, nhất là những bó thu được trong các cuộc chiến-thắng, có thể là nón đội đầu, áo mặc, khiên thuẫn, và thương giáo.  Những cuộc thần-giao này thường xảy ra hoặc trong giấc chiêm-bao hoặc trong sự linh-ứng. Một thanh-niên, thường là do một thầy bùa cao-niên hơn giám-hộ, anh ta đi kiếm một nơi hưu-quạnh, chay tịnh nhịn ăn cho đến khi được thần linh-ứng. Cũng có nhiều người đã thất-bại chẳng bao giờ được linh-thị (vision) hết.

 

2- Tổ-chức lễ-hội Sun Dance của sắc dân Blackfeet

 Đại-Hội Vinh-Tôn Mặt Trời hay Sun Dance của dân Blackfeet là một cuộc lễ lớn nhất, rất quan-trọng, có tính-cách tôn-giáo của thổ-dân Indians tại vùng đồng bằng miền Tây Canada, được tổ-chức hằng năm hoặc hai năm một lần, cũng tương-tự như trong cộng-đoàn những sắc dân khác, tuy có khác nhau đôi chút, chẳng hạn trong dân Blackfeet thì người đàn bà đóng vai chủ-tế. Sắc-thái chung là: múa hát, đánh trống, thần-giao linh-thị, chay tịnh, và đôi khi là tự hành xác. Từ lúc chuẩn-bị đến khi cử-hành lễ khiêu-vũ, đại-hội kéo dài trong nhiều ngày thường tổ-chức vào hạ chí khoảng 21 tháng 6, bắt đầu từ hoàng hôn của ngày chuẩn-bị và cũng chấm dứt vào  hoàng hôn của ngày cuối cùng. Lễ-Hội Sun Dance gồm các giai-đoạn sau: bốn ngày đầu là dựng lều trại, ngày thứ năm đem các bó lợi-phẩm đã thu lượm được trao cho bà thầy, các trẻ em và người lớn ốm yếu thì đem dâng của lễ; sang ngày thứ sáu là cuộc khiêu-vũ vinh-tôn Mặt Trời, thổi tù-và, đôi khi còn có thêm việc tự hành xác; bốn ngày còn lại dành cho những nghi-thức của các đàn ông trong mỗi cộng-đoàn.

 

Lễ hội mang ý-nghĩa một sự liên-tục giữa sự sống và sự chết, cho rằng cuộc sống thực sự không kết thúc nhưng là một sự tái tục luân-hồi. Mọi tạo-vật đều tương-quan lệ-thuộc lẫn nhau [a continuity between life and death - a regeneration, there is no true end to life, but a cycle of symbolic and true deaths and rebirths. All of nature is intertwined and dependent on one another.] (2)

 

 Thổ-dân Blackfeet khoảng năm 1908 (2a)

Lều Sun Dance thời xa xưa (2b)

 

Dân Blackfeet tổ-chức Lễ Hội khi nào người đàn bà thề-nguyền cần-cù và trung-thành với chồng mình. Ở các bộ-tộc khác có thể được tổ-chức để cho người đàn ông khấn hứa tạ ơn vị Thần Sinh-Mệnh (the Master of Life) (3). Chẳng hạn, họ khấn hứa nếu một người thân yêu của họ khỏi bệnh, họ sẽ tập họp dân-chúng đến dự lễ. Hoặc có thể Thần Tối Cao (the Grand Spirit) phán bảo cho một người phải làm như thế để tránh một tai-ương sắp xảy ra. Người nào đứng ra triệu-tập dân-chúng đến dự lễ, phải thề-nguyền rằng sáu tháng trước và sau kỳ lễ, người ấy phải sống một cuộc đời tốt lành. (4)

 

