|
Trong bài thơ Ngẫu Đề và
Vọng Thiên Thai Tự trong tập Nam Trung Tạp Ngâm của Nguyễn Du
hay
nhắc đến 3 chử: Đế Thành Đông .
Vậy Đế Thành Đông nên
được hiểu và chú thích như thế nào
一身臥病帝城東
知交怪我愁多夢
Nhất thân ngọa bệnh đế thành đông
Tri giao quái ngã sầu đa mộng
(NGẨU
ĐỀ)
Còn ta đau yếu nằm rụi ở phía đông
kinh thành
Các bạn thân trách ta hay buồn hay mơ mộng
Hay bài Vọng Thiên Thai Tự có câu:
Thiên Thai sơn
tại đế thành đông
Núi Thiên
Thai ở phía Ðông kinh thành
Sau khi Nguyễn Hoàng tiến vào nam , phủ của các chúa Nguyễn đã
trải qua đến 5 lần di dời và thay đổi vị trí. Vị trí của các thủ
phủ có khuynh hướng chuyển dần về phía nam như ý định của dòng
họ này .Đầu tiên là Ái Tử (1558-1670), Trà Bát (1570-1600), Dinh
Cát (1600-1626), Phước Yên (1626-1636) , Bác Vọng (1712-1738) ,
Phú Xuân-Kim Long và cuối cùng là Kinh thành Huế (1806 )
Chúa Nguyễn Phúc Lan cho dời thủ phủ từ
Phước Yên về Kim Long và xây dựng nó trở thành một đô thị ven bờ
sông Hương, việc dựng thủ phủ Kim Long được tiến hành từ năm
1635, nhưng đến đầu năm 1636 thì mới chính thức trở thành thủ
phủ của Đàng Trong. Đô Thành Phú Xuân có qui mô lớn hơn các thủ
phủ trước đó và đã được sắp xếp thứ tự hơn, lấy sông Hương làm
trục chính. Phía tây nam thủ phủ là lăng mộ của chúa Nguyễn
Hoàng, chúa Nguyễn Phúc Nguyên, chúa Nguyễn Phúc Lan.
Phía dưới theo Lê Quý Đôn đã mô tả trong Phủ Biên
tạp lục “ Ở trên các phủ thờ ở Kim-long giữa thì cung phủ hành
lang, dưới thì nhà cửa ở Phủ-Ao. Nguyễn Phúc Khoát xưng vương
hiệu, đổi tên đề biển, có hai điện
Kim-Hoa, Quang-Hoa, có các nhà Tựu-Lạc, Chính-Quan, Trung-Hoà,
Di-Nhiên, đài Sướng-Xuân, các Dao-Trì, các Triêu-Dương, các
Quan-Thiên, đình Thụy-Vân, hiên Đồng-Lạc, am Nội-Viện, đình
Giáng-Hương, công đường, trường học và trường súng. Ở thượng lưu
về bờ nam có phủ Dương-Xuân và Phủ Cam. Ở trên nữa có phủ
Tập-Tượng; lại dựng điện Trường-Lạc, hiên Duyệt-Võ, mái lớn nguy
nga, đài cao rực rỡ, mà giải võ, tường bao quanh, cửa bốn bề,
chạm khắc vẽ vời, khéo đẹp cùng cực. Các nhà đều lát nền bằng
đá, trên lát ván kiền kiền, những máng xối đều làm bằng kẽm để
hứng nước, trồng xen cây cối, cây vả cây mít đều to mấy ôm. Vườn
sau thì núi giả đá quí, ao vuông hồ quanh, cầu vồng thuỷ tạ,
tường trong tường ngoài đều xây dày mấy thước, lấy vôi và mảnh
xứ đắp thành hình rồng phượng, lân hổ, cỏ hoa. Ở thượng lưu và
hạ lưu Chính dinh đều là nhà quân bày hàng như bàn cờ. Những nhà
của thuỷ quân, xưởng thuyền và kho thóc thì ở các xã Hà-Khê,
Thọ-Khang trên thượng lưu. Còn nhà vườn của các công hầu quyền
quí thì chia bày ở hai bờ phía thượng lưu sông Phú Xuân, cùng
hai bờ sông con bên hữu phủ Cam. Ở thượng lưu hạ lưu phia trước
Chinh dinh thì chợ phố liền nhau, đường cái đi ở giữa, nhà cửa
chia khoảng tiếp nhau, đều là mái ngói. Cây to bóng mát, tả hữu
thành hàng. Thuyền buôn bán, đò dọc ngang, đi lại như mắc cửi.
Bài "Sơn minh" của Chu Dũ-tín có câu rằng: "Thanh ý xuân môn,
câu cử giao ảnh; lục hoè thu thị, chu tiếp tương thông" [Cửa
xuân như giải vóc xanh, khe ngòi ánh lộng; chợ thu dưới bóng hoè
lục, thuyền chèo lại qua], tưởng cảnh sắc cũng như thế này thôi"
.
