|
Thành
quả này giúp các cộng đồng sống ven biển có thể giảm bớt thiệt
hại do thủy triều đỏ gây ra. Các nhà hóa học thuộc Học viện công
nghệ Massachusetts đã đưa ra giải thích về cơ chế tảo biển gây
ra những thiệt hại định kỳ cho các loài thân mềm và giáp xác.
Các nhà khoa học đã mô tả về thành phần hợp thành
độc tố chết người của thủy triều đỏ. Họ đã khám phá ra phương
pháp tổng hợp một hóa chất từ tảo biển để ngăn ngừa những độc tố
này.
Hiểu
được cơ chế xảy ra của thủy triều đỏ có thể giúp các nhà khoa
học tính toán các mô hình ngăn ngừa những đợt bùng phát, mang ý
nghĩa sinh thái học và giảm những thiệt hại kinh tế. Đơn cử một
ví dụ, ngành công nghiệp chế biến sò, vẹm của bang New England
(Mỹ) phải hứng chịu thiệt hại hàng triệu đô la trong suốt đợt
bùng phát năm 2005, thủy triều đỏ đã giết chết 30 con lợn biển
dọc theo bờ biển bang Florida trong mùa xuân.
Khám
phá được thực hiện bởi giáo sư Timothy Jamison và nghiên cứu
sinh Ivan Vilotijevic, mở ra ánh sáng thấu hiểu cơ chế sinh ra
thủy triều đỏ của tảo dinoflagellates (nhóm tảo đơn bào 2 roi),
cũng như đẩy nhanh những cố gắng phát triển loại thuốc sơ nang
có hợp chất gần gũi với độc tố của thủy triều đỏ.
Thủy triều đỏ được biết đến dưới các đợt nở hoa
bùng phát của tảo biển, tấn công và làm tổn thương hàng loạt đối
với động vật biển giáp xác và thân mềm như cua, tôm, trai, sò,
vẹm. Sẽ vô cùng nguy hiểm cho con người khi ăn phải những động
vật đã bị nhiễm độc này. Cơ chế nhóm tảo dinoflagellates sinh ra
những đợt thủy triều đỏ mang độc tố vẫn còn là một bí ẩn, nhưng
đó có thể là một cơ chế phòng thủ được triển khai xuất phát từ
những thay đổi của các dòng hải lưu như thay đổi nhiệt độ hay
trạng thái quá tải của môi trường.
Một
trong những thành phần độc tố cơ bản của thủy triều đỏ có tên
gọi brevetoxin - một hợp chất cao phân tử rất khó tổng hợp, độc
tố này có khả năng gây tê liệt hệ thần kinh rất mạnh.
22 năm
trước, nhà hóa học Koji Nakanishi tại Đại học Columbia đã đề
xuất một chu trình, theo đó các phản ứng hóa học xảy ra theo
từng bước, nhờ đó nhóm tảo dinoflagellates sinh ra
brevetoxin bên cạnh các độc tố khác có trong thành phần thủy
triều đỏ. Tuy nhiên, các nhà hóa học đã thất bại khi cố gắng tái
tạo ra thủy triều đỏ trong phòng thí nghiệm theo chu trình này.
Quá nhiều thất bại đã khiến cho giả thuyết Nakanishi chưa bao
giờ được chứng mính là đúng đắn.
"Rất
nhiều người nghĩ rằng thực hiện các phản ứng tổng hợp độc tố
theo từng bước là không thể", Jamison nói. "Bởi giả thuyết
Nakanishi đưa ra nhiều giải thích rắc rối và phức tạp cho những
độc tố, dẫn đến rất nhiều khả năng xảy tùy theo phán đoán, nhưng
cho đến nay vẫn chưa đưa ra được bằng chứng nào".
Timothy
Jamison và Ivan Vilotijevic đã làm việc cùng nhau để đưa ra bằng
chứng đầu tiên minh chứng giả thuyết Nakanishi.
Nghiên
cứu của họ cũng sẽ giúp thúc đẩy nỗ lực tìm ra những loại thuốc
mới, brevenal - loại chất ức chế chống lại những ảnh hưởng của
brevetoxin, cũng được sinh ra trong thủy triều đỏ, hứa hẹn tiềm
năng to lớn trong cách điều trị chứng sơ nang (CF - cystic
fibrosis).
