TẾT TRONG TRUYỀN-THỐNG

VĂN-HOÁ VIỆT


 



 

 

Abstract: On the first days of the lunar year, Vietnamese people celebrate Happy New Year and call it “TẾT”. Etimologically speaking, the term has its roots and reflects the peculiarity of Vietnamese culture. Talking about TẾT, people evidently think of Vietnam. TẾT is a particular occasion devoted to ancestors worship, family gathering, and friendship, TẾT is, thus, a solemn and sacred celebration. This is an opportunity to restore the harmony with the Nature, the living and the dead. This is a moment to recall the past and to look forward a rosy future, pushing out anxiety, forgetting animosity, and nourishing hopes. For that reason, TẾT without firecrackers, without red and yellow abricot blossoms, without “bánh chưng, bánh tét” would not be TẾT at all.

 

Beside many interesting customs, some superstitious habits still persist. Anyway, all of these are the essential characteristics of TẾT. Because of many distinguished cultural aspects of TẾT festivities, it is more appropriate to call it Lunar New Year  instead of Chinese New Year as usually refered to.

 

*  *

*

Ăn mừng đón Xuân những ngày đầu năm mới theo tục-lệ cổ-truyền, người Việt-Nam gọi là Tết, và nói đến Tết là nghĩ ngay đến Việt-Nam, vì đó là tên gọi đặc-biệt riêng cho văn-hoá Việt. Như vậy Tết Việt-Nam hẳn phải có những ý-nghĩa, những nét riêng nên mới có tên gọi này.

 

I- XÁC-ĐỊNH TỪ-NGỮ

            Tại sao gọi là Tết? Nhà nọ nhắm xin con gái của nhà kia cho con trai của mình, không thể bỏ dịp ngày Tết để đi Sêu Tết nhà gái. Mang một mâm cau, trà bánh đến biếu nhà gái với ý muốn ”dấm” chỗ cho con trai, ấy là đi Sêu. Nhà nôm-học Lê-hữu-Mục, trong một bài khảo-luận dài, đã phân-tích và biện-chứng tỉ-mỉ về từ Sêu Tết. (xem Thơ Văn Trên Đất Tuyết, Văn Bút VN Hải Ngoại-Trung Tâm Ontario 1997, trang 99-105). Ông viết:

            1- “Từ-ngữ Tết Sêu là do Tiết-Liêu mà ra. Tiết Liêu là tên hoàng-tử thứ  9 của vua Hùng thứ 18. Chữ Liêu có âm nôm là seo, và chữ Tiết có âm nôm là tét...Từ Tết của ta do từ tét và bây giờ ta còn hiểu là một thứ bánh chưng làm theo hình trụ còn rất thông dụng ở miền Trung là vùng vẫn lưu-trữ được ngôn-ngữ cổ của tiếng Việt”. Trong số từ cổ đó, có từ tét tuy đã biến khỏi ngữ-vựng của người miền Bắc với ý-nghĩa là bánh, nhưng vẫn tồn-tại với tính-cách động-từ trong ngữ tét bánh chưng, tức là dùng dây gói bánh để cắt bánh...Chữ bánh chưng là một từ hán được các hán nho thêm vào để nói về cách nấu bánh tét. Bánh chưng bánh giầy đúng ra là bánh tét bánh giầy. Các hán nho vì sính lễ-nghĩa của Trung-hoa, không muốn dùng từ tét của quần-chúng vì nó thô-tục... Thần nhân dạy Tiết Liêu làm bánh tét bánh giầy (bánh tét hình trụ, bánh giầy hình tròn) là thể hiện cái phong tục thờ cúng cái linga, tức là cái giống của người Việt mà bánh tét là một tượng-trưng, bởi vì “dĩ tắc thiên địa bao hàm vạn vật chi trạng, ngụ vạn vật phát dục chi ân” (nguyên bản hán-văn “Lĩnh Nam Chích Quái”, trang 15), tức là “để bắt chước hình-trạng trời đất bao hàm vạn vật”, ngụ ý “cái ơn trời đất phát dục vạn vật” hoặc để ngụ ý “công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ”. Nói phát dục hay nói sinh thành thì đều phải cần tới cái bánh tét đặt trên cái bánh giầy, chuyện mà cái bánh chưng dù vuông-vắn vĩ-đại đến đâu cũng không làm được. Vậy bánh tét bánh giầy diễn giải lòng hiếu của người Việt Nam cổ, lòng hiếu ấy cốt ở lưu truyền dòng dõi, hình thành trong việc lập gia đình và có con cái. Cho nên từ tét của ta là do từ Tét, tên của ông Hoàng mà lịch sử ghi là Tiết nhưng phải đọc theo nôm là Tét hay Tết.

