CUỘC ĐẤU LÝ SÔI NỔI

GIỮA KIM TRỌNG VÀ THUÝ-KIỀU

TRONG BUỔI ĐOÀN-VIÊN TÁI-NGỘ (1)

 



 

 

                       

Ta đã biết rõ nghệ-thuật đối-thoại qua cuộc đấu lý sôi nổi giữa quan toà Thuý Kiều và bị can Hoạn-Thư tiến lên tự bào-chữa, khiến quan toà phải tha bổng. Một cuộc tranh-luận khác cũng hùng-biện không kém giữa Kim-Trọng và Thuý Kiều về quan-niệm trinh tiết và hôn-nhân khi hai người tái-hợp.

1- Cuộc tranh-biện này gồm hai giai-đoạn. Giai-đoạn đầu, Thuý Kiều chịu thua. Giai-đoạn sau, phần thắng lại thuộc về Kiều.

            a) Giai-đoạn đầu

                        Tiệc đoàn-viên đã thấy „tàng tàng chén cúc dở say, đứng lên, Vân mới giãi bày một hai“. Cuộc tranh-luận Kim Kiều bắt đầu.

                        * Vân đề-xướng việc „đào non sớm liệu xe tơ kịp thì“, khuyên chị nên xe lại mối nhân duyên với Kim Trọng, Vân vừa „dứt lời, nàng vội gạt đi“, viện lẽ tấm thân giang-hồ nhơ-nhớp bấy nhiêu năm, nay thật xấu hổ, còn chi xứng đáng nữa, thà cứ để trôi sông, vậy mà hơn!

            „Một lời tuy có ước xưa,

            Xét mình dãi gió dầu mưa đã nhiều!

            Nói càng hổ thẹn trăm chiều,

            Thà cho ngọn nước thuỷ-triều chảy xuôi!“

 

                        *  Chàng Kim phản bác, viện lẽ đã thề sống thề chết với nhau, lời thề nguyền có đất trời chứng giám, mà nay bội thề thì sẽ mang tội với trời đất. Duyên trời xe định xui nên cuộc tái-ngộ này, vậy Trời đâu có phụ mối tình chung, sao lại nỡ chia đôi mà không tái-hợp nhân duyên?  

                        „Một lời đã trót thâm-giao,

                        Dưới dày có đất, trên cao có trời,

                        Dẫu rằøng vật đổi sao dời,

                        Tử-sinh phải giữ lấy lời tử sinh!

                        Duyên kia có phụ chi tình,

                        Mà toan chia gánh chung tình làm hai?”

 

 

*  Kiều cãi lý: Hôn-nhân quý trọng ở sự trinh tiết khác nào hoa thơm vẫn còn phong nhuỵ, trăng còn trong sáng như gương, vẫn tròn vành-vạnh chưa hề lẹm khuyết. Mà thiếp tự xét thấy mình quá ư xấu-xa đã để tấm thân này “đãi-đằng ong bướm”. Chữ trinh quý giá như thế, mà bày trò chăn gối ái-ân, há chẳng hổ thẹn với người tình năm xưa? Bao năm qua, trước những cơn dông tố phũ-phàng, hoa này tươi mấy cũng đã tàn, trăng này tròn mấy cũng đã khuyết, tấm thân cáu ghét (trần cấu) này đã thành nhơ-nhớp chẳng còn trinh, làm sao xứng đáng trở nên vợ hiền (bố-kinh). Thôi thì ở vậy, lấy chồng làm chi nữa! Còn nếu như chàng đặt nặng chữ tình, thì tại sao ta không thể đổi tình vợ chồâng ra tình bạn bè tri-kỷ?

“Nghĩ rằng trong đạo vợ chồâng,

Hoa thơm phong nhuỵ, trăng vòng tròn gương

Chữ trinh đáng giá ngàn vàng,

Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa.

Thiếp từ ngộ biến đến giờ,

Ong qua bướm lại đã thừa xót-xa.

Bấy chầy, gió táp mưa sa,

Mấy trăng cũng khuyết, mấy hoa cũng tàn.

