|
LỜI TÒA SỌAN:
Nguyễn Thị Lộ, người thôn nữ làng Hải Hồ huyện Ngư Thiên
phủ Tiên Hưng nhỏ bé bên sông Cái cuồn cuộn phù sa,
người thiếu nữ bán chiếu ở Tây Hồ, người vợ yêu qúy của
Hà thành Đệ nhất văn nhân Nguyễn Trãi, là Lễ nghi Học
sĩ, là người tình được vua Thái Tông yêu say đắm. Nàng
đã sống qua những giờ phút hạnh phúc bên người chồng mà
nàng một mực thương yêu qúy kính. Nàng cũng đã sống qua
một cuộc tình sôi nổi nồng nàn trong vòng tay vị quân
vương trẻ tuổi. Nhưng cái kết thúc của đời nàng Thị Lộ
thật quá tàn nhẫn! Đọc Khối Tình Nguyễn Thị Lộ ta không
khỏi bàng hòang cho những đọan đường lịch sử nữ sĩ Thị
Lộ đã đi qua, để ngậm ngùi tiếc nuối và thầm ngưỡng mộ
kính phục một mệnh phụ tài sắc vẹn tòan.
Hà
Văn Thùy góp nhặt thời gian chép nên trang sử và bằng
ngòi bút đượm chút hương tình lãng mạn tác giả đã đưa ta
say mê tìm về để thấy được những oan ức và tình tiết
quanh vụ án Nguyễn Trãi cùng chất vị trử tình trong cuộc
đời giai nhân Nguyễn Thị Lộ.
|
CHƯƠNG TÁM
Vào giờ này Điện Vạn Thọ đã im ắng trở lại. Không còn tiếng cầu
kinh, không còn bước chân người chộn rộn. Những ngọn đại bạch
lạp rực cháy soi sáng chiếc quan tài gỗ đàn hương đồ sộ sơn màu
vàng vẽ rồng đặt ở chính điện. Một đỉnh trầm khói xanh bốc lên
nghi ngút, tỏa ra mùi thơm quá đậm. Cái mùi thường thấy ở nơi
chết chóc. Phía trước quan tài là bức vẽ chân dung ông vua trẻ
mặc hoàng bào lộng lẫy, thêu con rồng màu xanh trên vẩy giát
ngọc lấp lánh. Ánh những viên ngọc dát trên mũ miện soi sáng
khuôn mặt thiếu niên với cái cằm vuông kiên nghị, cái miệng rộng
sang trọng nhưng cặp môi dầy cùng khóe miệng mách bảo lòng ham
nhục dục khôn cùng. Dưới cặp mày rậm là đôi mắt trẻ thơ với cái
nhìn ngơ ngác…
Người duy nhất còn thức trong Điện lúc này là Nguyễn thái hậu.
Vốn người mảnh mai, mấy bữa nay biếng ăn biếng ngủ, nàng càng
nhỏ bé đi trong bộ quần áo tang rộng thùng thình. Như cái bóng
màu trắng, nàng bơ vơ đơn côi trong cung điện mênh mông. Chưa
bao giờ nàng thấy mình sống trong cảm giác lạ lùng đến thế. Nỗi
đau quá lớn ập xuống, nàng tưởng mình không chịu nổi, tan thành
tro bụi, tan trong nước mắt. Nhưng rồi một khi gắng gượng đứng
đậy, nàng choáng váng vì món quà chợt đến là quyền lực vô biên.
Một quyền lực quá lớn khiến nàng muốn ngộp thở! Ngày hôm nay,
nàng nghĩ, trong khi ta uống cạn chén đắng của sự mất mát thì ta
cũng thưởng thức men say ngất ngây của uy quyền! Ba mươi tám con
người sẽ rơi đầu chỉ vì ý muốn của ta, cho dù chúng có tội hay
không có tội! Vin tay vào cán thanh kiếm trên giá linh khí, nàng
mỉm cười. Cả một triều đình, quan lớn quan nhỏ, những quan văn
ních đầy chữ trong bụng, những quan võ từng tung hoành trăm trận
giờ quy phục dưới chân ta! Ta căm thù Nguyễn Trãi. Tài giỏi ư?
Đức độ ư? Công lao ư? Y lừng lững giữa triều đình. Chói chang
quá, rực sáng quá khiến cho bên cạnh y, chỉ còn lại một đám hèn
mọn. Không ai có thể sống nổi cùng y! Y có ích với Thái tổ Thái
tông nhưng với ta y là khắc tinh. Mặt trăng lên thì mặt trời
phải lặn! Ta căm thù Thị Lộ. Trước hết bởi mụ đã chiếm của ta vị
trí số một trong lòng Thái tông. Mụ thông minh, văn hay chữ tốt,
lịch lãm… Mụ đã thắng trong tình trường. Chiến thắng ấy mụ phải
trả bằng mạng sống! Khốn nạn cho mụ lại dám trêu gan phá đám ta
trong việc tận diệt Ngọc Dao… Mụ phải chết ! “Mụ chết thì đáng
thôi, nhưng những người khác, họ có tội tình gì?” Một tiếng nói
từ xa thẳm lương tri dội đến mơ hồ trong tâm trí nàng. “Trả thù
là cần nhưng cao hơn trả thù là khẳng định quyền lực. Bằng việc
này, ta thách thức cả triều đình. Ta không thể nhu nhược. Nhu
nhược lúc này là chết!” Nàng hồi hộp theo dõi cuộc hành quyết
với mối lo âm thầm: liệu có gì bất trắc xảy ra? Một vụ cướp tù,
một đám người điên rồ nào đó liều mạng kéo đến xin tha... An sâu
trong cung cấm, nàng nghe ngóng với tâm trạng phập phồng lo
lắng… Đã quá giờ ngọ. Và không có gì hết! Cuộc hành quyết diễn
ra ổn thỏa. Khi Đinh Phúc bước vào Điện, tới gần nàng, nói nhỏ:
“Bẩm thái hậu, xong rồi!” Nàng như nghẹt thở. Vậy là quyền lực
đã toàn thắng! Nỗi vui quá lớn khiến nàng choáng váng, muốn qụy
xuống ngất đi. Nhưng với bản tính cứng cỏi, nàng gắng gượng lại.