            2- Chữ Liêu đọc âm là seo và sêu. Đây là một âm có thật trong Quốc âm thi tập, được viết bằng chữ nôm:

“Phú quý kơ-seo sương ngọn cỏ

Công danh tơ gửi, kiến cành hoè”

                                   (Quốc-Âm, 73)

Chữ  kơ-seo (thế-kỷ XV) đến thế-kỷ XVII đọc thành kseo, sang thế kỷ XVIII-XIX đọc là seo. nghĩa là khô. Tên Tết Seo được đặt cho lang thứ  9 có thể chỉ là tên hiệu, diễn-tả vẻ gầy gò khô khan của chàng lang mồ côi mẹ, bị vua cha bạc đãi nên phải sống nghèo nàn, thiếu ăn thiếu mặc, chịu đói chịu rét, nên người mới tét đi và seo lại. Có thể về sau, cái tên không được đẹp này mới biến thể thành Tết Sêu.

            Đúng thế, ta vẫn thường nói vết thương đã seo lại, tức là vết thương không còn chảy nước vàng, sắp lành lại vì đã đóng vẩy, đã khô lại.

            “Hiện nay, vì không hiểu rõ từ Tết, nhiều nhà văn-hoá đã gọi tất cả các ngày lễ hội là tết, ví dụ tết Trung Thu, tết Đoan Ngọ, tết Thanh Minh, tết Độc-Lập. Từ Tết chỉ được dùng vào ngày Tết Sêu nhật, ngày kỷ niệm thờ cúng tổ-tiên theo sáng kiến của Tết Sêu, và vì thế từ sêu chỉ đi đôi với từ tết, và từ Tết bao giờ cũng viết hoa để nhắc cho người Việt biết gốc tích của từ là lấy tên của Tết Sêu mà đặt theo, và chỉ có ngày cúng giỗ tổ-tiên vào ngày đầu năm để biểu lộ lòng hiếu với ông bà mới được gọi là ngày Tết.”

            Quả thực là như vậy, từ  TẾT chỉ riêng dùng cho ngày đại hội cúng giỗ tổ-tiên và vui chơi trong những ngày nguyên-đán, như dân gian vẫn thường nói: “năm hết Tết đến”  và “Tết cha Tết mẹ, Tết thầy”, hoặc:

“Tháng giêng ăn Tết ở nhà,

Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè”

Cho nên để phân biệt với những ngày hội lễ khác, người ta thêm vào danh từ “nguyên-đán” để chỉ danh ngày Tết là ngày lễ hội cổ-truyền đầu năm có tính cách trang-trọng thiêng liêng này.

 

II- Ý-NGHĨA CỦA TẾT NGUYÊN-ĐÁN

 

            Nguyên có nghĩa là bắt đầu, khởi sự một chu-kỳ mới. Đán là buổi sớm mai. Buổi sớm mai này bắt đầu từ lúc giao-thừa trong đêm trừ-tịch. Giao là truyền lại, thừa là tiếp nhận lấy. Trừ là xoá bỏ đi. Tịïch vừa có nghĩa là trừ bỏ như khi nói tịch ác để chỉ xua đuổi việc chẳng lành, vừa có nghĩa là ban đêm, buổi chiều như khi nói ánh tịch-dương. Đây là đêm cuối cùng xóa bỏ cái xấu của năm cũ để tiếp nhận năm mới tốt lành. Năm cũ ra đi, chuyển giao lại cho năm mới, chính thời-điểm này mang lại cho Tết vẻ trang-trọng và thiêng-liêng.

