THUỞ XƯA ĐI HỌC


 

Hoành Đông

20 tháng 09 năm 2007

Khi người ta bắt đầu có tuổi,hình như dĩ vãng mà lúc tuổi thanh niên ít để ý đến,nay cứ hay lởn vởn hiện ra trong đầu khi ta nhìn vào những sự việc đang diễn ra trước mắt.Chẳng hạn thấy các cháu bé bắt đầu đi học lại nghĩ đến ngày xưa mình đi học như thế nào.

 

Người già hay quẩn quanh với những ký ức đã quá xa xưa,mà nếu đem ra kể lại cho đám con cháu,chúng chán ngấy như những chuyện cổ tích  mà chúng đã được nghe kể đi,kể lại nhiều lần suốt thời ấu thơ như chuyện Tấm Cám hay chuyện Cô bé Quàng Khăn Đỏ.Có những chuyện thật 100%,ngày nay nghĩ lại chính chúng ta cũng cứ ngỡ như mơ, như không có thật thì bảo sao đám con cháu chúng tin cho được.Mà quả thật có nhiều người trong chúng ta có vài kỷ niệm trong đời mà mình cho là ý nhị đã hào hứng kể đi,kể lại cho những người thân quen,khi có dịp,mà lần nào cũng tưởng  như mới kể lần đầu đến nỗi người nghe thuộc lòng có thể kể thay cho người kể,nếu lanh miệng và cả hai sẽ cười xòa thông cảm!

 

Chuyện ngày xưa đi học thì tùy theo vùng miền thành thị hay thôn quê,giàu hay nghèo mà nó lại thay đổi.Nếu nói về giai đoạn trước 1945 thì chúng tôi chỉ biết sơ sơ qua nghe kể lại.Lúc đó là giao thời giữa Nho và Tây học,nhiều người đang học chữ Nho quay sang học chữ quốc ngữ,chữ Tây .Ai đó đã viết :

                  

                  Cái học nhà Nho đã hỏng rồi,

             Mười người đi học chín người thôi.

 

Các khoa thi Hương,Thi Đình,Thi Hội đã bỏ cả,triều đình không còn tuyển quan lại theo cách đó mà các ông Phán, ông Thông phải biết chữ quốc ngữ,phải biết tiếng Tây thì mới đi làm việc được.Tuổi thanh niên hồi đó ai cũng đã có thời vác bút nghiên theo các thầy đồ  học sách thánh hiền.Lớp học tại nhà thầy thường không đông lắm,học trò ngồi trên chiếu,bút nghiên trước mặt,thầy ngồi trên bàn có cây roi để sẵn:hay chữ dữ đòn.

 

Nhưng học chữ Nho để không dùng vào việc gì ngoài ngâm vịnh,đối trướng , không mang lại lợi ích kinh tế nên dần dần các lớp học cứ vắng dần và những lớp chữ quốc ngữ mọc lên thay thế.

 

Vũ đình Liên và bài thơ Ông Đồ Già đã nói lên nỗi buồn man mác về sự chuyển biến của thời cuộc trong lòng những người đương thời :

                         

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Trên phố đông người qua.

.........

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay.

 

Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thấm,

Mực đọng trong nghiên sầu!

......

Lá vàng rơi trên giấy,

Ngoài trời mưa bụi bay

 

Năm nay đào lại nở,

Không thấy ông đồ xưa.

Những người muôn năm cũ,

Hồn ở đâu bây giờ?

 

Thú thật tôi cũng không biết mấy thầy giáo làng đã đi học chữ quốc ngữ và chữ tây ở đâu nhưng về làng mở ra những lớp học mà trong đó đám học sinh không đồng đều về tuổi tác,trình độ và phong cách của thầy cũng không khác mấy với thầy đồ dạy chữ Nho và học trò ngồi học cũng không khác gì với đám cha anh đã từng học chữ Nho trước đó.Có khác chăng là bút lông đã được thay bằng bút tre hoặc bút sắt và mực tàu mài trong nghiên thì thay bằng mực đựng trong lọ.

 

Phải công nhận là dân tộc mình hiếu học,dù nghèo khó,dù vất vả trăm chiều,vẫn phải lo cho con cháu mình được học hành biết chữ nghĩa với tất cả khả năng của gia đình.Ở nông thôn,những nhà nho uyên thâm hoặc không muốn làm quan,hoặc chưa đỗ đạt thường được dân chúng trong vùng gửi gấm con em đến học chữ thánh hiền.Các ông đồ không đòi hỏi môn sinh phải đóng góp học phí theo một qui định nào,vì lúc đó không có danh từ học phí như bây giờ,mà do tự nguyện và tùy theo khả năng của mỗi phụ huynh học trò đóng góp cho thầy có phương tiện sinh tồn để hành nghề.Chẳng có ông đồ nào giầu có nổi tiếng như ngày nay một buổi thuyết trình thu hàng  mấy trăm ngàn đến hàng triệu Đô.

 

Cũng đã có rất nhiều người viết về thời đi học của mình,nhất là những người sống ở vùng quê nghèo,trường lớp không ra hồn,thầy cô trình độ cũng tàm tạm hơn học sinh chút ít,nhưng tất cả đều cố gắng dẫn dắt nhau vượt qua cái dốt,với tinh thần cầu tiến vươn lên,mà sau đó nhiều người,kể cả thầy và trò đã đạt được những học vị khá cao .