Giữ nguyên phong độ của bà hoàng đau khổ, nàng cười thầm: “Hèn
hạ! Cả một triều đình hèn hạ! Cả một đất nước hèn hạ! Từ nay ta
có thể kéo rào ngược ở cái triều đình hèn hạ này!” Nhưng rồi
ngay lúc đó, chưa kịp nguôi chất men say của quyền lực vô hạn
trong tay, nàng chợt thấy bàng hoàng! Có quá trớn không, nàng tự
hỏi. Rồi sẽ sao đây vì quá nhiều máu oan khuất chảy? Niềm vui
vừa bừng lên trong nàng chợt xẹp xuống rồi tắt lịm! Một cảm giác
chán chường trùm lấy tâm hồn nàng. Sau những cố gắng quá sức,
nàng rũ nguời ngồi xuống chiếc ghế lót nhung bên linh cữu. Mệt
mỏi, nàng gục xuống bàn.
Một
đám đông rùng rùng bước tới. Nàng nhìn ngơ ngác. Tới gần, nàng
nhận ra một đám quỷ không đầu lội ì ọp trong máu đỏ. Từ đám đông
dội lên những tiếng la thét: “Trả đầu cho ta! Trả đầu cho ta!
Oan quá oaaá o..an quá!” Ai nhỉ, nàng tự hỏi. Có phải là đám
người nhà Nguyễn Trãi? Nàng không quen ai trong số họ. Không
thấy Nguyễn Trãi cũng như Thị Lộ, nàng ngơ ngác tìm… Chợt một
người trai trẻ mặc áo vàng giống như nhà sư bước tới. Nàng không
hiểu nhà sư mà đến những chỗ đầy ma quỷ này làm gì? Nhưng nàng
chưa kịp hỏi thì nhận ra người ấy là Thái tông. Bước lên trước
đám quỷ cụt đầu, Thái tông mặt giận dữ nhìn nàng:
-
Nàng đã làm điều gì vậy? Nàng điên à? Sao lại giết oan người vô
tội?
- Thiếp, thiếp trả thù cho chàng? Nàng run run nói.
- Rõ khéo, làm gì có thù mà trả? Làm gì có chuyện Thị
Lộ sát hại quả nhân? Nàng yêu ta còn chưa đủ mà! Oi, chẳng thể
nào hiểu được bụng dạ đàn bà! Các người vừa hẹp hòi vừa thiển
cận! Ghen tuông làm các người mù quáng còn quyền lực khiến các
người điên đảo! Ngươi có biết rằng làm vậy là ngươi xúc phạm ta
quá lắm sao? Ngươi là con rắn độc mà tiếc thay ta từng ôm ấp… Im
lặng một lúc lâu, nhà vua nói giọng buồn: “Ta không thể gánh cho
ngươi cái quả báo này, ngươi nhớ đấy!” Nói rồi nhà vua giận dữ
bỏ đi. Nàng nhìn với theo, lúc đó mới thấy Thị Lộ, Nguyễn Trãi
cùng nhà vua đứng trên vừng mây ngũ sắc bay về chân trời rực
sáng phía xa. Thảng thốt, nàng gọi với theo: “Thánh thượng,
thánh thượng!” Tiếng kêu làm nàng giật mình thức giấc. Nàng
thấy như trước mắt vẫn hiển hiện đám quỷ cụt đầu lội trong máu
rên rỉ tiếng thét đòi mạng rồi nét mặt Thái tông giận dữ cùng
câu nói ghê người: “Ta không thể gánh cho ngươi cái quả báo
này!” Hoảng hồn, nàng hét lên rồi ngất lịm.
*
* *
Đêm. Trong chiếc nôi nhỏ, vua Nhân tông o ẹ cựa quậy rồi bật
khóc. Người cung nữ vội vàng trở dậy, tay đưa nôi, tay vỗ vỗ
lên người ấu chúa, giọng ru ngái ngủ khê nồng: À ơi, công cha
như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong Nguồn chảy ra…
Tiếng con khóc rồi tiếng ru của cung nữ làm Nguyễn thái hậu thức
giấc. Bước lại gần nôi, cúi người xuống, đặt tay lên trán con.
Cơn sốt của nhà vua đã hạ, nàng cảm thấy yên tâm. Có lẽ chỉ bật
khóc trong cơn mớ rồi người lại nằm im. Nhìn con nhỏ rồi nhìn
cung điện vàng son, nàng cảm thấy cuộc đời sao phi lý đến vậy?
Cả một đất nước phụ thuộc vào cái sinh linh nhỏ nhoi nằm kia.
Mong manh sao! Nó còn đó thì mình còn với tất cả quyền uy. Nếu
nó mệnh hệ nào, không biết chuyện gì xảy đến? Biết đâu chính
những kẻ tôn phù mình khi đó lại phanh thây xé xác mình? Cuộc
đời sao phù du đến vậy? Nàng bỗng cảm thấy sợ. Trong ánh đèn
lồng hồng hồng, nàng thấy hình như bàn tay mình dính máu? Phải,
máu! Máu đã chảy quá nhiều, cả nhà Nguyễn Trãi rồi Đinh Phúc,
Đinh Thắng. Đúng hay sai? Phải chăng mình là kẻ hiếu sát? Nàng
tự hỏi. Cái án tru di họ Nguyễn đã đành một lẽ. Còn hai gã họ
Đinh có đáng vậy không? “Chỉ hối rằng không nghe lời các ông
nên để xảy ra thảm nạn này” Lời Trãi nói với chúng trước
cuộc hành hình dù sao cũng chỉ là cái cớ! Ai biết được chúng đã
nói với Trãi những gì? Chúng nói chúng khuyên Trãi hãy quy
thuận, đừng chống đối Thần phi. Có thể là vậy thật nhưng dù sao
cũng không thể dung tha vì chúng biết quá nhiều. Chính là trời
hại chúng! Thỏ hết rồi thì chó săn đem nấu! Sự đời vốn
khắc nghiệt. Biết vậy mà trong lòng nàng vẫn cảm thấy không vui…
Cúi đầu bước lanh quanh trong cung điện, nàng dừng lại bên hàng
song triện nhìn ra ngoài. Chân trời phía Đông đã nhạt màu. Tiếng
mưa đều đều rả rích hòa tiếng trùng rên rỉ buồn não nuột. Hơi
lạnh ngoài trời thấm vào người khiến nàng bất giác rùng mình.