 

1- Trang-trọng vì đó là một thời mới bắt đầu. Một mùa Xuân canh tân đã đến, rũ sạch những tang thương của quá khứ để hướng tới ngày mai tươi đẹp, những ngày mai tràn trề hy-vọng với những ước mơ xán-lạn như sắc Xuân huy-hoàng. „Tống cựu nghinh tân“, người ta tiễn đưa năm cũ, đón mừng năm mới, bao nhiêu những khó-khăn thất bại trong năm cũ thì tống khứ đi, để chuẩn-bị đón lấy những may-mắn, tốt lành. Người ta hoạch-định tương lai, trông mong một năm mới khá hơn năm cũ, khoẻ mạnh hơn, dư dả hơn, thịnh-vượng hơn, hạnh-phúc hơn, cái gì cũng hơn cả. Bởi vậy gặp nhau là mở lời chúc mừng: „chúc buôn may bán đắt, tiền vào như nước, làm ăn phát đạt bằng năm bằng mười năm ngoái, chúc sống lâu trăm tuổi, chúc sức khoẻ dồi-dào, chúc vạn sự như ý, chúc thăng quan tiến chức, chúc đầu năm sinh con trai cuối năm sinh con gái v..v…“ Người ta gieo quẻ, coi bói, lấy tử-vi cho an lòng về kế-hoạch và những dự tính của mình cho tương lai. Ngưòi ta sơn phết, tẩy uế, trang-hoàng nhà cửa, mặc quần áo tươm-tất, ăn nói chững-chạc, mọi sự được chuẩn bị từ lâu chờ đón chúa Xuân như đón rước một thượng khách đặïc-biệt. Phiên chợ Tết ngày ba mươi tháng chạp nhộn-nhịp, rồi khi nắng chiều buông, tất cả đều đột nhiên biến đổi, như một phép lạ, đường xá vắng tanh, chợ búa dọn sạch, cửa tiệm đóng cửa, người ta rút vào mái ấm gia-đình sửa soạn mâm cỗ và y-phục chỉnh-tề trịnh-trọng để cúng giao-thừa đón rước ông bà từ bên kia thế-giới trở về.

 

2- Thiêng-liêng vì đây là cơ-hội bắc một nhịp cầu giao-cảm: giao-hoà với nhau, với trời đất thiên-nhiên, và cảm thông với người đã khuất.

* Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn. Trong đêm trừ-tịch, người ta làm lễ cúng giao-thừa, mời các tiên-nhân về dương-gian ăn Tết. Quyện trong khói hương nghi-ngút, anh-linh tiên-tổ xum vầy cùng con cháu. Trong những ngày Tết, các đình chùa giáo-đường, tấp nập thiện nam tín nữ đến lễ bái kính viếng các bậc thánh thần, cầu xin Ơn Trên. Kẻ đi xa trở về xum họp, người ở gần đi đến nhà nhau chúc Tết. Trong nhà ngoài ngõ, râm ran lời chúc tụng. Trẻ già lớn bé, nam phụ lão ấu, người người gặïp nhau trong nụ cười thân mật. Bao nhiêu hờn giận xích mích bỏ qua, bấy nhiêu hoà-khí bao trùm toả lan khắp chốn. Người thôn dân mời nhau miếng trầu thắm lòng khoan-dung độ-lượng. Kẻ thị-thành chuyện trò, miệng lép bép hạt dưa, đỏ tình mến yêu. Cả một bầu khí giao-hoà thân thương vây quanh lấy mọi người.

            * Cả một bầu khí tưng-bừng náo-nhiệt cùng với vẻ xuân khởi sắc.

            Trong khí xuân ấm áp, mưa bụi bay lất phất, áo màu đua sắc với hoa đào thắm đỏ, đất Bắc đã tưng-bừng cả tuần lễ trước Tết để tiễn Táo-Quân về trời. Nào Hội Phủ Giầy, nào trẩy chùa Hương, người người chen chúc, nghi-ngút khói hương. Lòng người phơi-phới, nét mặt hân-hoan phà hơi ấm cho trời xuân thêm tươi mát, tô sắc thắm cho vườn xuân thêm rực-rỡ. Người người giao-hoà với vũ-trụ trong cõi xuân huy-hoàng.