Về phía bờ nam có phủ Dương Xuân và phủ Cam, phía
trên có phủ Tập Tượng. Nhà cửa, doanh trại của binh lính, Phủ đệ
của các bậc thân vương, quan lại thì bố trí kiểu ô bàn cờ dọc
hai bờ sông Hương và sông An Cựu. Ở phía hạ lưu có phố chợ nối
liền Bao Vinh, Tiên Nộn, Sình… vùng đất này tạo thành thương
cảng Thanh Hà
Đức Giám Mục La Baume, cùng cha Favre đến Đàng
Trong vào ngày 1/5/1739, đến năm 1741 thì Đức Giám mục qua đời,
trong thời gian ở Đàng trong 2 cha được chúa Nguyễn Phúc Khoát
tiếp kiến tại đô thành Phú Xuân – Kim Long
Cha Favre mô tả về đất
Phú Xuân như sau “ Đàng Trong.... chỉ có một thành phố, mà người
ta gọi theo tiếng địa phương là Huế …Tôi đã đến… Huế, hay đến
Triều Đình. Thành phố duy nhất này là một tập hợp những công
trình kiến trúc được phân chia thành khu phố tạo thành như những
thôn và làng. Thành phố được xây dựng trong một bình nguyên đẹp,
được phân chia từ phía mặt trời mọc đến phía mặt trời lặn bằng
một con sông lớn. Nước sông chảy nhẹ nhàng, trên sông có một số
thuyền chiến, những thuyền lớn và thuyền nhỏ. Trên bờ sông người
ta thấy những cung điện đẹp nhất, vài cái lợp ngói, những cái
khác lợp bằng rơm hay tranh, những cửa hàng giàu có nhất và
những quảng trường rộng lớn nhất.
Phủ của chúa nằm ở phía Bắc của sông
lớn, trên một hòn đảo dài khoảng 1 dặm, tạo thành do một con
kênh hình vòng cung. Các quan lớn và các vương công của triều
đình cũng ở trên hòn đảo này. Đảo được gọi là Vương Đảo.
Phủ của chúa chỉ có một tầng, tất cả
đều được làm bằng gỗ, những chiếc cột làm bằng gỗ mun đen bóng
và để tự nhiên.
Vòng thứ nhất phủ được xây đắp gần như
là một cái thành được bao vây chung quanh bằng những trại lính
hình vuông. Bên ngoài còn có những lối đi chung quanh cách 4
bước lại đặt một khẩu súng đại bác bằng gang có hình cỡ bình
thường với 6 người lính canh giữ. Vị trí phủ rất rộng và có thể
có đến hơn 100 khẩu đại bác được đặt ở hai phía, hướng mặt trời
mọc và hướng nam, nơi có những cổng vào dẫn đến những trạm gác
đầu tiên. Phủ chúa được bố trí theo hình vuông, với 3 lớp thành
bao bọc. Có bảy cổng, cổng chính là cổng đẹp nhất mở ra sông,
làm thành mặt tiền của công trình, ở trên có một tháp canh. Cách
đó không xa, ở bờ trái, có 3 khẩu đại bác lớn không bao giờ được
dùng nếu không gặp những dịp vui chẳng hạn như sinh hạ được một
hoàng thái tử. Một trăm năm mươi khẩu đại bác khác nhỏ hơn, bằng
sắt hoặc bằng đồng, được đặt chung quanh phủ, cứ giữa hai cái
cột thì có một khẩu. Sau khi đã vượt qua cổng chính, ta thấy
mình đang đứng trong một cái sân rộng nơi 25 đội quân đứng gác
thay phiên nhau. Các đội quân này xếp thành hai hàng vào các dịp
thiết triều mà theo luật lệ của vương quốc, chúa cho tổ chức mỗi
tuần hai lần. Sau đó, có một phòng lớn nơi các quan đứng, các
quan võ đứng bên phải, các quan văn bên trái, mỗi người xếp hàng
theo phẩm tước của mình. Chúa được đưa đến trên một chiếc ngai,
rồi ông ngồi trước một cái bàn trên đó người ta đã bày bút, ấn
bà tấm gạc thấm thần sa màu đỏ.
Đến vòng thành thứ hai, nhỏ hơn lớp
thành đầu tiên. Nó được bao chung quanh bằng một hành lang lát
gạch, có trang trí cột và lợp mái để có thể đi dạo ở đây mà
không bất tiện khi trời mưa. Từ đấy có 4 cái cửa cao bằng tường
thành và được các binh lính dân miền núi da ngăm đen canh giữ.
Khi đi qua bên kia, người ta đến một cái sân rộng. Những nhân
vật chủ chốt của vương quốc chiếm chỗ những căn nhà đầu tiên.
Những căn tiếp theo được dành cho bà con của chúa. Về phần những
người có họ hàng xa với chúa, họ đều ở bên ngoài phủ.