Chợt nghĩ tới cảnh cô đơn góa bụa của mình, nàng thấy lòng tê
tái. Tuy là chồng chung nhưng trước kia, nàng vẫn có một người
để trông ngóng để ôm ấp trong những đêm ngắn ngủi. Sẽ không bao
giờ nữa! Hai hàng lệ tự lúc nào ứa ra. Nàng thấy những ngày
trước mặt dài vô tận! Thấm thân phận mình, nàng chợt nghĩ tới mẹ
con Ngọc Dao. Công bằng mà nói, Ngọc Dao chưa làm gì nàng cả!
Cái tội của nàng ta là được tiên đồng đầu thai, đe dọa ngôi vị
của Bang Cơ. Tình thế ấy buộc mình phải ra tay như vậy. Nhưng
nay mọi sự đã an bài, không còn phải lo tranh đoạt nữa, nàng
thấy cũng không nên khắc nghiệt với nàng ta quá. Dùng uy rồi,
cũng cần gia ân… Nghĩ vậy nàng cho vời Tiệp dư Ngọc Dao vào
chầu.
Nhận khẩu dụ vào Điện Kinh Diên tiếp chỉ, Tiệp dư Ngọc Dao vô
cùng lo lắng. Nỗi lo hơn tháng nay được đẩy tới tận cùng. Từ
ngày tiên đế băng, tiếp đó Nguyễn Trãi cùng Thị Lộ chết chém,
mối lo sợ đè nặng tâm trí nàng. Nàng biết mình như cá nằm trên
thớt. Những người bênh vực mẹ con nàng không còn. Bây giờ nàng
cùng con nhỏ trong tay bà ta. Vì mối thù xưa, bà ta có thể đem
mẹ con nàng ra làm nem làm chạo bất cứ lúc nào… Tuy vào cung đã
lâu nhưng là người hiền thục lại biết thân biết phận nên Ngọc
Dao chỉ quẩn quanh ở hậu cung, chưa bao giờ tới chỗ thiết triều.
Nay với tâm trạng đầy lo âu khắc khoải bước vào điện rộng mênh
mông, vàng son chói lọi với những khí cụ trần thiết lỗng lẫy,
không khí trang nghiêm, nàng càng thêm hoảng sợ. Nàng cúi mặt
theo viên thái giám bước trên nền gạch in hình cánh sen. Tới
trước thái hậu, nàng cúi đầu nói trong hơi thở bị nén lại:
-
Thần thiếp vấn an thái hậu. Thái hậu thiên tuế!
-
Miễn lễ, khanh khá bình thân! Giọng thái hậu thanh thanh cất
lên.
Nàng ngước nhìn người đàn bà ẵm ấu chúa ngồi trên ghế sơn son
thiếp vàng. Nét mặt thái hậu bơ phờ mệt mỏi nhưng không có vẻ
nanh ác khiến nàng bình tâm lại đôi chút. Chỉ chiếc đôn phía
trước, thái hậu nói giọng dịu dàng:
-
Nàng có được khỏe không?
-
Bẩm thái hậu, thần thiếp không khỏe lắm. Mới sinh xong thì tiên
đế băng, trong triều xảy ra bao sự biến khiến hoang mang đến mất
ăn mất ngủ…
-
Ta hiểu. Nhưng tiểu hoàng tử vẫn chơi đấy chứ?
-
Tạ thái hậu, cũng may là đứa con mồ côi ấy còn quá nhỏ không
biết tai họa xảy ra nên vẫn ăn vẫn chơi bình thường…
-
Phải, trẻ con là vậy. Thái hậu nói giọng tư lự. Tân vương anh nó
đây nào có khác gì. Ở ngôi cửu ngũ rồi mà có biết chi đâu, mấy
bữa nay nóng đầu còn quấy nữa. Nhìn con ngủ trong lòng, nàng
cười, cái cười buồn. Lặng đi lúc lâu, giọng buồn buồn nàng nói
nhỏ như nói với riêng mình, vậy đấy, cả lũ chúng ta mẹ góa con
côi! Cung nữ mang nước đến đặt trước mặt hai người. Nàng uống
nước đi, thái hậu nói. Ngọc Dao e lệ mời thái hậu rồi cầm chén
trà đưa lên, dùng tay áo che miệng, uống từ tốn. Ta cho gọi
ngươi đến là muốn nói điều này. Không nhìn nàng, thái hậu nói
tiếp, ta biết ngươi rất lo lắng, trong lòng không yên vì tội lỗi
trước đây. Việc yểm bùa hại thái tử rồi việc sợ tội trốn khỏi
cung đều đã được Tiên đế lượng từ bi hải hà tha cho rồi, ta cũng
không truy cứu nữa. Vì vậy ta nói rõ để ngươi khỏi lo lắng. Ta
coi hoàng tử Tư Thành như con ta mà rồi sau này sẽ dạy cho Nhân
tông cũng thương yêu đứa em út ruột rà của nó. Ta mong Bang Cơ
với Tư Thành được học hành tử tế để làm nên nghiệp lớn. Bang Cơ
sớm phải giữ ngôi báu lo việc nước nên chuyện học sẽ khó hơn. Vì
vậy ta trông mong ở như hoàng tử Tư Thành. Ta biết nó có thiên
tư tốt đẹp. Mệnh nó thuộc hành thủy, tương sinh với mệnh mộc của
Nhân tông. Mong nó sẽ là phúc tinh phò tá cho hoàng thượng. Vậy,
nay ta thực lòng nói với ngươi là, công việc triều đình ta cùng
hoàng thượng gánh, còn ngươi phải nuôi dạy hoàng tử Tư Thành cho
chu đáo. Đó là việc nhà mà cũng là việc nước. Ngươi không làm
được là có tội!