Còn chi là cái hồng-nhan!

Đã xong thân-thế còn toan nỗi nào?

Nghĩ mình chẳng hổ mình sao?

                        Dám đem trần-cấu dự vào bố-kinh!

                        Đã hay chàng nặng vì tình,

                        Trông hoa đèn, chẳng thẹn mình lắùm ru!

                        Từ rày khép cửa phòng thu,

                        Chẳng tu thì cũng như tu mới là!

                        Chàng dù nghĩ đến tình xa,

                        Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ,

                        Nói chi kết tóc xe tơ,

                        Đã buồn cả ruột, lại dơ cả đời!”

 

                        * Kim Trọng cũng không vừa, chàng biện-lý: “Nàng bảo rằng khi lấy chồng, người vợ đáng quý ở chữ trinh. Đồng ý! Nhưng chấp kinh mà cũng phải tòng quyền. Tuỳ theo cảnh-ngộ mà quan-niệm “trinh” hay không? Như trường-hợp nàng đây, báo hiếu như vậy ấy cũng là trinh. Trinh như thế thì hoa dẫu tàn mà vẫn đẹp tươi hơn, trăng dẫu khuyết nhưng vẫn sáng như trăng rằm, còn sáng gấp mười lần năm xưa. Trùng-phùng như thế này, ấy là duyên trời số mệnh đưa đến, chẳng bụi nào làm hoen ố vẩn đục, nàng vẫn còn trinh hơn ai hết và hơn bao giờ hết, sương cũng phải tan cho hoa khoe tươi thắm, mây cũng phải vén lên cho trăng vằng-vặc sáng ngời. Chẳng lẽ nàng bắt Kim Trọng này cứ phải giả vờ hờ-hững với nàng, như xưa kia Tiêu-lang phải giả vờ lãnh-đạm với vợ là Lục-Châu khi nàng bị bắt làm vợ quan lớn Quách Tử Nghi hay sao?

            “Xưa nay trong đạo đàn bà,

            Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường.

            Có khi biến, có khi thường,

            Có quyền, nào phải một đường chấp kinh?

            Như nàng lấy hiếu làm trinh,

            Bụi nào cho đục được mình ấy vay?

            Trời còn để có hôm nay,

            Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời.

            Hoa tàn mà lại thêm tươi,

            Trăng tàn mà lại hơn mười năm xưa.

            Có điều chi nữa mà ngờ,

            Khách qua đường để hững-hờ chàng Tiêu?”

Kim Trọng biện-bác “hết lời” khiến Kiều “khôn lẽ chối lời”, đành phải chấp-nhận “cúi đầu, nàng những vắn dài thở-than”. Và lễ cưới cử-hành. Nhưng trong đêm động phòng, nàng trở lại cuộc tranh-biện ban sáng, vẫn lập lại chủ-trương không chấp-nhận chuyện vợ chồng ăn nằm ái-ân, vẫn nghĩ rằng: “riêng lòng đã thẹn lắm thay, cũng là mặt dạn mày dày, khó coi!”

            b) Giai-đoạn cuối

                        * Kiều biện-luận:

                        Chỉ vì tình xưa nghĩa cũ, chiều lòng chàng, thiếp đành ưng làm lễ cưới, dẫu ít ra cũng chỉ là trên danh nghĩa hình-thức bề ngoài mà thôi, cho nên chuyệân âu-yếm vành ngoài thì còn tạm được, chứ chuyện ăn nằm chăn gối thì không thể, vì hương dưới đất ai mà vớt lên, hoa cuối mùa đã héo tàn ai mà bẻ ngắt, làm sao ưa đuợc? Mà một khi đã không ưa sẽ thành ai-oán, yêu thành thù hận; khi ấy thì yêu nhau một lại thành phụ nhau mười. Hơn nữa việc cửa nhà sau này, chuyện cần thêm con cái, thì đã có em Vân nó là đủ rồi. Bây giờ chỉ còn một chút lòng tự-trọng này, sao chẳng giữ-gìn bảo-tồn cho thêm bền vững, lại bày trò ái-ân cho tan mất đi?