Đã có một thời cả hai chính-quyền Canada và Hoa-Kỳ cấm đoán, nhưng sau đó, Sun Dance được tổ-chức lại vì đã cắt bỏ nghi-thức tự hành xác (self-torture) (5). Họ cắm cột dựng lều và khiêu-vũ ở trong ấy. Lều khiêu-vũ gọi là Sun Dance Lodge. Mọi thứ trang-hoàng trong lều đều mang một ý-nghĩa riêng. Cột làm bằng một thứ cây. Cây này là tượng-trưng cho đời sống. Họ làm một tổ chim trên chạc cây. Đấy là hình-ảnh nơi trú-ngụ của con người. Bốn cọc khác tượng-trưng cho bốn góc của trái đất, tức bốn phương trời. Mười hai cột thẳng ám-chỉ các sự huyền-bí, chẳng hạn mười hai đức-hạnh trong tín-ngưỡng của thổ-dân như là: nói điều phải, làm điều tốt,…Những lá cờ hiệu treo ở cây cột là tượng-trưng những tặng-phẩm dâng lên Thiên-Nhiên là Mặt Trời, Gió, Mây và Nước. Dân-chúng phải tạ ơn, họ dâng tặng Thiên-Nhiên vì Thiên-Nhiên cho họ đủ mọi thứ. Đến lượt họ, họ tặng lại cho dân-chúng, cho khách tham-dự, và cho những ai cần-thiết trong số thân-nhân của họ.

 

Trong lều khiêu-vũ, người ta cầu-nguyện vị Thần Tối-Cao là Mặt Trời. Mây, gió, nước, loài vật, tất cả đều do Thần Tối-Cao sai bảo. Mặt Trời cai-quản mọi vật, từ cây cỏ, con người đến loài vật. Đó là Đấng coi sóc về sức khoẻ, sức mạnh và mọi thứ cần-thiết để nuôi sống con người (6).

 

Bài tường-thuật dưới đây là lời của một bô lão Blackfeet kể lại thần-thoại nói về nguồn gốc của một đại-lễ vốn là tập-tục của sắc dân Blackfeet, được tác-gỉả Ella Elizabeth Clark chuyển âm và do ngưòi viết chuyển ngữ.   

 

2- Thần-thoại về “Sun Dance” theo lời kể của một bô lão thổ-dân Blackfeet (7)

 Lễ Sun Dance đã có từ xa xưa khi mà dân Blackfeet chưa biết dùng ngựa, vẫn còn dùng chó làm vật chở hàng, và chưa biết dùng kẹp gỗ để chặn đè những vách lều của họ.

 Một hôm đầu mùa hạ, dân làng chúng tôi cắm trại dưới chân núi. Đêm ấy trời không vẩn mây, hai cô gái nằm ngủ trên bãi cỏ ngoài căn lều nhà họ. Cô chị có tên là nàng “Lông Vũ” (Feather Woman), cô thức dậy trước khi trời tảng sáng, vừa hay Sao Mai (Morning Star) đã lên cao khỏi đồng cỏ. Ánh Sao chiếu qua làn không-khí sớm mai trong vắt, trông chàng đẹp hẳn ra. Cô gái nằm dán mắt nhìn Sao, tới khi thấy chàng Sao Mai dường như đã tiến lại rất gần, nàng tưởng-tượng ngay chính chàng là người yêu của mình.

 

Rốt cuộc nàng đánh thức cô em, lớn tiếng gọi em dậy: “Dậy nhìn Sao Mai kìa! Chàng đẹp thế kia, hẳn chàng thông-minh lắm. Đã nhiều chàng trai trẻ muốn cưới chị làm vợ, nhưng chị chỉ yêu có một mình anh Sao Mai thôi!”

 

Rồi vài tuần trăng qua đi, khi lá trở vàng,và khi những đàn ngỗng đã bay xuôi nam, nàng Lông Vũ một mình ra bờ sông kín nước. Trên đường trở về, nàng thấy một chàng trai trẻ đứng ngay phía trước mặt mình. Nàng khẽ tránh sang một bên, rồi đi vượt lên trên, nhưng chàng liền giơ tay ra như muốn chặn lại. Bực mình về cử-chỉ bạo-dạn ấy, nàng la lên: “Tránh ra! Từ trước đến giờ, chưa chàng trai nào dám chặn đường ta cả!”

 Chàng ôn-tồn trả lời: “Tôi là Sao Mai đây. Buổi sớm mai nọ, lúc trăng đẹp tươi như hoa, tôi đã thấy nàng ngủ trên bãi cỏ cạnh nhà tôi và tôi đã yêu nàng. Bây giờ tôi muốn nàng theo tôi về trời, về nhà cha tôi, nhà ông Mặt Trời. Tại đó, chúng mình sẽ vui sống an-hoà.”