Không ngờ cơ sự lại xoay vần như vậy, nàng Ngọc Dao run run cảm
động thưa:
- Tạ thái hậu, thần thiếp xin đội ơn trời biển của thái hậu. Lời
thái hậu như cởi tấm lòng. Từ nay thiếp sẽ quên đi những nỗi lo
khi trước và nguyện nuôi dạy tiểu hoàng tử thật chu đáo để đáp
lại tấm lòng bồ tát đại từ đại bi của thái hậu và hoàng thượng!
*
* *
Một
thời gian dài người kẻ chợ choáng váng vì vụ giết người tàn
khốc. Máu… máu… máu xối xả, những cái đầu thi nhau lăn long lóc
hiện về trong những cơn ác mộng. Nhiều người trở nên ngơ ngác
như mất hồn. Người ta tránh xa không dám đến chợ Cửa Đông mua
bán. Một nỗi sợ hãi hoang mang vô độ trùm lên phố phường… Trong
tâm trạng chung ấy của dân chúng, những thức giả chốn kinh thành
chán ngán nhận ra bộ mặt tàn bạo của cuộc sống và trong lòng họ
thầm oán trách triều đình. Những năm tháng sau đó là những năm
tháng nặng nề. Nhìn vào vương triều của đứa trẻ còn bế ngửa,
người ta chỉ thấy một lũ vô học, bất tài tham nhũng, thối nát
bám quanh gấu váy người đàn bà chuyên quyền. Cuộc sống ngột ngạt
đến mức không thể chịu nổi. Nhiều người nhớ tiếc thời Thái tổ,
Thái tông. Chính lúc này, người kẻ chợ truyền nhau câu chuyện
Rắn báo oán. Chuyện rằng, khi bị giặc Minh giam lỏng ở Đông
Quan, Nguyễn Trãi mở trường dạy học. Hôm dọn đất dựng trường,
buổi trưa Nguyễn Trãi chợp mắt ngủ thì thấy có người đàn bà tới
nói với ông rằng: “Tôi vừa sinh, các con tôi còn yếu ớt. Xin ông
đừng phá nhà tôi vội, các con tôi sẽ chết mất.” Thức dậy, Nguyễn
Trãi chưa hiểu giấc mơ nói gì thì thấy học trò của ông hò reo vì
vừa phá một ổ rắn. Nhìn ổ rắn bị phá, những chiếc trứng vỡ nát,
ông hiểu ý nghĩa giấc mơ. Đêm ấy về ông kể chuyện cho người nhà
nghe. Sáng ra, trên cuốn sách ông mở đọc đêm trước, thấy có giọt
máu. Lật sách xem thì máu dính đến ba tờ…” Rắn báo oán biến
thành người đàn bà đẹp là Thị Lộ. Thị Lộ hại vua làm ba họ nhà
Nguyễn Trãi bị tru di… Không biết rằng câu chuyện do ai nghĩ
ra và vì duyên cớ gì nhưng hình như từ đó, tâm linh người dân
kinh thành như được xoa dịu, vơi bớt nỗi dằn vặt. Họ cho rằng số
phận đã sai khiến người đàn bà rắn là Nguyễn Thị Lộ làm
công việc của mình. Đã là số phận thì bất khả kháng… Đừng trách
Nguyễn Trãi cũng đừng oán hận triều đình… Câu chuyện như liều
thuốc an thần làm dịu bớt nỗi đau trong dân chúng.
Nhưng cuộc đời khắc nghiệt hơn, không thứ thuốc giảm đau nào xoa
dịu được. Dường như câu nói của Nguyễn Trãi với Nguyễn Xí năm
xưa “Một triều đại mở ra bằng tắm máu công thần sẽ không khỏi
báo ứng” đã ứng nghiệm. Mười tám năm sau cái án tru
di của Nguyễn Trãi, ngày mùng ba tháng Mười năm Diên Ninh thứ
sáu, Lạng Sơn vương Nghi Dân cùng tay chân đang đêm trèo vào
cung, giết vua Nhân tông và thái hậu Nguyễn Thị Anh. Cung đình
nhà Lê thêm một lần tắm máu mà lần này là máu hoàng tộc, cốt
nhục tương tàn. Chẳng bao lâu sau, Nghi Dân bị phế truất rồi bị
giết và một triều đại mới khai sinh: triều đại Lê Thánh tông.
*
* *
Trước ngày đi Côn Sơn, bà Lộ gửi người con nuôi là Ngô Thị Chi
Lan về gia đình ông Ngô Từ ở phường Bích Câu. Lúc chia tay trước
cổng, Chi Lan cứ níu áo mẹ mà khóc đòi đi theo. Om con vào lòng,
kéo vạt áo lau nước mắt cho con, bà Lộ cũng ứa nước mắt. Ông bà
Ngô Từ phải dỗ dành mãi cô bé mới chịu nín. Nhưng đêm ấy cô bé
sáu tuổi đầu trằn trọc mãi không ngủ được. Nửa đêm đang ngủ chợt
tỉnh dậy khóc đòi mẹ.
