|
Khi người ta bắt đầu có tuổi,hình như dĩ vãng
mà lúc tuổi thanh niên ít để ý đến,nay cứ hay lởn vởn hiện ra
trong đầu khi ta nhìn vào những sự việc đang diễn ra trước
mắt.Chẳng hạn thấy các cháu bé bắt đầu đi học lại nghĩ đến ngày
xưa mình đi học như thế nào.
Người già hay quẩn quanh với những ký ức đã
quá xa xưa,mà nếu đem ra kể lại cho đám con cháu,chúng chán ngấy
như những chuyện cổ tích mà chúng đã được nghe kể đi,kể lại
nhiều lần suốt thời ấu thơ như chuyện Tấm Cám hay chuyện Cô bé
Quàng Khăn Đỏ.Có những chuyện thật 100%,ngày nay nghĩ lại chính
chúng ta cũng cứ ngỡ như mơ, như không có thật thì bảo sao đám
con cháu chúng tin cho được.Mà quả thật có nhiều người trong
chúng ta có vài kỷ niệm trong đời mà mình cho là ý nhị đã hào
hứng kể đi,kể lại cho những người thân quen,khi có dịp,mà lần
nào cũng tưởng như mới kể lần đầu đến nỗi người nghe thuộc lòng
có thể kể thay cho người kể,nếu lanh miệng và cả hai sẽ cười xòa
thông cảm!
Chuyện ngày xưa đi học thì tùy theo vùng miền
thành thị hay thôn quê,giàu hay nghèo mà nó lại thay đổi.Nếu nói
về giai đoạn trước 1945 thì chúng tôi chỉ biết sơ sơ qua nghe kể
lại.Lúc đó là giao thời giữa Nho và Tây học,nhiều người đang học
chữ Nho quay sang học chữ quốc ngữ,chữ Tây .Ai đó đã viết :
Cái học nhà Nho đã hỏng
rồi,
Mười người đi học chín người
thôi.
Các khoa thi Hương,Thi Đình,Thi Hội đã bỏ
cả,triều đình không còn tuyển quan lại theo cách đó mà các ông
Phán, ông Thông phải biết chữ quốc ngữ,phải biết tiếng Tây thì
mới đi làm việc được.Tuổi thanh niên hồi đó ai cũng đã có thời
vác bút nghiên theo các thầy đồ học sách thánh hiền.Lớp học tại
nhà thầy thường không đông lắm,học trò ngồi trên chiếu,bút
nghiên trước mặt,thầy ngồi trên bàn có cây roi để sẵn:hay chữ dữ
đòn.
Nhưng học chữ Nho để không dùng vào việc gì
ngoài ngâm vịnh,đối trướng , không mang lại lợi ích kinh tế nên
dần dần các lớp học cứ vắng dần và những lớp chữ quốc ngữ mọc
lên thay thế.
Vũ đình Liên và bài thơ Ông Đồ Già đã nói lên
nỗi buồn man mác về sự chuyển biến của thời cuộc trong lòng
những người đương thời :
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Trên phố đông người qua.
.........
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay.
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thấm,
Mực đọng trong nghiên sầu!
......
Lá vàng rơi trên giấy,
Ngoài trời mưa bụi bay
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ,
Hồn ở đâu bây giờ?
Thú thật tôi cũng không biết mấy thầy giáo
làng đã đi học chữ quốc ngữ và chữ tây ở đâu nhưng về làng mở ra
những lớp học mà trong đó đám học sinh không đồng đều về tuổi
tác,trình độ và phong cách của thầy cũng không khác mấy với thầy
đồ dạy chữ Nho và học trò ngồi học cũng không khác gì với đám
cha anh đã từng học chữ Nho trước đó.Có khác chăng là bút lông
đã được thay bằng bút tre hoặc bút sắt và mực tàu mài trong
nghiên thì thay bằng mực đựng trong lọ.
Phải công nhận là dân tộc mình hiếu học,dù
nghèo khó,dù vất vả trăm chiều,vẫn phải lo cho con cháu mình
được học hành biết chữ nghĩa với tất cả khả năng của gia đình.Ở
nông thôn,những nhà nho uyên thâm hoặc không muốn làm quan,hoặc
chưa đỗ đạt thường được dân chúng trong vùng gửi gấm con em đến
học chữ thánh hiền.Các ông đồ không đòi hỏi môn sinh phải đóng
góp học phí theo một qui định nào,vì lúc đó không có danh từ học
phí như bây giờ,mà do tự nguyện và tùy theo khả năng của mỗi phụ
huynh học trò đóng góp cho thầy có phương tiện sinh tồn để hành
nghề.Chẳng có ông đồ nào giầu có nổi tiếng như ngày nay một buổi
thuyết trình thu hàng mấy trăm ngàn đến hàng triệu Đô.
Cũng đã có rất nhiều người viết về thời đi
học của mình,nhất là những người sống ở vùng quê nghèo,trường
lớp không ra hồn,thầy cô trình độ cũng tàm tạm hơn học sinh chút
ít,nhưng tất cả đều cố gắng dẫn dắt nhau vượt qua cái dốt,với
tinh thần cầu tiến vươn lên,mà sau đó nhiều người,kể cả thầy và
trò đã đạt được những học vị khá cao .
