ĐI TÌM MỘ TÁNG CỦA

ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU



    
      Nguyễn Du người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, con thứ bảy của Quân Công Nguyễn Nghiễm.

     Nguyễn Du sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766 ở phường Bích Câu, thành Thăng Long , tạ thế ngày 16 tháng 9 năm 1820, an táng tại cánh đồng Bầu Đá ( Bàu Đá ) , An Ninh , Phú Xuân , Bốn năm sau 1824  con trai ông là Nguyễn Ngũ đem hài cốt của cha về táng ở quê nhà, xứ Đồng Mát, nơi vườn cũ của ông ở lúc sinh thời, thuộc xóm Tiên Giáp (nay đổi là Tiên Mỹ). Năm 1928, cải táng sang xóm Đồng cùng ở xóm Tiên An, cách làng 2 cây số về phía Đông Nam trên một bãi cát hẻo lánh. Mẹ là bà Trần Thị Tần, vợ thứ ba, người Bắc Ninh (Nguyễn Nghiễm có 8 vợ, 21 người con). Thân phụ Nguyễn Nghiễm qua đời lúc Nguyễn Du mới 10 tuổi (1775) và thân mẫu mất lúc Nguyễn Du 13 tuổi nên Nguyễn Du về sống với người anh khác mẹ là Hồng Lĩnh Hầu Nguyễn Khản, trấn thủ Sơn Tây-Hưng Hóa, làm quan Tả Tư Giảng cho thế tử Trịnh Tông. Được anh nuôi dưỡng và cho ăn học. Nguyễn Du đỗ tam trường thi Hương khi 19 tuổi, là tác giải của truyện Kiều và một số thơ văn bằng chử Hán , ông là nhà đại thi hào của VN và của cả của thế giới

Năm 1806 Vua Gia Long cho mời ông ra làm quan ở kinh đô , phong tước Du Đức Hầu. giữ chức Đông Các Học Sĩ; năm 1809, làm Bố Chính tỉnh Quảng Bình., tháng 2 năm 1813, Nguyễn Du được thăng Cần Chánh Điện Học Sĩ, rồi có chỉ sai làm Chính Sứ tuế cống đi Trung Hoa và năm 1815 ông trở về Kinh được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri.

Đi tìm mộ táng của nhà đại thi hào , một người tài hoa nhất mực của VN , một người yêu tuyệt vời của một phụ nử sống bên cạnh hồ Tây là một công việc đòi hỏi phải thận trọng , tỷ mĩ nghiêm túc

Trước khi khảo sát và xác định trên thực địa mộ táng của Nguyễn Du chúng tôi phải khảo cứu và giãi mã các bí ẫn trong thơ văn của ông , đặc biệt là các bài thơ trong tập Nam Trung tạp ngâm , tìm hiểu suốt thời gian ông sống gần 15 năm cuối đời từ 1806 đến khi ông tạ thế vào 1820 tại Phú Xuân.

Hai bài thơ Mộng đắc Thái Liên và bài Ngẫu Đề mà đã có dịp phân tích . Đó là 2 bài thơ thật trử tình , một lời tỏ tình , một thì thầm với người tình… Chúng tôi cũng tìm được nơi cư trú của ông tại đế thành nơi vương đảo Kim Long qua bài thơ Ngẫu Hứng , xác định tọa độ nơi Nguyễn Du đứng  và con sông nhỏ để ông ngắm ngôi cổ tự vùi trong đám lá vàng của mùa thu và sáng tác bài thơ Vọng Thiên Thai Tự

Sưu tra lại các vấn đề địa lý , hình thể và phát triển của vùng đất Thuận Hóa Phú Xuân và tái tạo lại nó một cách có thể chấp nhận được bằng đồ họa trên máy tính, phải đối chiếu thực tế trên mặt đất với các bức không ảnh chụp từ vệ tinh của các chương trình Google Map Satelite , World Map , Earth… với nhiều độ phóng đại để có thể hình dung vùng đất này nhất là vùng thượng nguồn của con sông ( sông Bạch Yến (Catu) , sông Lấp , vùng An Đô , La Chử , Kim Long Kẽ Vạn Xước Dũ , Eo Bầu, Nham Biều Giáp Hạ ,Chợ Thông…và đặc biệt hình thể vùng núi đá và các khoảng ruộng ở An Ninh thượng và cánh đồng Bầu Đá nơi an táng Nguyễn Du đã ghi trong tiểu sử của ông.