            Trong khí nóng của miền Nam náo-nhiệt, mai vàng dưa đỏ cùng với muôn loài hoa trái sặc-sỡ rực màu cho nắng vàng thêm chói chan. Từ Nam chí Bắc, nơi thôn dã, chốn thị-thành, khắp hang cùng ngõ hẻm, ngoài hải-đảo xa-xôi, nơi nơi rền vang tiếng pháo ăm-ắp niềm vui cho hồn xuân của đất trời thêm phơi-phới.

            * Sự trang-trọng thiêng liêng của Tết là một cái gì quý giá vô ngần, quý giá đến mức không nỡ giã từ, người ta kéo dài Tết, có nhà lâu suốt cả tuần sang tới mùng bảy mùng mười, nhưng ít ra cũng phải ba ngày, vì chương trình bắt buộc phải có là:

„Mùng một ăn Tết nhà cha,

Mùng hai nhà vợ, mùng ba bạn bè“

Trong những ngày ấy, mọi lao tâm khổ tứ gác bỏ dành cho những cuộc vui chơi giải-trí. Nhưng dù vui ở đâu thì vui, trong mâm cỗ mỗi ngày dẫu cho thịnh-soạn hay đạm bạc, người ta không được quên cúng người đã khuất, nhớ đến tổ-tiên cho tròn đạo Hiếu, tưởng người thân thuộc cho hết tình người. Cho tới hết Tết, ngày cuối cùng thì tiễn ông bà trở lại cõi âm: „mồng ba hoá vàng“. Đấy là cái Đạo Sống Thái-Hoà đã có thâm-căn cỗi-đế trong truyền-thống văn-hoá của dân-tộc.

 

III- TẬP-TỤC TRONG NGÀY TẾT

 

            Vì vậy một số những tập-tục còn lưu-hành chẳng qua cũng là vì ý-nghĩa của Tết mà thôi.

 

1-        Những phong-tục mừng Xuân, đón Tết

·           Tảo mộ là việc không thể thiếu sót. Những ngày giáp Tết, dù bận rộn đến đâu, cũng phải dành một ngày để đi viếng mộ, dọn dẹp nơi ở của người đã khuất cho sạch-sẽ khang-trang cũng như đang dọn-dẹp nhà cửa của mình hiện tại; người Trung-Hoa hay nói đúng ra người Việt cỗi nguồn mang theo văn-hoá Việt-tộc từ vùng Lưỡng Quảng, gọi đó là đi “chạp mả”. Vì vậy ngôn-ngữ Việt không gọi tháng cuối năm là tháng mười hai, nhưng gọi là tháng chạp, một trong những nét đặc-thù của văn-hoá Bách-Việt.

·           Tỉa hoa thuỷ-tiên sao cho hoa nở đúng vào ngày mồng một Tết, vào lúc giao-thừa càng hay. Được như vậy là điềm may mắn, dấu hiệu của sự thành-công thịnh-vượng. Ngưòi ta tin như vậy là do truyền-thuyết kể rằng: xưa kia có một nhà phú-hộ để lại gia-tài chia đều cho ba người con trai, hai anh lớn giành hết chỉ để cho em út một mảnh vườn khô cằn. Bà Tiên hiện ra an-ủi cho biết nằm dưới đất miếng vườn có mầm của loài hoa quý sẽ đem lại cho anh một gia tài kếch sù. Mùa xuân đến, mảnh vườn của anh phủ đầy hoa lạ trắng xóa, ngào ngạt hương thơm, người người say sưa ngây-ngất, các nhà phú-hộ tranh nhau mua tìm. Anh đặt tên cho loài hoa này là hoa Thuỷ-Tiên để nhớ ơn bà. Củ hoa như củ hành tây. Thực ra phải tỉa củ hoa này cho khéo, ngâm trong nước, từ những vết nứt đã tỉa, sẽ nhú mầm, trổ những bông hoa sắc trắng nhị vàng thơm ngát, đẹp như dáng các tiên nữ chen-chúc trên mặt nước, nên gọi đó là thuỷ-tiên.