                        “Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi,

                        Chiều lòng gọi có xướng tuỳ mảy may.

                        Riêng lòng đã thẹn lắm thay,

                        Cũng là mặt dạn mày dày khó coi!

                        Những như âu-yếm vành ngoài,

                        Còn toan mở mặt với người cho qua.

                        Lại như những thói người ta,

                        Vớt hương dưới đất, bẻ hoa cuối mùa.

                        Khéo là giở nhuốc bày trò,

                        Còn tình đâu nữa là thù đấy thôi!

                        Người yêu, ta xấu với người,

                        Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau.

                        Cửa nhà dù tính về sau,

                        Thì còn em đó, lọ là chi đây!

                        Chữ trinh còn một chút này,

                        Chẳng cầm cho vững, lại giày cho tan!

                        Còn nhiều ân ái chan chan,

                        Hay gì vầy cái hoa tàn mà chơi?”

            * Kim Trọng thua cuộc, bèn nói đưa đẩy:

·           Vì nghĩ rằng đã nặng lời thề nguyền với nhau, đã liều sống chết mà tìm nhau, lại nghĩ rằng nàng còn trẻ-trung như tơ liễu còn xanh thì chưa thể thoát vòng ái-ân, cho nên mới ngỏ lời như thế để bày tỏ lòng vẫn còn tha-thiết yêu thương.

·           Tìm nàng khó-khăn như mò kim dưới đáy bể, công-trình tìm kiếm bấy lâu cũng chỉ là vì lời thề vàng đá, nào đâu có phải vì chuyện trăng hoa!

·           Nay nàng đã nói thế, thì cũng phải công-nhận rằng tình vợ chồng không cứ phải chuyện chung chạ gốâi chăn, bây giờ đã hợp lại một nhà, thì thuận theo ý nàng, cũng sẵn lòng đổâi tình vợ chồng ra tình bạn-bè tri kỷ:

                        “Xót người lưu-lạc bấy lâu,

                        Tưởng thề-thốt nặng, cũng đau-đớn nhiều.

                        Thương nhau sinh tử đã liều,

                        Gặëp nhau còøn chút bấy nhiêu là tình.

                        Chừng xuân tơ liễu còn xanh,

                        Nghĩ rằøng chưa thoát khỏi vành ái ân.

                        Gương trong chẳng chút bụi trần.

                        Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm.

                        Bấy lâu đáy bể mò kim,

                        Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa?

                        Ai ngờ lại hợp một nhà,

                        Lọï là chăn gối mới ra sắt cầm!”

2- Phân-tích cuộc tranh cãi này, ta nhận-định:

            a) Kiều biện hộ dựa trên sự tự phản-tỉnh.

                        Ở nàng ta thấy hai tiếng nói, một của lý-trí và một của con tim. Con người lý-trí bắt nàng phải tự (mình) xét mình: đem con người lý-trí ra để phán xét con người thực-tại mà con tim và hoàn cảnh đã đẩy đưa. Xét như vậy thì cảm thấy hổâ-thẹn cho lương-tâm, cho tâm-hồn, cho con người duy-lý của mình. Mặt khác, trong giai-đoạn cuối của cuộc tranh-luận, con người tình-cảm của xác thịt chùn bước, tạm đành chấp nhận chuyện “âu-yếm vành ngoài”; “tạm và chùn bước” chứ không lùi bước, vì Kiều vẫn một mực tiến lên, khăng-khăng giữ vững lập-trường, phủ-nhận chuyện chăn gối ái-ân.

            b) Sự biện hộ ấy dựa trên quan-điểm duy-vật, nhìn sự việc dưới khía cạnh vật-chất, sinh-lý hay xác thịt. Xét như vậy thì Kiều bảo rằng Kiều không xứng đáng vì tấm thân “trần cấu” dơ- dáng nhớp-nhơ.