Khi
án Trại Vải xảy ra, cả nhà Nguyễn Trãi bị bắt, thấy để Chi Lan ở
kinh không có lợi, gia đình họ Phù đón bé Chi Lan về nuôi dưỡng.
Họ Phù là họ lớn ở Kim Hoa, kinh tế khá giả lại thuộc loại có
học, từ lâu đã kết giao với họ Ngô và cũng là chỗ thân tình với
Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ. Phù Dụng đỗ cử nhân nhưng không ra
làm quan mà ở nhà mở trường dạy học, nổi tiếng một vùng. Ông đặc
biệt mê thơ Ức Trai nên để công sưu tập hầu như mỗi bài mỗi chữ
của nhà thơ được công bố hay từ những bản chép tay truyền tụng
trong dân gian. Cũng như nhiều kẻ sĩ lúc đó, Phù không tin vào
chuyện thí nghịch của Nguyễn Trãi. Tuy ông không tán thành việc
làm của bà Lộ trong cung nhưng ông cũng hiểu cái thế khó của
Nguyễn Trãi mà phần nào thông cảm với người bạn già. Cái chết
oan khuất của cả nhà Nguyễn Trãi là nỗi đau buồn lớn của ông.
Ong thấy rằng mình chỉ có thể giúp bạn bằng cách nuôi dạy Chi
Lan đồng thời bí mật sưu tầm và gìn giữ di cảo của bạn chờ đến
ngày sáng sủa hơn. Nhưng theo luật triều đình, việc giữ văn từ
của kẻ phạm tội đại nghịch cũng là phạm pháp nên ông làm thật
thận trọng.
Đặt
tay đứa cháu gái vào tay bạn mà lòng ông Ngô Từ buốt như dao
cắt. Ong thương đứa cháu gái sớm côi cút chắc phen này mồ côi
lần nữa. Mấy năm trước, vợ chồng người em ruột ông mất trong
trận đắm đò ở quê, ông đưa cháu về nuôi, coi nó như con mình.
Rồi khi ông bà Nguyễn Trãi đến chơi, thấy nó quyến luyến bà Lộ
và nhận ra bà cũng có tình với nó nên ông đồng ý cho cháu làm
con nuôi ông bà. Bà Lộ đã đổi cái tên Hĩm quê mùa của cháu thành
Ngô Thị Chi Lan. Hiếm muộn lại giàu lòng thương trẻ nên bà nâng
niu con bé như trứng mỏng… Bây giờ cha mẹ nuôi cháu bị đại nạn
mà gia cảnh ông cũng đang như chuông treo chỉ mành. Con ông cháu
ông trong cung đang như cá nằm trốc thớt… Biết gửi vào nhà họ
Phù là tốt cho cháu nhưng ông cũng đau như lìa khúc ruột.
Về
Kim Hoa lúc đầu Chi Lan thật buồn. Càng buồn em càng nhớ mẹ Lộ.
Đêm đêm nằm mơ nhớ mẹ, em lại khóc thét lên gọi mẹ. Ong bà Phù
phải hết sức dỗ dành nói dối lần. Lâu lâu rồi Chi Lan cũng nguôi
ngoai nỗi nhớ nhưng trong mắt bé là nỗi buồn thăm thẳm. Sống xa
kinh thành nên dư âm của thảm án Trại Vải nơi đây cũng mờ nhạt
vì vậy suốt tuổi thơ Chi Lan sống yên lành. Cùng với thơ văn của
bách gia chư tử, ông Phù còn lấy văn thơ của một người ông gọi
là vô danh thị dạy con nuôi. Những bài hay, Chi Lan đều
cẩn thận ghi vào cuốn sổ riêng. Một lần đi chơi cùng bạn bè trở
về, Chi Lan hỏi ông Phù: “Bố có biết câu chuyện Rắn báo oán
không, bố?”
- Sao tự nhiên con lại hỏi chuyện đó?
- Sáng nay con nghe cha của bạn con kể… Nhìn vào mắt cha nuôi
bằng cặp mắt buồn đăm đăm, cô bé hỏi: “Thưa cha, có phải ông
Trãi với bà Lộ trong câu chuyện là cha cùng mẹ nuôi con không?
Cha mẹ con phạm tội giết vua thật sao? Mẹ con là rắn hiện hình
để trả thù cha con sao?” Không chịu nổi ánh mắt con trẻ, ông Phù
quay nhìn ra khoảng sân trước mặt, tiếp đó là mặt hồ mênh mông.
Lúc sau ông nói giọng trầm ngâm:
- Cha chưa định nói với con việc này. Nhưng vì con đã nghe
chuyện Rắn báo oán nên cha đành nói thật… Sau khi kể lại
thảm án Lệ Chi Viên, ông Phù tiếp: “Bàn dân thiên hạ nhiều người
cho là án oan. Nhưng lệnh triều đình rất nghiêm, không cho phép
bàn tán. Tuy vậy, bất bình tắc minh, trong lòng chưa yên,
người ta phải nói. Né tránh sự cấm đoán của triều đình, kẻ sĩ
trong dân gian đặt ra chuyện Rắn báo oán. Tuy câu chuyện
có vẻ hoang đường đồng thời không minh bạch là dồn hết tội cho
người đàn bà nhưng chí ít, nó minh oan được cho Nguyễn Trãi.”
- Vâng thưa cha, minh oan được cho cha con nhưng lại quá bất
công với mẹ con! Từ một nữ sĩ, mẹ con bỗng thành con rắn độc…
Thưa cha, nỗi oan của mẹ con lớn vậy làm sao mà rửa cho sạch?
- Con yên tâm, giấy không bọc được lửa. Rồi sẽ có ngày nỗi oan
của cha mẹ con được sáng tỏ. Nhưng muốn vậy, trước hết phải minh
oan cho cha con. Cha muốn rằng con sẽ góp phần làm được việc
này…
- Con ư? Thưa cha, con sao mà làm được?