·           Trưng hoa đào, hoa mai cho đẹp Tết. Đào, Mai ngắt cành phải đốt và ngâm nước đủ ấm sao cho hoa nở cũng đúng vào ngày mồng một. Lưa thưa mấy chiếc lá xanh non trên cành, hoa đào đỏ thắm, hoa mai vàng tươi, xa xưa theo truyền thuyết là để xua đuổi hung-thần tà ma, nay trở thành hoa cảnh trang-hoàng cho ngày xuân thêm tươi sáng. Tục-truyền có hai vị thần đã chọn hai cây này làm nơi cư-ngụ, để tiêu-diệt hết ma quỷ mà che-chở cho dân trong vùng được sống yên-ổn. Những ngày cuối năm, hai vị thần này phải về trời chầu Ngọa-Hoàng, dân gian lại bị hung thần tác quái. Vì vậy nhà nhà đều treo trước cửa cành đào cành mai cho chúng khiếp sợ bỏ đi. Đào, mai từ đó chiếm một vị-trí quan-trọng trong phong-hoá của dân tộc. Cũng vậy, trồng nêu đốt pháo trước là để trừ ma quỷ vốn sợ hãi tiếng động, sau này là để xua đuổi những cái xui xẻo của năm cũ mà chào đón xuân sang. Tiếng pháo giao-thừa triền-miên suốt đêm không dứt, khói pháo khét lẹt, xác pháo đỏ kín lối đi. Vì vậy pháo được coi là sứ-giả của Nàng Xuân.

·           Nơi thôn quê, các nhà giàu có sắm sửa chuẩn-bị cỗ bàn. Họ quây lều trên bờ ao, tát cá, nhộn-nhịp đãi đậu, rửa lá chuối, lá dong, ngâm nếp gói bánh, lựa thịt giã giò. Ngay từ mấy tháng trước đã sẵn-sàng những vại nén dưa hành. Tiếng chày đều-đặn dồn-dập dọng xuống cối đá vang vọng khắp xóm, tiếng rì-rầm chuyện trò của những người canh nồi bánh chưng bánh tét âm-ỷ lửa cháy suốt đêm cuối năm tối mù, khiến cho lòng người rạo-rực háo-hức niềm vui chờ đón Chúa Xuân. Cho nên ăn Tết không thể thiếu:

“Thịt mỡ, dưa hành, câu đốùi đỏ,

Cây nêu, pháoTết, bánh chưng xanh”

·           Lễ nghĩa cha ông truyền dạy không được sai sót lãng quên, phải thân hành hoặc sai con cháu dù ít dù nhiều cũng sắm sanh lễ-vật đi tết họ hàng thân thuộc dù cho ở tận xa xôi. Đấy là cái đạo gia-đình

·           Sau lễ giao-thừa trừ-tịch, việc đầu tiên là phải đi hái lộc đầu năm. Lộc là những cành non của cây cối, biểu-tượng của nguồn sống vươn lên, của sự triển nở tốt đẹp trong đời sống vật-chất cũng như tinh-thần. Trong y-phục chỉnh tề tươm-tất từ đình chùa, đền miếu bước ra, ai cũng hái một cành non mang về, đây là mang lộc trời ban, những mong sẽ được nhiều may-mắn trong năm mới. Cũng có khi mang theo hương lộc về nhà thay vì hái lộc. Vào lễ chùa, thắp hương cầu nguyện xong, khách thập phương mang nhang vừa đốt đem về cắm trên bàn thờ của gia-đình. Theo các nhà nghiên cứu về phong-hoá Việt-Nam, ngọn lửa trong hương-lộc tượng-trưng cho sự phát-đạt, thịnh-vượng, hanh thông.

 

2- Những tục kiêng cữ

·           Đầu năm xuất hành phải cho đúng hướng. Giờ xuất hành cũng như hướùng xuất hành phải thích hợp với tuổi mỗi người. Có người xuất hành sau khi cúng giao-thừa, có người để sáng hôm sau hoặc ngày khác. Có người ra khỏi nhà một chốc rồi trở về. Trên đường xuất hành, phải luôn luôn hoà nhã, vui tươi, lễ-độ với mọi người dù gặp con trẻ. Trong những làng cùng làm một nghề như nhau, người thôn dân xuất hành theo cùng một hướng. Người ta kiêng cữ xuất hành nghịch hướng vì như vậy sẽ có những điều không hay trong năm mới. Việc xuất hành thuận hướng vì thế là điều rất đáng quan tâm làm cho Tết thêm vẻ nhộn-nhịp trang trọng.