Dưới thời Pháp thuộc,chính quyền thực dân
cũng mở trường dạy văn hóa Pháp và chữ quốc ngữ ở các thành phố
lớn và ở một số quận ,huyện lỵ nhưng chỉ cho một số rất ít con
cháu những người làm việc cho chính quyền hoặc những gia đình
khá giả mới đươc học,còn con em nông dân nghèo thì học ở những
lớp học trường làng với những thầy giáo chỉ tốt nghiêp sơ học
hoặc tiểu học đã là quí lắm rồi.Nhiều thầy chỉ tốt nghiệp tiểu
học nhưng vẫn đứng dạy lớp nhất một cách vững vàng,mà sau này
nhiều thầy đã đỗ bằng Thành Chung(Trung Học Đệ Nhất Cấp) cũng
không sánh bằng.
Phải nói rằng,dân ta lúc đó đại đa số là mù
chữ,một số ít biết chữ nho lõm bõm,một phần vì nghèo,một phần vì
chủ trương cai trị của thực dân chỉ khai thác tài nguyên mà
không khai thông dân trí.Nhưng tinh thần hiếu học vẫn tiềm
tàng,thằng chột dắt thằng mù,nên ở đâu cũng có người dạy học và
người học,dù ở nơi hẻo lánh xa xôi,quê mùa lạc hậu.Nhất là ở
những vùng theo Đạo Thiên Chúa,các nhà thờ thường mở những lớp
học cho con em trong vùng vào học,dù chỉ là những lớp sơ học,học
tại đây học sinh chỉ biết đọc biết viết,làm những con tính đơn
giản,học văn trong cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư mộc mạc,đơn giản
nhưng nhưng cô đọng những nội dung về đạo làm người,gần gũi với
truyền thống đạo lý và tình cảm dân tộc.Muốn học lên cao hơn
gia đình phải có tiền,lên trường Huyện ,trường tỉnh hay Hà Nội
Thời Việt Minh,người ta cũng phát động nhân
dân xóa mù chữ,chống giặc dốt,ở mỗi địa phương cũng tổ chức lớp
Bình Dân Học Vụ,cũng có những toán dân quân đón đường đi chợ
khảo chữ,nếu ai đọc không được thì bị đeo bảng giặc dốt hoặc vẽ
vôi chữ giặc dốt vào lưng cho xấu hổ.Phong trào lúc đầu rất xôm
tụ,nhưng sau đó cũng xẹp và kết quả không là bao.Thời gian
đó,người không biết chữ,khi ra đường luôn luôn phải lội
ruộng,luồn rào để tránh toán kiểm tra khảo chữ như hiện nay ra
đường quốc lộ đi xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm phải chui vào
hẻm để tránh Công An Giao Thông vậy.
Ở những vùng tương đối ổn định ,học trò trong
một lớp chênh lệch tuổi tác với nhau khá nhiều,các bậc học cũng
có chia ra Tiểu học,Trung học...Ở tiểu học khoảng 5 năm có hai
cấp thi:Bằng Sơ Học(cỡ lớp ba) và bằng Tiểu Học(cỡ lớp Năm hay
lớp Nhất).Ở bậc Trung học khoảng 7 năm có hai cấp thi:Bằng Trung
Học Đệ Nhất Cấp hay Diplome(cỡ lớp Đệ Tứ hay lớp 9)và bằng Tú
Tài(có Tú Tài 1 ở lớp đệ nhị hay lớp 11 và Tú Tài 2 ở lớp đệ
nhất hay lớp 12).Cấp Đại Học chỉ có tại Hà Nội.Hồi trước 1954,kỳ
thi Tú Tài chỉ tổ chức tại Hà Nội(có lẽ có ở Huế và Sàigòn).Thí
sinh ở các tỉnh về Hà nội thi thường bị các cô cậu Hànội chê là
quê mùa và trình độ kém.Điều đó cũng đúng phần nào vì Hà Nội lúc
ấy là nơi thanh lịch nhất và điều kiện học tập không tỉnh nào
bằng.Ở các tỉnh chỉ có tới lớp đệ nhị,cuối khóa thi Tú Tài 1,còn
muốn học lớp đệ nhất phải ra Hà nội mới có.
Cũng phải nói rằng thời đó đậu được bằng Tú
Tài 1 đã là danh giá lắm rồi,tương lai đầy hứa hẹn và được người
người trọng vọng,một tiếng cậu Tú,cô Tú,hai tiếng cô Tú,cậu Tú
vì có khi cả mấy làng mới có một người như vậy.
Tuy điều kiện học hành không đồng đều,nhưng
qua các kỳ thi,các chuẩn mực học vấn vẫn được tôn trọng,không có
nạn học giả bằng thật,không có nạn ngồi nhầm lớp,không có tham ô
trong ngành giáo dục.Việc tôn sư trọng đạo là có thật,thầy ra
thầy,trò ra trò.Nhiều năm sau thầy trò gặp lại nhau,vẫn tương
kính nhau như ngày nào.
Thế hệ những học trò cũ ngày ấy giờ đã là
ông,là bà,là cụ kỵ,tuổi tác đã vào loại xưa nay hiếm.Khi nhớ lại
thời ấy đi học trong những điều kiện tồi tàn,thiếu thốn,đầy trở
ngại do thời cuộc và chiến tranh,đang học chỗ này phải chuyển
đến chỗ khác để tránh bom,để chạy giặc,cơm không đủ ăn,áo không
đủ mặc.Một dân tộc hiếu học ,quật cường như vậy mà ngày nay vẫn
đang ở vị thế thấp kém trong cộng đồng loài người thì cũng là
một điều lạ.
Trở về Trang Chính
|