Phải nhờ một người bạn ở Philadelphia – Hoa kỳ có một máy tính với tốc độ xữ lý cao để hỏi ý kiến về các bức ảnh này.

Tất cả đã sửa soạn hơn một năm trước khi tôi đáp máy bay đến Huế để khảo sát thực địa trong 10 ngày . Được các bạn học củ Quốc Học 61-64 đang còn sinh sống tại Huế nhất là các bạn ở An Ninh , Nham Biều , Eo Bầu…giúp dở tối đa trong việc đi tìm mộ táng của Nguyễn Du trên cánh đồng Bàu Đá.

Rú là vùng đồi thấp thường là bìa rừng.

Bầu hay còn gọi là Bàu là vùng trũng , đất thấp thường trũng nước, bàu là một sản phẫm của thiên nhiên.

Cồn vùng đất nỗi lên ở cánh đồng hay sông.

Thông thường người ta dùng rú hay cồn để an táng người chết.

Rú Bầu Đá còn gọi là Rú Kèo Đá , Rú Vi , Rú Ri thuộc địa giới vùng Lựu bảo  phần lớn là rú đá . Rú có chiều dài khoảng 500 m , cao khoảng 30m – 50m , có thể hình dung Rú này qua câu ca dao “ Em về Lựu Bảo ăn chi , Ruộng nưa thì ít , rú ri thì nhiều ). Dưới chân rú  là cánh đồng Bầu Đá nó còn có tên là Bầu Sắn ( Bàu Sắn )

Điễm xuất phát từ cửa sông Bạch Yến Trong 2 ngày 10 và 13 tháng 3 năm 2008 cùng với anh Nguyễn Văn Xa , Lê Đình Hạnh và Phan Đình Ngân chúng tôi đi qua cầu chùa Huyền Không , thẳng đến đầu sông Lấp , qua cầu Eo Bầu, ngược về hướng tây khoảng 500 m đến ngã ba vượt lên một con dốc về hướng bắc khoảng 100 m là lên đến đỉnh Rú Bầu Đá , đoạn đường này dài khoãng 3 Km. Cánh đồng Bầu Đá là một thung lủng bao quanh 3 mặt là rú đá , phía tây chạy thẳng đến núi An Đô, dựa lưng vào dãy Trường Sơn. Chúng tôi đã phỏng đoán được tọa độ của ngôi huyệt nơi đã an táng Nguyễn Du vào ngày 18 tháng 9 năm 1820 ?

Trên đỉnh và lưng chừng rú Bầu Đá có vô số ngôi mộ chôn cất san sát nhau , có những ngôi một rất cổ , có cả nghĩa trang của các nhà thờ công giáo , duy chỉ có trên cánh đồng Bầu Đá rộng lớn nổi lên một cái cồn nhỏ mà diện tích chỉ đủ an táng một ngôi mộ , đó là ngôi mộ của quan thượng thư Hoàng Hữu Thường người xã Quảng Tế , huyện Hương Thủy , tỉnh Thừa Thiên. Con của một gia đình chài lưới ,  Năm 1873 đổ Giải Nguyên , năm 1875 đổ Tiến Sĩ , năm 1882 ông cùng với Khâm sai Trần Đình Túc thương thuyết với quân Pháp , thời Đồng Khánh ông làm Thượng thư Bộ Công , Hiệp Biện Đại Học Sĩ mất vào tháng 12 năm 1887 an táng tại cánh đồng Bàu Đá cũng là nơi mà 67 năm trước đó Nguyễn Dụ yên nghĩ nghìn thu.