 

Dưới thời Pháp thuộc,chính quyền thực dân cũng mở trường dạy văn hóa Pháp và chữ quốc ngữ ở các thành phố lớn và ở một số quận ,huyện lỵ nhưng chỉ cho một số rất ít con cháu những người làm việc cho chính quyền hoặc những gia đình khá giả mới đươc học,còn con em nông dân nghèo thì học ở những lớp học trường làng với những thầy giáo chỉ tốt nghiêp sơ học hoặc tiểu học đã là quí lắm rồi.Nhiều thầy chỉ tốt nghiệp tiểu học nhưng vẫn đứng dạy lớp nhất một cách vững vàng,mà sau này nhiều thầy đã đỗ bằng Thành Chung(Trung Học Đệ Nhất Cấp) cũng không sánh bằng.

 

Phải nói rằng,dân ta lúc đó đại đa số là mù chữ,một số ít biết chữ nho lõm bõm,một phần vì nghèo,một phần vì chủ trương cai trị của thực dân chỉ khai thác tài nguyên mà không khai thông dân trí.Nhưng tinh thần hiếu học vẫn tiềm tàng,thằng chột dắt thằng mù,nên ở đâu cũng có người dạy học và người học,dù ở nơi hẻo lánh xa xôi,quê mùa lạc hậu.Nhất là ở những vùng theo Đạo Thiên Chúa,các nhà thờ thường mở những lớp học cho con em trong vùng vào học,dù chỉ là những lớp sơ học,học tại đây học sinh chỉ biết đọc biết viết,làm những con tính đơn giản,học văn trong  cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư mộc mạc,đơn giản nhưng nhưng cô đọng những nội dung về đạo làm người,gần gũi với truyền thống đạo lý và tình cảm dân tộc.Muốn học lên cao hơn gia đình phải có tiền,lên trường Huyện ,trường tỉnh hay Hà Nội

 

Thời Việt Minh,người ta cũng phát động nhân dân xóa mù chữ,chống giặc dốt,ở mỗi địa phương cũng tổ chức lớp Bình Dân Học Vụ,cũng có những toán dân quân đón đường đi chợ khảo chữ,nếu ai đọc không được thì bị đeo bảng giặc dốt hoặc vẽ vôi chữ giặc dốt vào lưng cho xấu hổ.Phong trào lúc đầu rất xôm tụ,nhưng sau đó cũng xẹp và kết quả không là bao.Thời gian đó,người không biết chữ,khi ra đường luôn luôn phải lội ruộng,luồn rào để tránh toán kiểm tra khảo chữ như hiện nay ra đường quốc lộ đi xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm phải chui vào hẻm để tránh Công An Giao Thông vậy.

 

Ở những vùng tương đối ổn định ,học trò trong một lớp chênh lệch tuổi tác với nhau khá nhiều,các bậc học cũng có chia ra Tiểu học,Trung học...Ở tiểu học khoảng 5 năm có hai cấp thi:Bằng Sơ Học(cỡ lớp ba) và bằng Tiểu Học(cỡ lớp Năm hay lớp Nhất).Ở bậc Trung học khoảng 7 năm có hai cấp thi:Bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp hay Diplome(cỡ lớp Đệ Tứ hay lớp 9)và bằng Tú Tài(có Tú Tài 1 ở lớp đệ nhị hay lớp 11 và Tú Tài 2 ở lớp đệ nhất hay lớp 12).Cấp Đại Học chỉ có tại Hà Nội.Hồi trước 1954,kỳ thi Tú Tài chỉ tổ chức tại Hà Nội(có lẽ có ở Huế và Sàigòn).Thí sinh ở các tỉnh về Hà nội thi thường bị các cô cậu Hànội chê là quê mùa và trình độ kém.Điều đó cũng đúng phần nào vì Hà Nội lúc ấy là nơi thanh lịch nhất và điều kiện học tập không tỉnh nào bằng.Ở các tỉnh chỉ có tới lớp đệ nhị,cuối khóa thi Tú Tài 1,còn muốn học lớp đệ nhất phải ra Hà nội mới có.

 

Cũng phải nói rằng thời đó đậu được bằng Tú Tài 1 đã là danh giá lắm rồi,tương lai đầy hứa hẹn và được người người trọng vọng,một tiếng cậu Tú,cô Tú,hai tiếng cô Tú,cậu Tú vì có khi cả mấy làng mới có một người như vậy.

 

Tuy điều kiện học hành không đồng đều,nhưng qua các kỳ thi,các chuẩn mực học vấn vẫn được tôn trọng,không có nạn học giả bằng thật,không có nạn ngồi nhầm lớp,không có tham ô trong ngành giáo dục.Việc tôn sư trọng đạo là có thật,thầy ra thầy,trò ra trò.Nhiều năm sau thầy trò gặp lại nhau,vẫn tương kính nhau như ngày nào.

 

Thế hệ những học trò cũ ngày ấy giờ đã là ông,là bà,là cụ kỵ,tuổi tác đã vào loại xưa nay hiếm.Khi nhớ lại thời ấy đi học trong những điều kiện tồi tàn,thiếu thốn,đầy trở ngại do thời cuộc và chiến tranh,đang học chỗ này phải chuyển đến chỗ khác để tránh bom,để chạy giặc,cơm không đủ ăn,áo không đủ mặc.Một dân tộc hiếu học ,quật cường như vậy mà ngày nay vẫn đang ở vị thế thấp kém trong cộng đồng loài người thì cũng là một điều lạ.

 

  Trở về Trang Chính