 Chàng Sao Mai cao lớn, thân hình ngay-ngắn, tóc dài óng-ả có cài một nhánh lông chim màu vàng. Chàng cầm một cành cây đỗ-tùng (juniper branch), đầu cành có treo cái mạng nhện. Chàng mặc áo đẹp bằng da thú đã thuộc mềm và toả ngát mùi hương của gỗ thông và cỏ thơm.

 Nàng Lông Vũ chạnh nhớ tới vẻ đẹp của chàng trai trên bầu trời vào một buổi sáng nọ đầu mùa hạ, tim nàng lại thổn-thức mến yêu. Nàng muốn đi theo chàng, song còn ngần-ngại., nàng nói: “Tôi phải về thưa với cha mẹ tôi trước đã.”

Sao Mai đáp: “Không, không được nói cho ai hay. Không được nói cho ai hay em sẽ đi đâu!”. Rồi chàng trao cho nàng cành cây đỗ-tùng có cái mạng nhện, cài nhánh lông chim màu vàng lên mái tóc nàng, và dặn nàng lối đi: “Hãy nắm chặt sợi dây trên của mạng nhện, đặt chân lên sợi dây dưới. Giờ thì nhắm mắt lại!”

 Chàng dẫn nàng đi, đến khi nàng mở mắt ra thì vừa hay hai người đã lên tới trời, và đang đứng trước một căn lều rộng-rãi.

 Sao Mai nói: “Đây là nhà cha mẹ tôi, nhà ông Mặt Trời và bà Mặt Trăng. Em vào đi, mẹ tôi đón em trong ấy!”

 Bấy giờ là ban ngày, ông Mặt Trời còn đang rong-ruổi đường xa, nhưng bà Mặt Trăng thì ở nhà. Sao Mai thưa với mẹ: “Đêm nọ, dưới ánh trăng đẹp tươi như hoa, con đã thấy cô gái này ngủ trên bãi cỏ. Con yêu nàng và mang nàng về nhà làm vợ con.”

 

Bà Mặt Trăng đón nàng Lông Vũ, coi nàng như con gái. Đến tối, chúa tể Mặt Trời trở về, ông cũng đón tiếp nàng niềm-nở như thế. Bà Mặt Trăng mặc cho nàng chiếc áo bằng da hoẵng đã thuộc mềm, có trang-điểm những răng nai rừng, và tặng cho nàng đôi xuyến bằng răng nai, lại thêm một tấm áo choàng bằng da hươu với phấn màu linh-thiêng. Bà nói: “Mẹ cho con những tặng-vật này vì con đã làm vợ con trai mẹ.”

 

Nàng Lông Vũ sống với Sao Mai hạnh-phúc trên trời, và học được nhiều điều. Khi nàng sinh con đầu lòng, hai vợ chồng đặt tên cho nó là Thằng Sao (Star Boy).

 

Rồi bà Mặt Trăng trao cho nàng Lông Vũ một cái xẻng đào rễ cây, bà nói: “Chỉ có người đàn bà nào trong sạch mới được dùng cái này. Con có thể dùng cái xẻng này mà đào mọi thứ rễ, nhưng mẹ báo trước rằng con không được đào rễ cái cây cải bự kia ở gần nhà ông Nhện. Con đã có con rồi. Đào bật rễ ấy lên là chúng ta hết thảy đều xui-xẻo đó!”

 

Đi đâu nàng Lông Vũ cũng mang theo con và cái xẻng. Nàng vẫn thấy cái cây cải bự kia, nhưng lại sợ chẳng dám đụng tới. Một hôm, đi ngang qua, nàng nghĩ tới lời lẽ bí-hiểm mà bà Mặt Trăng đã dặn-dò mình trước đây, nên tò-mò muốn biết bên dưới ấy ra sao. Đặt đứa bé xuống đất, nàng đào xới cho tới lúc cái xẻng cắm chặt trong lòng đất, không sao rút lên được.