Vòng thành thứ ba nơi có phủ chúa. Nó
gồm 5 công trình , công trình quan trọng nhất có 3 tầng bên trên
còn có một cái tháp để quan sát thiên tượng. Từ bên trên cái
tháp này, người ta không những nhìn thấy tất cả kinh thành, mà
cả những vùng phụ cận cũng như nhiều chỗ uốn khúc của sông trải
ra trong một khung cảnh tuyệt vời. Trong những công trình uy
nghiêm này, người ta không thấy vôi, cũng không thấy tường, cũng
không thấy đá. Tất cả đều bằng gỗ quý, được gọt đẽo, chạm, đánh
bóng rất tinh xảo. Những cây cột chẳng hạn, đều bằng một loại gỗ
màu chanh được sơn son. Người ta cứ tưởng mình đang ở trong một
nhà hát tuyệt mỹ có sàn lát bóng lộn như pha lê. Ở mỗi cửa lớn
của các căn nhà có treo các màn trướng rất đẹp, được vẻ rất thẩm
mỹ. Ở trên nóc và ở các góc mái nhà có những con rồng bằng đất
sét trắng ngậm trong miệng những cái chuông bằng vàng đung đưa
trong gió và kêu leng keng rất ăn nhịp với nhau. Nói tóm lại,
tất cả đều được bài trí, không phải để nhằm mục đích duy nhất để
ở, mà là nhằm vào sự phô trương và tráng lệ, và điều đó thật
xứng đáng với một vị chúa.
Làng Kim Long có diện tích khoảng 40ha,
giới hạn như sau: phía nam giáp sông Hương, phía đông giáp Vạn
Xuân và Phú Xuân; phía tây giáp Hà Dương (Phú Xuân) và An Đường
(Xuân Hoà); phía tây-nam giáp Trúc Lâm, An Ninh Thượng, phía bắc
giáp An Hoà và Hương Sơ. Trong địa phận của làng Kim Long, ngoài
sông Hương ở phía nam còn có sông Kim Long (tức sông Lấp) ngăn
cách làng với Phú Xuân và Vạn Xuân, và sông Bạch Yến , 3 con
sông này nối với nhau tạo vùng đất này thành một cái đảo. Người
ta gọi là Vương Đảo
Khi Nguyễn Du được vua Gia Long triệu
vời vào Phú Xuân vào năm 1805 thì Kinh thành Huế bây giờ chưa có
mãi đến năm 1806 thì nhà vua mới quyết định xây dựng kinh thành
này.
Nguyễn Du là người chứng kiến diễn biến
và tiến độ xây dựng kinh thành Huế suốt trong 15 năm liên tục,
việc xây dựng và hoàn chỉnh này còn kéo dài nhiều năm dưới triều
Minh Mạng.
Có thể nhà Nguyễn Du ở trong một xóm
dệt vãi , trong bài Ngẩu đề ông cho biết
Đinh đông châm xử thiên gia nguyệt (Dưới bóng trăng của nghìn
nhà vang dội tiếng chày nện vải nghe thình thịch)
Phần lớn
các cơ sở ngành dệt thường ở ven sông, trong sự phát triễn các
ngành nghề dưới thời các chúa Nguyễn ở Thuận Hóa – Huế nhất là
dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát Thủ công mỹ nghệ ở Phú Xuân phát triển
mạnh như nghề dệt nổi tiếng ở ven hai bờ sông Hương, Kim Long,
Triều Sơn làm nón, sản phẩm mây Thuận Hoá, làng Dương Xuân làm
chiến cụ, sản phẩm cung đình và hàng gia dụng, Bãi Dâu trồng dâu
nuôi tằm, Đốc Sơ làm giấy, nghề rèn Hiền Lương, cảng Thanh Hà
nơi hội tụ nhiều làng nghề thủ công nổi tiếng,...
Sông Bạch Yến là một sông Cùng , nó
cũng là một chi lưu của sông Hương cách chùa Linh mụ về phía
tây 1km chảy vòng phía sau đồi Hà Khê vài cây số, về sau người
ta đào thêm một khúc sông ăn thông với sông Kim Long, ngay địa
điễm đào khúc sông này cư dân ở đó lập ra một cái chợ gọi là Chợ
Thông.
Có lẽ nhà của Nguyễn Du ở phía đông Đô
thành Phú Xuân - Kim Long tức là phía dưới thủ phủ , bên bờ tả
của sông Kim Long nơi đó có một xóm dệt vãi , cách cánh đồng Bầu
Đá – An ninh về phía tây khoảng 1km , cánh đồng mà người ta đã
an táng thi hài Nguyễn Du trong cơn đại dịch năm 1820.
Thủ phủ này cũng nằm phía trên vùng núi Thiên Thai
nơi có chùa Thiên Thai nên Nguyễn Du viết, Thiên Thai sơn tại đế
thành đông là chính xác.
BS Hồ Dắc Duy
Ngày 1 tháng 3 năm 2008
Trở về Trang Chính |