- Có đó! Nếu con có lòng…
- Thưa cha, cha nói cho con biết, bằng cách nào mà con có thể
minh oan cho cha mẹ con?
-
Con có biết đóng góp lớn nhất của cha con cho nước Nam ta là gì
không?
-
Thưa cha, đó có phải là những mưu lược người dâng cho Thái tổ để
bình Ngô?
Nhìn
con gái nuôi bằng cái nhìn khích lệ, ông Phù mỉm cười:
- Đóng góp đó là rất lớn nhưng chưa phải là quan trọng nhất.
Đóng góp quan trọng nhất của người là văn tự, là Bình Ngô
sách, là áng thiên cổ hùng văn Bình Ngô đại cáo,
là Dư địa chí, là những chiếu biểu người viết thay đức
Thái tổ, và nhất là ở trong văn thơ của người… Rồi hạ giọng, ông
nói những lời tự tâm can. Con biết không, thời chúng ta đang
sống là thời tao loạn. Nhà vua còn quá nhỏ, đất nước trong tay
người đàn bà thiển cận và chuyên quyền nên văn học chưa được
trọng. Một mai, khi ông vua sáng xuất hiện, thì bậc minh quân ấy
dùng cái gì để trị nước, để khuếch trương danh tiếng nhà Lê?
Khoe mãi chiến công không phải là đức của ông vua hiền vì chiến
công nào chẳng mang lại chết chóc đau khổ? Vì vậy nhà nước không
thể không dùng đến Bình Ngô đại cáo, cũng không thể hủy
Văn bia Vĩnh Lăng… Mà nhắc tới những áng văn chương này lẽ
nào làm lơ tác giả của chúng. Ức Trai cha con là tác gia lớn
nhất của Đại Việt từ ngày lập nước. Bỏ qua văn chương của người
thì lấy gì mà nói? Nhưng lẽ nào lại ca ngợi văn chương của kẻ
phạm trọng tội thí nghịch? Đấy, cái khó của triều đình là ở chỗ
ấy! Lúc đó, minh oan cho Ức Trai trở thành việc bức xúc của
triều đình… Muốn rửa được nỗi oan của cha mẹ con, con phải học
thật giỏi, phải có tài trước tác xuất chúng đồng thời cũng phải
thuộc thơ văn của người và hiểu thấu đáo ý nghĩa sâu xa của nó.
Từ lâu cha tính tới chuyện này nên đã trì chí sưu tầm nhiều thơ
văn Ức Trai. Thơ văn ấy, một phần cha đã trao cho con dưới danh
nghĩa vô danh thị. Sau này, tới khi cần, cha sẽ trao đầy
đủ lại cho con…
Từ
đó, hiểu hoàn cảnh của mình, Chi Lan thêm gắng gỏi. Càng lớn lên
Chi Lan càng giống mẹ nuôi, xinh đẹp lại học giỏi, có tài làm
thơ và giọng ngâm thơ thật hay. Nhiều gia đình danh tiếng trong
vùng rắp ranh dạm hỏi nhưng nàng không nhận đám nào.
Khi
loạn Nghi Dân bị dẹp, vua Thánh tông lên ngôi, bà Ngô Ngọc Dao
trở thành thái hậu. Nhớ đến người em họ côi cút nên bà vời Chi
Lan vào cung hầu hạ bên mình. Nhiều lần tới thăm mẹ, trò chuyện
với người dì xinh đẹp lớn hơn mình vài tuổi, nhà vua trẻ mến nết
nhu mì hiền thục cùng tài thơ văn của nàng nên triệu vào Điện
Kinh Diên, phong cho chức quan hầu ngài đọc sách, ngâm thơ cùng
đối đáp với văn nhân thi sĩ trong triều. Chi Lan thường tới Tàng
thư các tìm đọc nhiều sách quý kim cổ. Tàng thư các có một kho
mật thư, ai muốn vào đọc phải được phép của quan thái sử Ngô Sĩ
Liên. Một hôm vào kho mật thư tìm sách cho nhà vua, Chi Lan phát
hiện một cái hòm để trong chỗ khất phủ đầy bụi chứng tỏ lâu ngày
không ai động tới. Tò mò muốn biết trong đó có gì, nàng phủi sơ
bụi rồi mở hòm. Nhìn những chữ quen quen trên bìa màu cánh gián,
nàng vội vàng rút quyển sách lên và nhanh chóng nhận ra Ức
Trai thi tập của Nguyễn Trãi. Vẫn biết đọc sách của kẻ thí
nghịch là trọng tội nhưng không ngăn nổi lòng, nàng lần lượt lật
từng cuốn nâng niu trên bàn tay run rẩy. Mồ hôi chảy dài đọng
trên trán, mặt nàng ướt lệ. Quá chăm chú đọc sách nên nàng không
nghe bước chân người vào trong phòng. Khi cảm thấy có ánh mắt ai
đó nhìn mình, nàng ngẩng lên thì quan thái sử họ Ngô đã đứng
trước mặt nàng. Nàng bủn rủn chân tay. Không nói không rằng,
quan thái sử cầm cuốn sách trong tay nàng đặt lại vào hòm, đóng
nắp rồi khoan thai bước ra, khép cửa phòng mật thư lại. Nàng lo
lắng theo sau. Dừng lại trước cửa sổ có những thanh triện nhìn
xuống hồ sen đối diện Điện Vạn Thọ, quan thái sử nói:
-
Nàng có biết đọc trộm sách cấm là một trọng tội không?
-
Thưa đại quan, tiểu nữ biết. Nhưng đây là di cảo của dưỡng phụ
mà suốt gần hai chục năm nay tiểu nữ kiếm tìm. Nay thấy được
cũng như là gặp người vậy. Nếu có mắc tội, tiểu nữ cũng cam
lòng. Tuy mặt tái xanh nhưng Chi Lan cứng cỏi trả lời.