            c) Kiều tôn thờ mối tình đầu thiêng liêng cao quý. Nàng trân trọng cất giữ mối tình này trong điện-đài tâm tư của mình, nên muốn cứ tiếp-tục gìn-giữ như buổåi ban đầu cho vẫn đẹp tươi, nguy-nga, lộng-lẫy. Ở điểm này, Kiều ngả sang có phần duy tâm, coi tinh thần làm trọng.

            d) Và vì vậy, không hoàn-toàn đoạn-tuyệt, Kiều theo quan niệm trung-dung, vừa duy-vật, vừa duy-tâm, điều-hoà lý-tri và tình-cảm, vẫn vợ chồng trên danh nghĩa, nhưng không thực sự vợ chồng theo cái nhìn duy-vật sinh-lý, thoả mãn xác thịt, mà vẫn “ân ái chan chan” theo nghĩa bầu bạn tương-tri. Nghĩa là vẫn yêu tha-thiếùt nhưng yêu bằng tình yêu cao cả, hy-sinh những đòi hỏi xác thịt, hy sinh cái bản ngã, cái “ta” của mình, hy-sinh dục-vọng, ham muốn nhục-dục.            

                        Như vậy sự dung-hoà giữa duy-vật và duy-tâm ở đây cho thấy Kiều đã phân-biệt tình ái với tình dục, trinh nguyên với trinh-tiết. Với cái nhìn trinh nguyên, khi thất thân coi là mất trinh. Với quan-niêm trinh-tiết, thì tuy mất trinh nhưng vẫn còn tiết, vẫn giữ được lòng ngay thẳng, vẫn giữ đượïc cái TÂM cao thượng và cao đẹp, cao thượng ở chỗ quên mình vì người, không ích-kỷ nhưng vị tha, không chấp ngã nhưng xả kỷ vì quyền lợi hạnh phúc của tha-nhân hơn là vì thỏa-mãn ước-vọng riêng của mình.

                        Bàn thêm về trinh tiết, vợ chồng ăn ở với nhau mà ngoại-tình là không giữ tiết thuỷ-chung. Đôi bạn trẻ bảo rằng yêu nhau, tuy vẫn giữ trinh nguyên thân xác, nhưng lòng lại rẽ lối muôn phương mà ngoạïi-tình trong tâm-tưởng, như vậy sao bảo là trinh? Tuy còn trinh về thể-chất nhưng không còn trinh trong tâm hồn, như vậy là thất tiết. Nguyễn-Khuyến đã nói về cái tiết ấy như thế này:

                        “Ngoại mạo bất cầu như mĩ-ngọc,

                        Tâm trung thường thủ tự kiên kim”

Trong tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên, Giải-thị, vợ của Thiết Đình Quý, đang có mang mà buộc phải lấy tướng giặc Hoá-Long để bảo toàn dòng-dõi nhà chồng, đếùn khi con đã khôn lớn, Giải-Thị lấy đầu tướng giặc để tế chồng, rồi gieo mình xuốâng sông tự-vẫn, hầu vẹn tiết thuỷ-chung với chồng. Đấy là trinh tiết. Thất trinh vì cảnh-ngộ mà tòng quyền, buộc phải thất thân nhưng vẫn còn “tình ái”, lòng vẫn còn tràn đầy yêu thương, lòng vẫn còn trinh vì vẫn giữ tiết, vẫn không “tà-dâm”, vẫn còn giữ được cái “Tâm” trong sạch cao quý, tâm vẫn còn hướùng vềâ người tình của mình, vì chính “chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài” theo lời tác-giả, và đúng như đạo-cô Tam-Hợp đã nói về Kiều:

                        “Xét trong tội-nghiệp Thuý-Kiều,

                        Mắc điều tình-ái khỏi điều tà-dâm”

            e) Còn chàng Kim, cái gọi là “sự hùng biện” của chàng có phần nguỵ biện, đó là theo thiển-nghĩ.