·           Người đầu tiên bước vào nhà trong năm mới rất hệ-trọng. Người ấy gọi là xông nhà xông đất. Nếu người vui tính, trong năm vừa qua gặp nhiều may mắn, có danh phận, thành-công thịnh-đạt thì người ấy sẽ mang những điều tốt lành đến cho mình. Ngược lại thì giông cả năm, nghĩa là sẽ xui-xẻo gặp những chuyện chẳng vừa lòng. Cho nên người ta thường chọn người thích hợp, dặn trước để nhờ họ đến xông nhà. Cũng vì vậy người ta kiêng cữ không dám đến sớm nhà ai, cũng như kiêng mang khăn tang đến nhà người khác, vì sợ bị trách cứ nếu sau này họ gặp những sự chẳûng may, hoặc giả không biết có hợp ý họ hay không?

·           Vì tính cách trang trọng của Tết, người ta kiêng giông đầu năm, nghĩa là nếu ngày đầu năm xui xẻo thì cả năm xui xẻo luôn. Cho nên nhất cử nhất động mọi lời ăn tiếng nói, cử chỉ nhất nhất phải cẩn-trọng. Kiêng bỏ nhà đi xa; kiêng la mắng, đánh-đập, chửi bới; kiêng khóc lóc than van; kiêng cãi cọ giận dữ… . Vì thế gia đình quây-quần sum-họp trong bầu khí thuận-hoà an vui.

·           Vì ước mong sẽ được như lời chúc mừng „tiền vào như  nước“, hay ít ra cũng không phải sống chật vật thiếu thốn, người ta kiêng quét nhà, bởi quét nhà là quét đi hết tài lộc. Trong ba ngày đầu năm xác pháo càng nhiều càng tốt, hoa đào hoa mai rụng cánh đầy nhà cũng không sao, vì đó là điềm lành. Nếu muốn quét, thì quét từ ngoài trở vào, dồn thành một đống chờ sau Tết mới thanh toán, vì đó là dấu hiệu của sự tích luỹ tiền tài của cải.

 

*   *

*

 

                        Trong đa số các sách giáo-khoa xưa kia, người Pháp quả có lý khi gọi Tết của Việt Nam là „le TÊT“ cũng như gọi „le nước mắm“ thay vì „la saumure“. Tết Việt-Nam có những nét đặc-thù. Tết miền Bắc xưa nay, không có múa lân chỉ dành cho ngày lễ Trung Thu của các nhi-đồng. Miền Nam du-nhập văn-hoá của Trung-Hoa xuất từ Chợ Lớn, Tết đến là có múa lân xin tiền li-xì y như ngày rằm tháng tám. Đồng ý rằng Tết Việt-Nam có phảng-phất khá đậm nét phong tục Trung-Hoa với những câu đối đỏ viết chữ Hán vì thị-thành Việt-Nam từ xa xưa vốn có nhiều phố xá Trung-Hoa, nhưng thiếu bánh chưng, bánh tét, bánh giầy, giò chả, thịt mỡ dưa hành, hoa đào hoa mai là thiếu không khí Tết Việt-Nam. Miền Bắc khí lạnh thì không thể thiếu món thịt đông. Miền Nam bắt buộc phải có nồi thịt kho nước dừa. Ngày xưa, nhất là tại thôn quê, cha mẹ dẫn con em đi chợ ngày ba mươi Tết, thế nào cũng phải mang về nhà treo những bức tranh Đông-Hồ, nào tranh con gà, con lợn, con cá, nói lên những ước mơ sung-túc thịnh-vượng, thành-đạt, v.v., bởi vì đó là hương vị của Tết Việt-Nam.

            Tại sao tại hải-ngoại, người ngoại quốc cứ quen gọi là Chinese New Year? Nếu không gọi được là Vietnamese New Year thì ít ra cho đúng với cách tính theo âm-lịch, có nên chăng khi gọi là Lunar New Year cho công-bằng?

 

 

Ý kiến, phê bình xin gửi về: doquangvinh@khoahoc.net

 

 

Trở về Trang Chính