-
Dưỡng phụ? Nguyễn Trãi tiên sinh lại là dưỡng phụ của nữ sĩ sao?
Vị sử quan già nhìn nàng không chớp, hỏi vẻ ngạc nhiên.
-
Thưa vâng, tiểu nữ là em họ của Ngô thái hậu nhưng cũng là con
nuôi của quan đại học sĩ Nguyễn Trãi…
Ong
quan già gật gật đầu:
- Vậy thì ta hiểu tâm sự của nàng. Ta bỏ qua cho nàng lần này.
Đừng để có lần sau nữa. Người khác gặp nàng sẽ không như ta đâu!
Chi Lan cúi đầu cảm ơn vị quan thái sử già rồi lễ phép cáo lui.
Một lần Chi Lan đang chăm chú ghi chép trên cuốn sổ thì nhà vua
bước vào. Thấy cuốn sổ có bài thơ, nhà vua cầm lên nhẩm đọc rồi
tự nhiên ngâm lớn:
Vệ Linh xuân thụ bạc vân nhàn,
Vạn tử thiên hồng điểm thế gian.
Thiết mã tại thiên, danh tại sử,
Anh uy lẫm lẫm mãn giang san.
(
Vệ Linh mây mỏng quyện cây xuân,
Vạn tía nghìn hồng đẹp cảnh trần.
Ngựa sắt về trời danh ở sử,
Uy danh còn dậy khắp xa gần.)
Ngâm
xong, nhà vua lim dim mắt thưởng thức những âm thanh những hình
ảnh gieo vào trong tâm tưởng rồi cất lời khen:
- Hay! Bài thơ hay! Cảnh trong sáng rực rỡ mà tình thì hùng và
tráng. Một bài thơ vịnh sử hay! Phải chăng bài thơ này của
khanh?
Chi
Lan bối rối:
- Bẩm thánh thượng, bài này vi thần làm khi thăm núi Vệ Linh,
nơi tương tuyền là thần Phù Đổng thăng thiên.
-
Còn đây nữa, nhà vua lật cuốn sổ, nhẩm đọc: Đề kiếm
Lam
Sơn tự tích ngọa thần long,
Thế
sự huyền tri tại chưởng trung.
Đại
nhiệm hữu quy thiên khải thánh,
Xương kỳ nhất ngộ hổ sinh phong.
Quốc
thù tẩy tận thiên niên sỉ,
Kim
quỹ chung tàng vạn thế công.
Chỉnh đốn càn khôn tòng thử liễu,
Thế
gian na cánh sổ anh hùng.
(
Lam Sơn từ thuở rồng chưa bay,
Tùng liệu việc đời nắm giữa tay.
Trao gánh non sông trời báo triệu,
Gặp thì mưa gió cọp sinh vây.
Nước hờn rửa nhục nghìn năm sạch,
Hòm quý vùi công vạn thuở này.
Chỉnh đốn càn khôn thôi tự đó,
Anh hùng, thiên hạ kể chi đây!)
Đọc
xong, mắt nhà vua sáng lên long lanh:
- Hay! Bài thơ bao quát hết càn khôn! Khẩu khí thật lớn. Xiển
dương một cách tài tình công nghiệp của Thái tổ. Không chỉ thế,
thi nhân còn cận nhân tình khi hiểu thế gian na cánh sổ anh
hùng: chiến thắng rồi thế gian ai đếm xỉa đến bậc anh hùng
nữa. Chí lý! Quay nhìn Chi Lan bằng con mắt trìu mến, nhà vua
tiếp, bài thơ có vẻ buồn buồn gần với tâm trạng của khanh
Thiết mã tại thiên danh tại sử! Ngựa sắt lên trời, danh ở
sử, còn con người thật thì sao? Trẫm hiểu ý khanh. Trẫm muốn hỏi
thêm khanh ba chữ bạc vân nhàn khanh dùng là có ý gì?
Người xưa chưa ai dùng chữ như vậy, thường thì là bạch vân,
hoàng vân, tường vân…còn khanh lại dùng bạc vân nhàn.
- Muôn tâu, đúng là chưa ai dùng mà thần dùng là bởi có tâm sự
riêng. Bạc vân nhàn là mây mỏng, mây thưa, nó cũng mong
manh như cuộc đời vậy…
- Trẫm hiểu, khanh thật đa cảm, đúng là một tâm hồn thi sĩ! Trẫm
có thắc mắc muốn hỏi khanh, tác giả bài Đề kiếm này phải
là nhân vật kiệt xuất, thấu hiểu sự nghiệp của Thái tổ, như vậy
phải là người có tên tuổi sao ở đây khanh lại ghi vô danh
thị?
-
Muôn tâu, thánh thượng có con mắt tinh đời. Thần có tội! Nếu nói
không biết là mắc tội khi quân lừa dối bệ hạ. Còn nói biết, cũng
là có tội vì đó là thơ của tử tội triều đình. Vi thần không dám
xin bệ hạ tha tội chỉ xin bệ hạ thông cảm với thần vì hai lẽ.
Thứ nhất là liên tài. Bài thơ hay như vậy người yêu thơ không nỡ
bỏ qua. Thứ nữa, người ấy lại là cha nuôi của vi thần. Công
dưỡng dục cũng sánh cùng trời bể! Chính vì thế mà vi thần đã…
-
Dưỡng phụ của khanh? Nhà vua nhìn thẳng mặt Chi Lan. Trước nhỡn
quang chói lói của thiên tử, nàng cúi đầu ấp úng:
-
Bẩm, dưỡng phụ của thần là quan đại học sĩ Nguyễn Trãi!
-
Vậy sao? Cha nuôi khanh là kẻ thí nghịch vô đạo. Khanh lại lén
lút giữ thơ của kẻ thí nghịch. Khanh có biết tội khanh lớn lắm
không?