 

Thấy hai con hạc bự bay trên đỉnh đầu, nàng gọi chúng giúp đỡ. Gọi cả ba lần đều thất-vọng cả ba. Đến lần thứ tư thì chúng lượn vòng rồi đậu xuống cạnh nàng. Con hạc trống ngồi bên này cây cải, còn vợ nó thì ngồi phía bên kia. Con hạc trống quặp chặt cái mỏ dài nhọn hoắt vào cây cải, rồi nó lay qua lay lại, vừa lay vừa hát bài ca bùa chú:

“Rễ này là rễ thần thiêng,

Đào đâu rễ cũng thiêng-liêng coi chừng!”

 

Nó lập đi lập lại bài ca bốn lần, quay về bốn hướng: nam, bắc, đông, tây. Xong bốn lần thì nhổ được cây cải lên.

 

Nàng Lông Vũ nhìn xuống qua hố sâu vừa đào, thì thấy bên dưới là trái đất rộng. Nàng có biết đâu rằng chính cây cải đã lấp kín hố này sau khi Sao Mai đã mang nàng đi chui qua hố ấy để về trời. Ở duới xa xa nữa, nàng thấy trại lều của dân Blackfeet nơi nàng đã từng quen sống trước đây. Nàng thấy cả những chàng trai trẻ đang chơi đùa. Nàng thấy cả những phụ-nữ đang thuộc da, dựng lều, hái trái trên đồi, băng qua những đồng cỏ, tới sông kín nước. Nàng ngồi lâu lắm, đăm-chiêu nhìn cảnh gia-đình xưa. Trở về lều, nàng vừa đi vừa khóc. Nàng thấy cô-đơn, và vọng nhớ về quê cũ vớí những đồng cỏ xanh mướt, với dân làng thân yêu.

 

Về tới lều, nàng thấy hai mẹ con Sao Mai đang chờ mình. Thoạt thấy vợ, Sao Mai lên tiếng: “Mình nhổ rễ cây thiêng-liêng mất rồi!”  Thấy nàng im-lặng, Mặt Trăng tiếp lời: “Mẹ đã dặn con không được đào cây cải ấy lên. Mẹ thương thằng Sao, mẹ chẳng muốn đi với nó.”

 

Chẳng ai nói thêm một lời, vì bấy giờ là ban ngày, ông chúa tể Mặt Trời vẫn còn rong-ruổi đường xa. Tối về, vừa bước vào lều, ông đã hỏi ngay: “Có chuyện gì thế, con gái? Trông con có vẻ buồn, dường như con có điều gì băn-khoăn?”

- Dạ vâng, con nhớ nhà. Hôm nay con đã  nhìn xuống thấy dân làng của con.

 

Ông chú tể Mặt Trời cả giận, nói với Sao Mai: “Nó đã không vâng lời, thì phải phú nó về!”

 

Bà Mặt Trăng cố gắng vuốt cơn giận của ông Mặt Trời, nhưng ông lại nói tiếp: “Nó phải trở về với dân làng của nó. Nó không được chung hưởng hạnh-phúc với chúng ta nữa.”

 

Vì thế Sao Mai dẫn nàng Lông Vũ đến nhà ông Nhện, mà từ đó mạng nhện của ông đã kéo nàng lên trời trước kia. Chàng đội cho nàng chiếc nón bùa thiêng. Nón này chỉ có người đàn bà trong sạch mới được đội mà thôi. Chàng đặt thằng Sao vào lòng nàng, lấy áo da hươu quấn cả hai mẹ con lại rồi chào từ-biệt.

 

Ông Nhện cẩn-thận đem họ chui qua cái hố ấy xuống mặt đất. Bấy giờ là buổi chiều giữa mùa Hạ, đang tuần trăng, và những trái sim đang bắt đầu chín mọng, nàng Lông Vũ trở về với dân-chúng. Nàng sống với cha mẹ mình mà chẳng bao giờ thấy hạnh-phúc. Thường thường nàng mang theo thằng Sao lên đỉnh núi ngồi nhớ tiếc chồng. Một đêm kia, nàng ngồi một mình bên sườn núi. Trước khi trời tảng sáng, khi Sao mai đã lên khỏi cánh đồng, nàng xin chồng cho nàng quay về trời. Nhưng chàng từ-chối: “Em đã không vâng lời, nên không thể quay về trời được. Tội của em là nguyên-cớ làm cho em khổ đau, đem phiền-muộn đến cho em và cho nhân-dân của em.”