                        * Chàng cũng đứng trên duy-tâm mà phi-bác. Chàng nói: trinh có ba bảy đường, không cứ phải thất thân mới là không còn trinh. Giữ trinh ấy là chấp kinh. Nhưng như nàng đây, cho dù đã sa vào cảnh đoạ-đầy, thân xác không còn trinh nguyên, nhưng chỉ là vì hoàn cảnh đẩy xô, buộc phải tòng quyềøn, chỉ vì chữ hiếu mà nên nông-nỗi, như vậy là đã lấy hiếu làm trinh. Thế nghĩa là chàng cũng phân-biệt trinh nguyên với trinh-tiết, công-nhận Kiều không còn trinh nguyên thân-thể, nhưng tâm hồn vẫn còn giữ được tiết trinh.  Thế thì chàng cũng đồng quan-điểm với Kiều, nhưng chàng nguỵ-biện kết-luận rằng: vì Kiều vẫn còn trinh như thế, cho nên không việc gì mà phải lấy làm hổ thẹn khi xe duyên lại với nhau. Sự nguỵ-biện này, nói theo nôm-na của ngôn-ngữ bình-dân  tức là “cãi chầy, cãi cối”, chắc hẳn không làm Kiều vừa ý, nhưng vì liền sau đó, Kim Trọng dùng sở-đoản, hạ-sách, đánh mạnh vào mặt tình-cảm, bởi chàng biết rõ hơn ai hết, Kiều là con người đa tình đa cảm, nhu-nhược, nhẹ dạ,ï cả nể, cả tin, nên chàng đem chuyệïn vợ chồng Tiêu- lang, Châu-Lục ra để làm lung-lạc ý-định của Kiều. Khi nghĩ đến nỗi đau khổ suốt đời Tiêu-lang phải cắn răng giả vờ hờ-hững với vợ mình, mà chàng Kim cũng như Tiêu-lang kia, hẳn phải cay đắng xót-xa thì thật đáng thương biết chừng nào! Chúng tôi nghĩ, đốt giai-đoạn đầu tiên này, thấy Kim nói thế thì Kiều mủi lòng hơn là đã chịu khuất-phục về những luận-bác của chàng. Ta biết rằng bản-tính của nàng vốn dễ mủi lòng thương như đã thấy khi nàng viếng mộ Đạm-Tiên, khi khuyên Từ-Hải ra hàng. Thật vậy, Kiều còn ấm-ức chưa thoả-mãn lý-lẽ của chàng nên chỉ “cúi đầu, nàng những vắn dài thở-than”. Kiều chưa chấp-nhận chàng Kim như một vài học-giả đã nhận-định đó là do “tài hùng biện của Kim trọng” (xem “Truyện Kiều Và Tuổi Trẻ” của Lê Hữu-Mục, Phạm thị-Nhung, Đặng Quốc-Cơ, Làng Văn, 1989, trang 509). Vì còn ấm ức, cho nên đêm tân-hôn, nàng trở lại tranh-cãi nữa, và vẫn một quan-điểm như đã phân-tích bên trên, cuối cùng Kim Trọng đành “đánh trống lảng chữa thẹn” mà thanh-minh rằng:

                        “Bấy lâu đáy bể mò kim,

                        Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa?”

Chàng không có ý muốn “trăng hoa” mà chỉ vì nặng tình trọng nghĩa, không quên lời thề. Kim-Trọng thua cuộc, không những chịu khuất-phục mà còn khâm phục kính-nể Kiều. Như thế sao bảo được rằng Kim-Trọng hùng-biện? Lời khen này thiết-tưởng nên dành cho Kiều, có lẽ công-bằng hơn. Chính sự khâm-phục kính-nể này đã làm vui lòng Kiều khiến, liền ngay sau đó, nàng trịnh-trọng đứng lên cảm tạ Đất Trời, cảm ơn người tình năm cũ:

                        “Nghe lời sửa áo, cài trâm,

                        Khấu đầu, lạy tạ cao thâm nghìn trùng.

                        Thân tàn gạn đục, khơi trong,

                        Là nhờ quân-tử khác lòng người ta.

                        Mấy lời tâm-phúc ruột-rà,

                        Tương-tri dường ấy, mới là tương-tri!