"Giờ
đây chúng tôi có thể điều chế những phân tử phức tạp một cách
nhanh chóng, chúng tôi hy vọng sẽ dễ dàng tìm kiếm được những
chất bảo vệ chống lại thủy triều đỏ & thậm chí phép điều trị
chứng sơ nang hiệu quả hơn",
Jamison cho biết.
Cho đến
giờ, nhóm nghiên cứu mới chỉ tổng hợp được vài milligrams độc tố
thủy triều đỏ và các hợp chất có liên quan nhờ sử dụng phương
pháp không phân tầng, đây là kết quả đầy cố gắng của rất nhiều
người.
Quá
trình tổng hợp phụ thuộc vào hai nhân tố then chốt - phản ứng
mồi và xảy ra dưới nước.
Rất
nhiều độc tố trong thủy triều đỏ bao gồm chuỗi mắt xích dài gồm
6 thành phần mạch vòng móc nối với nhau liên tiếp. Tuy nhiên,
thành phần khởi đầu của chuỗi độc tố là một phân tử rượu mạch
vòng hướng đến 5 thành phần còn lại. Để tổng hợp được độc tố
thủy triều đỏ, các nhà nghiên cứu đã gắn một "mẫu" gồm 6 vòng
thành phần vào mắt xích -o- của phân tử rượu. Đó là biện pháp
đơn giản nhưng rất hiệu quả để khởi động các đợt phản ứng dẫn
dắt chuỗi phản ứng tạo ra độc tố thủy triều đỏ.
"Bí
quyết nằm ở chỗ tạo ra một cú hích nhẹ phù hợp và mọi việc sẽ
diễn ra êm xuôi", Jamison nói.
Các
nhà nghiên cứu suy xét rằng trong quần thể tảo dinoflagellates,
phản ứng ban đầu được kích hoạt bởi một enzyme thay vì một "mẫu"
cung cấp sẵn.
Chìa
khóa thành công của phương pháp tổng hợp này nằm ở chỗ bố trí
phản ứng trong nước. Nước thường là dung môi yếu cho các phản
ứng hữu cơ, bởi vậy phần lớn các phản ứng trong phòng thí nghiệm
thường được thực hiện trong các dung môi hữu cơ. Tuy nhiên, khi
Viltijevic dùng nước làm dung môi cho phản ứng với quan điểm cho
rằng phản ứng sẽ xảy ra nhanh hơn và có chọn lọc hơn.
Mặc dù
đó có thể là một trùng hợp khi chuỗi phản ứng xảy ra tốt hơn
trong nước. Nhưng thực tế tảo dinoflagellates là một thực thể
sống của biển bởi thế mà nước có thể là thành phần liên hệ trực
tiếp với quá trình sinh ra độc tố hoặc đóng vai trò quan trọng,
Jamison nói.
Theo
kết quả này, các nhà nghiên cứu tin tưởng rằng những nhà hóa
học hữu cơ nên thường xuyên thử nghiệm các phản ứng trong môi
trường nước cũng như môi trường dung môi hữu cơ.
Nghiên
cứu được cấp vốn bởi Viện khoa học y học quốc gia, Phòng thí
nghiệm nghiên cứu Merck, Boehringer Ingelheim, và MIT.
"Đó là
một bước tiến đầy giá trị trong chuỗi công việc phức tạp tiếp
theo", John Schwab, giám đốc quản lý các nghiên cứu hóa học hữu
cơ tại Viện khoa học y học quốc gia nói. "Điều đó không chỉ cho
phép các nhà hóa học tổng hợp các loại hỗn hợp phân tử quan
trọng dễ dàng hơn mà còn cung cấp chìa khóa để thấu hiểu cách mà
tự nhiên tạo ra cùng một dạng phân tử".

Nam Hy
Hoàng Phong (Dịch theo Anne Trafton, MIT News)
Nguồn:
Scientists at MIT unraveling the secrets of red tide
Url:
http://web.mit.edu/newsoffice/2007/print/red-tide-0830-print.html
Trở về Trang Chính
|