 

Sau đó, chẳng mấy tuần trăng, nàng Lông Vũ chết. Rồi cha mẹ nàng cũng chết. Còn lại có mình thằng Sao. Nó nghèo đến nỗi không có áo mặc, ngay cả giầy da hươu cũng chẳng có. Nó xấu-hổ chẳng dám chơi với các bạn trẻ khác. Khi dân Blackfeet nhổ trại, nó sợ đi theo họ vì bị các trẻ kia ném đá và ăn hiếp. Lúc lớn lên, nó hiểu ngay rằng vết sẹo bí-hiểm trên mặt nó càng đáng chú-ý hơn. Ai cũng chế-nhạo trêu ghẹo nó, gọi nó là thằng Sẹo Mặt (Scarface).

 

Khi thằng Sao đã thành người lớn, nó yêu một cô gái trong dân Blackfeet, cô gái đẹp của một ông đoàn-trưởng vai vế. Thằng Sẹo Mặt – vì cô ta quen gọi như vậy - tặng cho cô một món quà với lời cầu hôn. Cô ta khinh-khỉnh trả lời không chịu, trừ phi không còn vết sẹo kia trên trán nó nữa.

 

Quá thiểu-não, thằng Sao đi hỏi ý một bà lão thầy bùa, là bạn duy-nhất của nó. Bà lão bảo: “Vết sẹo trên mặt ngươi là do ông chúa tể Mặt Trời, ông nội ngươi, đã khắc lên, chỉ mình ông ấy mới có thể xoá đi được.”

 

Thế rồi thằng Sao quyết-định lên trời, tới nhà ông Mặt Trời. Bà lão thầy bùa làm cho nó đôi giầy da hươu, cho nó ít ruốc chà bông.

 

Thằng Sao một mình lặn-lội, băng đồng, leo núi, sau cùng nó gặp một con sông lớn hướng về phía mặt trời lặn. Đã ba ngày ba đêm nó ở bên sông ăn chay cầu-nguyện chúa tể Mặt Trời. Sang đến chiều ngày thứ tư, nó thấy một con đường mòn rực sáng vắt ngang sông. Nó cứ theo con đường này mà đi. Khi tới gần nhà ông Mặt Trời, nó đứng núp chờ đợi. Sáng hôm sau, khi ông Mặt Trời bước ra khỏi lều, sẵn-sàng lên đường xa rong-ruổi, chợt thấy thằng Sao xuất-hiện, ông nội nó chẳng thèm nhận ra nó, lại còn nổi giận tơi-bời vì thoạt thấy người từ trái đất đi lên. Nhưng bà Mặt Trăng đã can ngăn.

 

Sao Mai bây giờ trông vẫn còn trẻ đẹp. Chàng đốt cỏ thơm làm nhang và để con mình ngồi xông khói hương thiêng. Nghe thằng Sao kể chuyện chỉ vì bị người yêu khước-từ mà nó phải lặn-lội đường xa tới đây, cha nó buồn thương cho số phận nó, và hiểu rằng tại sao mặt nó trông buồn thiu và tiều-tuỵ như thế. Sao Mai hứa với nó: “Cha sẽ giúp con.”

 

Thằng Sao sống với Sao Mai tại nhà ông bà Mặt Trời, Mặt Trăng. Một hôm, cả nhà đi săn, nó đã cứu sống cha nó. Nó đã giết bảy con chim khổng-lồ hung-ác toan giết chết Sao mai. Cả ba người đều biết ơn nó. Lời kêu xin của cha nó đã thuyết-phục được ông Mặt Trời xoá bỏ vết sẹo trên mặt nó.

Xoá xong rồi, ông Mặt Trời nói với thằng Sao: “Ông sẽ cho cháu làm sứ-giả thông-tin cho dân Blackfeet. Cháu hãy bảo cho chúng biết rằng: ông sẽ chữa cho kẻ ốm đau được lành-mạnh nếu hằng năm chúng cử-hành đại-lễ vinh-tôn ông.”