                        Chở-che đùm bọc thiếu chi,

                        Trăm năm danh-tiết cũng vì đêm nay!”

            Và đến đây thì ta thấy rõ thêm một điều, Nguyễn-Du muốn truyền-đạt sứ-điệp qua tiếng nói Thuý-Kiều, một sứ-điệp mang tính hiện-đại: tình yêu trong hôn nhân không hẳn chỉ là tình yêu của xác thịt, của dục-tình. Khác với ái tình, tình dục chỉ là phương-tiện củng-cố cho tình yêu hôn-nhân, không thể là căn-nguyên và bản-chất làm nên tình yêu hôn-nhân. Tình yêu đích thực và cao cả, trên hết phải là tình yêu đặt trên sự tương-kính, cảm-thông, hoà-hợp và hy-sinh cho nhau, trên hết phải bắt đầu bằøng tình bạn tương-giao tri-kỷ. Vì có tương-tri mới có sự hài-hoà, nhường nhịn, quên mình mà mưu cầu hạnh-phúc cho nhau, không trống đánh xuôi kèn thổi nguợc, đúng như tổ-tiên vẫân nói: „Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn“. Có tương-kính thì mới biết lắng nghe người yêu mà không tự-ái, kiêu-căng, không độc-đoán, chống đối hoặc vũ-phu. Với Mã giám-sinh, ái-tình là tình dục cưỡng ép, với Thúc sinh là tình yêu của nhân-tình nhân-ngãi có tính toán lợi-dụng, nặng tính xác thịt đam mê vị kỷ hơn là can-đảm nhận lấy trách-nhiệm và hy-sinh chia sẻ theo đúng nghĩa vợ chồng. Với Từ-Hải thì thực sự là tình nghĩa vợ chồng trong thực-tại, có yêu thương, có hy-sinh, có tương-kính. Nhưng với Kim-Trọng thì cao quý hơn, vừa lãng-mạn sôi nổi, vừa nghiêm-trang đoan-chính, vừa có cái nồng-nhiệt của con tim, vừa có cái duy lý của tình yêu cao-siêu vị tha hoàn-toàn, hy-sinh tất cả cho những người mình đã yêu thương, yêu gia-đình, yêu tình-quân, yêu hết mọi người, không muốn làm hạnh-phúc của người, nhất là của người mình yêu thương, phải bị vẩn đục sứt mẻ, phải canh cánh bực dọc, yêu trong mưu cầu an-bình, bởi không có bình-an thì không có hạnh-phúc, không có hài-hoà vị tha thì không có hoà-bình. Hơn ai hết Kiều đã nếm giấm đắng của cảnh chồng chung, đã kinh-nghiệm sự xâm lấn ái-ân vào hạnh-phúc của nguời, gây nên biết bao đau-khổ, không phải cho riêng mình, mà cả cho mọi người. Đây là một tình yêu thăng hoa…

 

Tắt một lời, có thể nói Kiều đắc-thắng. Chính Kiều hùng-biện, chứ không phải chàng Kim. Chàng Kim đuối lý, nguỵ-biện, cho nên cuối cùng đã thất-bại. Kiều lập-luận có cơ-sở, lập-trường nhất-quán. Kim biện-luận quanh-co xoay chiều đổi hướng. Với lập-luận vững-vàng, Kiều đã đề-xuất quan-niệm thật hiện-đại về „tình yêu và hôn-nhân“. Kiều, hơn bao giờ hết, đến phút chót, vẫn còn lập lại quan-niệm về trinh-nguyên và trinh-tiết, lấy cái cái tiết-tháo, danh dư, tự-trọng làm cơ-sở cho tình yêu và hôn-nhân.

 

 

 

-------------------------------------------------------------

(1)       trích „Bút-Thuật Của Nguyễn-Du Trong Đoạn-Trường Tân-Thanh“ cùng tác-giả, Toronto, 2003.

 

Ý kiến, phê bình xin gửi về: doquangvinh@khoahoc.net

 

 

Trở về Trang Chính