Ở cánh đồng Bàu Đá cũng như lăng mộ của quan thượng thư Hoàng Hữu Thường có rất nhiều huyền thoại và nhiều điều bí ẫn cần phải làm sáng tỏ dưới ánh sáng khoa học như chuyện con Ma Ơi và cái Lỗ Sứt , những chuyện thảm khốc chung quanh việc cải táng ngôi mộ của quan Đại Thần …

Theo các nhà nghiên cứu địa lý , phong thủy…thì tọa độ lý tưởng nhất để làm mộ huyệt , hướng đặt của quan tài …là nơi nào trên cánh đồng Bầu Đá ? Ít nhất cũng phải hội đủ các yếu tố căn bản sau :

Phải chọn được cảnh đẹp phải là nơi cao ráo, hậu chẫm phải được che chắn, trước mặt phải có mạch nước có bình phong, tả hữu phải được bảo vệ …

Nếu không có được điều kiện ấy thì phải xem tuổi tác , ngày giờ chết , nhân thân của người chết hay người thân của người đó…

Mộ táng của quan Đại Thần Thượng Thư Bộ Công đáp ứng với các điều kiện căn bản đó, đó là địa huyệt thuôc loại Lôi Trạch Qui Muội , Triều sơn ( Gái về nhà chồng – nghĩa là mang theo của cải tiền bạc , mang theo sung mãn con cái làm ăn phát tài , danh vọng…) Tọa đoài hướng chấn ( Đầu người chết về hướng tây chân gát trên rú thấp về hướng đông  ) Triều sơn  ( núi qui tụ về một chổ )

Quan sát mộ táng của vị Thượng Thư Bộ Công mới thấy hết cái sở học uyên thâm của ông về khoa địa lý và phong thủy khi chọn địa huyệt là chổ dung thân ngàn năm , rất tiếc là các hậu duệ của ông không hiểu ý nghĩa sâu xa của ông nên đã cải táng đi nơi khác.

Ngôi mộ của ông phía chính tây là núi An Đô đồ sộ phía sau dãy Trường Sơn vĩ đại , phía đông gát chân lên rú Đá thấp hướng ra biển , tả hữu là 2 ngọn núi thấp có dáng dấp Thanh Long , Bạch Hổ …. Một địa huyệt mà bất cứ thầy địa lý nào cũng mơ tưởng như trong lý thuyết.

Nguyễn Du là một người tài hoa , nhạy cảm , một người thông minh sắc sảo và có một kiến thức uyên bác , nhà ông ở gần nơi chôn cất ông không đầy 1 Km lẽ nào ông và các bằng hữu lại không một lần đến đó ?

Nơi an táng nhà đại thi hào Nguyễn Du có phải cũng là mộ táng của Đại Thần Hoàng Hữu Thưởng 67 năm sau không ? sẽ là câu trả lời của các nhà nghiên cứu , lý luận và của ngành phong thủy , địa lý …

Còn với các bạn xin cho tôi gởi lời mời các bạn đến thăm nơi mà cách đây 188 năm một người tài hoa nhất mực tưởng đã yên giấc ngàn thu , nào ngờ…

 

BS HỒ ĐẮC DUY

Ngày 17 tháng 3 năm 2008

 

( Những người bạn học củ của tôi thời Quốc Học niên khóa 1961-1964 như các anh Nguyễn Văn Xa , Lê Đình Hạnh , Phan Đình Ngân , Nguyễn Đình Niêm , Trương Công Qui , Trần Xuân Sỹ , Lê Công Minh, Cao Hữu Điền …sẽ tình nguyện làm hướng dẫn viên cho các bạn )

  

 

Trở về Trang Chính