 

Rồi ông dạy thằng Sao tất cả những mầu-nhiệm của ngày lễ Sun Dance và dạy nó cầu-nguyện ra sao, hát những bài ca nào. Ông cho thằng Sao đeo hai nhánh lông quạ đen làm sứ-giả của Mặt Trời xuống trái đất, và cho cả một chiếc áo choàng bằng da hươu thuộc mềm. Ông nói: “Chỉ có người đàn bà tốt lành, đức-hạnh mới được khoác áo choàng này. Người ấy sẽ chủ lễ Sun Dance, và kẻ đau ốm sẽ được khỏi bệnh.” Sao Mai cho con chàng một cái sáo thần và một bài ca tuyệt-diệu. Chàng nói: “Với những thứ này, con có thể mê-hoặc được trái tim của người yêu.”

 

Thằng Sao đi đường tắt theo giòng sông Ngân để trở về trái đất và lều trại của dân Blackfeet. Nó dạy cho dân làng biết về lễ Sun Dance y như ông nội nó đã dạy bảo. Nó chiếm được trái tim người yêu đúng như cha nó là Sao Mai đã tiên-báo.

 

Về sau, ông Mặt Trời đem cả hai vợ chồng nó lên trời. Ông cho thằng Sao được nên đẹp-đẽ sáng-láng y hệt như cha nó. Mỗi khi Sao Mai và con chàng xuất-hiện ở phía đông lúc sớm mai, dân-chúng Blackfeet cứ nhầm lẫn hai người với nhau. Vì thế, họ thường gọi ngôi sao con bằng một tên gọi có nghĩa là “Sao Mai Trộn Không Lẫn” (Mistake Morning Star).

 

Còn ngôi sao đứng yên kia, ngôi sao ở phương Bắc đó, chính là cái hố trên trời, mà chính từ đó, nàng Lông Vũ đã được kéo chui qua để lên trời và trở lại xuống đất. Ánh sáng của ngôi sao này là do ánh sáng từ nhà ông Mặt Trời rọi tới. Những ngôi sao xếp vòng cánh cung ở hướng đông kia, chính là nhà ông Nhện. Mỗi khi bạn gặp những hòn đá chôn vùi phân nửa trên những cánh đồng, đấy chính là những hòn đá trước đây được dùng để đè chặn các vách lều trại của dân Blackfeet, bạn sẽ hiểu được tại sao tổ-tiên chúng tôi lại gọi vòng sao cánh cung kia là  “nhà của ông Nhện”.

 

Những tặng-vật nàng Lông Vũ mang từ trời xuống vốn được dùng trong lễ Sun Dance đầu tiên và được dùng đi dùng lại từ bấy lâu nay. Cái nón bùa thiêng, cái áo trang-điểm răng hươu, cái xẻng đào cây cải bự, cỏ thơm làm nhang, những cái nĩa cời than hồng khỏi bếp lửa, tất cả những thứ ấy, bao giờ bà thầy cũng dùng trong lễ khấn nguyện, và bà giữ-gìn cẩn-thận cho tới ngày hội lễ năm sau. Đây là những vật linh-thiêng trong ngày lễ Sun Dance. Những vật ấy đem từ nhà Mặt Trời xuống để chúng tôi vinh-tôn trong ngày đại-lễ của chúng tôi. (6)

 

kết-luận

 

Một thần-thoại huyền-diệu, trữ-tình, nên thơ mà cũng hiện-thực làm ta chợt liên-tưởng tới hình-ảnh của người thôn-nữ Việt-Nam một đêm trăng nọ trong ca-dao:

Đêm qua ra đứng bờ ao,

Trông cá, cá lặn; trông sao, sao mờ.

Buồn trông con nhện giăng tơ,

Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?

Buồn trông chênh-chếch sao mai,

Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?

 

Lòng tin ở Thần Tối Cao Mặt Trời, sự khẩn cầu Thiên-Nhiên, Mây, Gió, Nước, lại làm ta liên-tưởng tới Ông Trời, tới các thần “tứ pháp” (Pháp-Vân, Pháp-Vũ, Pháp-Lôi, Pháp-Điện) trong tín-ngưỡng của người dân Việt. Cảnh thằng Sao con của vợ chồng Sao Mai và Lông Vũ bị bọn trẻ bắt nạt, chế riễu, ăn hiếp đã cho ta từ chốn “Bồng-Lai tiên-cảnh” trở về với hiện-thực quen thuộc của thực-tại trần-thế.