Chi
Lan quỳ xuống:
-
Khởi bẩm hoàng thượng, thần biết tội. Nhưng trước khi bắt tội
thần, xin bệ hạ từ tâm nghe thần nói. Khi thần vừa hai tuổi thì
cha mẹ đẻ của thần chẳng may qua đời trong vụ đắm đò. Sáu tuổi
thì cha mẹ nuôi gặp nạn. Hai chục năm qua thần đã hỏi han tìm
tòi về thảm án Lệ Chi Viên và rồi thần đến chỗ xác tín: cha mẹ
nuôi của thần không phạm tội thí nghịch. Thánh thượng anh minh,
từ khi theo dức Thái tổ thì cuộc đời dưỡng phụ thần có hai thời
kỳ đắc ý đó là khi cùng Thái tổ trù hoạch mưu lược diệt quân
Ngô. Thời kỳ thứ hai là từ năm Kỷ Mùi được tiên đế tin dùng trao
cho trọng trách. Những ngày cuối cùng của người là thời gian
người đang được Tiên đế sủng ái nhất. Vì vậy dưỡng phụ thần
không có động cơ thí nghịch. Còn dưỡng mẫu thần, xin bệ hạ xá
tội, người đang yêu Tiên đế hết mình. Bệ hạ đã từng yêu và được
yêu, hẳn bệ hạ không tin rằng có kẻ đang tâm giết người mình
đang yêu, một đấng minh quân mà chẳng vì lý do nào! Và thêm nữa,
căn cứ vào lương tâm trong sáng, tận trung với vua với nước của
cha thần thì ngay cả ý định thí nghịch cũng không có chỗ trong
suy nghĩ của người! Bẩm hoàng thượng, vì vậy thần cho rằng vụ án
Lệ Chi Viên là án oan. Thần mong được một lần trần tình cùng
thánh thượng anh minh, sau rồi có bị trị tội, thần cũng cam
lòng…
-
Khanh nói sao? Lệ Chi Viên là một án oan, triều đình đã giết oan
công thần? Trán nhà vua nhăn lại? Nàng muốn lật lại bản án hai
chục năm trước? Thật to gan!
-
Hoàng thượng anh minh! Thần không có ý chê bai tiền triều mà chỉ
muốn thưa cùng bệ hạ sự thật. Cái sự thật không được giãi bày
đang nhức nhối lương tri biết bao con người!
-
Nhức nhối lương tri bao người? Khanh có ngoa ngôn không đấy? Ta
không hề nghe nói!
-
Bẩm, không dám nói với bệ hạ bởi người ta sợ. Nhưng hoàng thượng
không nghe thấy không có nghĩa là người đời không nói!
-
Khanh nói sao? Vậy thiên hạ nói những gì?
-
Thưa, hoàng thượng đã nghe chuyện Rắn báo oán rồi chứ ạ?
Còn gì vô lý hơn câu chuyện đó? Theo luật nhân quả, oán có đầu,
nợ có chủ! Có lẽ nào người đàn bà rắn không trả thù đứa phá tổ
giết con mình mà lại trả thù ông thầy đồ vô tội? Dọn cỏ là việc
phải làm, còn giấc mộng giữa trưa kia thì thông tin thiếu chính
xác, lại không kịp thời, ông ta nào có lỗi gì?… Rồi sau nữa, mọi
tội lỗi đổ lên đầu người đàn bà là Thị Lộ! Nào bà có tội gì? Cái
tội duy nhất của bà là hết lòng yêu tiên đế. Nhờ tình yêu đó mà
tiên đế trưởng thành lên, sáng suốt hơn! Nếu có tội thì chỉ là
có tội với dưỡng phụ thần nhưng người đã tha thứ cho bà! Tại sao
người đời lại bất công dồn hết mọi điều xấu xa tội lỗi lên đầu
người đàn bà yếu đuối? Lương tri con người, lương tri kẻ sĩ ở
đâu? Thần nghĩ mãi không ra nhưng rồi sau cũng nhận biết: Câu
chuyện đặt ra để bênh vực tiền triều. Không thể nói triều đình
sai nên họ đổ thừa cho số phận đồng thời chất tội ác lên đầu
người đàn bà mà người ta gọi là dâm phụ, kẻ tội đồ thấp cổ bé
họng! Bẩm hoàng thượng, danh không chính thì ngôn không thuận,
kẻ biện hộ không chính danh nên câu chuyện hoang đường và mâu
thuẫn như thế đó. Nhưng dầu sao mặc lòng, câu chuyện cũng góp
phần minh oan cho dưỡng phụ hạ thần và xoa dịu bớt nỗi đau trong
dân chúng…
-
Có phải như vậy chăng? Ý của khanh không phải không có sở cứ…
Rồi trẫm sẽ nghĩ thêm nhưng bây giờ trẫm muốn mượn khanh cuốn sổ
này để đọc một số bài thơ của vô danh thị…
Đọan 11
UYÊN
HẠNH phụ trách trích đăng
Đã đăng:
NGUYỄN THỊ LỘ Tiểu thuyết lịch sử
(Đọan 1)
NGUYỄN THỊ LỘ Tiểu thuyết lịch sử
(Đọan 2)
NGUYỄN THỊ LỘ Tiểu thuyết lịch sử
(Đọan 3)
NGUYỄN THỊ LỘ Tiểu thuyết lịch sử
(Đọan 4)
NGUYỄN THỊ LỘ Tiểu thuyết lịch sử
(Đọan 5)
NGUYỄN THỊ LỘ Tiểu thuyết lịch sử
(Đọan 6)
NGUYỄN THỊ LỘ Tiểu thuyết lịch sử
(Đọan 7)
NGUYỄN THỊ LỘ Tiểu thuyết lịch sử
(Đọan 8)
NGUYỄN THỊ LỘ Tiểu thuyết lịch sử
(Đọan 9)
NGUYỄN THỊ LỘ Tiểu thuyết lịch sử
(Đọan 10)
Trở về Trang Chính
|