 

Tình yêu trai gái, trật-tự tôn ti, cũng như lòng yêu thương, và nghĩa-vụ của mỗi phần-tử trong gia-đình: cha mẹ, vợ chồng, dâu, con, cùng tinh-thần kết-đoàn trong đời sống cộng-đồng vốn sinh hoạt có tổ-chức quây-quần quy-củ cũng như quan-niệm luân-lý của những người Indians giàu tưởng-tượng mà lại thực-tiễn này dường như phảng-phất đâu đây tâm-thức của người Á-Đông nói chung và của người Việt-Nam nói riêng. Đây là một xã-hội hữu thần mà nền văn-hoá của họ cũng có những nét tiếp-cận với nền văn-hoá Á-Đông ít nhiều còn ghi dấu ấn.

 

Lại cũng được biết, các nhà nhân-chủng-học ngày nay đều cho rằng những thổ-dân tiên-khởi ấy chính là những người đã từ miền Đông Bắc Á-châu xâm nhập Alaska vào Mĩ-Châu từ khoảng 30,000 năm trước, vào thời cuối cùng của thời-đại băng-hà. Ở thời-kỳ này, hầu hết các sông biển đều bị đóng băng, mực biển thấp hơn bây giờ, do đó, một dải đất liền đã bắc cầu nối hai lục-địa lại, nơi đó chính là eo biển Bering (Bering Strait) hiện nay, cứ tới mùa đông là đóng băng. (Collier’s Encyclopedia, vol. 12, Indian Americans. )

 

Hẳn nhiên khi lưu lạc tới một phương trời mới, cho dù xa thẳm đến đâu, tổ-tiên của những người gốc Á-Đông này đã mang theo văn-hoá của mình, và cho dù năm tháng trải dài hàng mấy chục ngàn năm, văn-hoá ấy vẫn được bảo-tồn luân-lưu muôn thế-hệ.

 

Điều này cho phép chúng ta suy nghĩ, có phải chăng đó là mẫu-số chung về cội nguồn chủng-tộc, văn-hoá, và người Việt hôm nay trong thực-tại của đất nước cũng như trong cuộc lưu-vong tản mát khắp nơi trên địa-cầu, liệu có làm được công việc duy-trì căn-tính và bảo-tồn văn-hoá cội nguồn để cũng lưu truyền lại cho muôn thế-hệ sau này như những người đã đi trước hay không?

 

-------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Cước-chú:

 

(1) Khi Columbus đặt chân lên miền Tân Thế-Giới, thì từ hàng ngàn năm trước đó, các lục-địa vùng Bắc và Nam Mĩ đã có những người từ Á-châu đến lập cư ở đây rồi. Khi Columbus tới Bahamas năm 1492, ông nghĩ  rằng mình đã tới các đảo ngoài khơi duyên hải Đông-Á, và cho đó là Indies rồi gọi các người dân ở đây là Indians. Kể từ đó, các nhà thám-hiểm dùng tên gọi này để chỉ tất cả các thổ-dân  của miền Tân Thế-Giới.

(2)     www.crystalinks.com/sundance.html

www.artisanatindien.com/blackfoot.html

 www.astronomy.pomona.edu/archeo/plains/plains;html

(2a) Among the Blackfoot, circa 1908 photo by Trueman, courtesy Library & Archieves Canada/C-14106 (www.thecanadianencyclopedia.com/index.cfm?PgNm=TCE&Params=A1ARTA0007786)

(2b) www.legendsofamerica.com/NA-Arapaho.html

(3)     Lời dẫn của Ella Elizabeth Clark tác-giả cuốn Indian Legends of Canada, ISBN:  0771021224, Pub. Date:  9/1/1991, Publisher(s): Random House Inc., trang 63, bài  “The Origin of the Sun Dance”.

(4)     Lời kể của một bô lão 82 tuổi vốn là thầy bùa của bộ-tộc Stoney, thuật trong sách đã dẫn, trang 133, bài “The Vision of the Chief Walking Buffalo”

(5)     Xem 1- sách đã dẫn

(6)     Xem 2, sách đã dẫn

(7)     Lời tường-thuật của dân Blackfeet, Ella Elizabeth sưu-tầm, Đỗ Quang-Vinh chuyển-ngữ từ bài “The Origin of the Sun Dance”, trang 62, sách đã dẫn.

 

 

Trở về Trang Chính