|
Đặc
biệt các làng ở nam bộ là cái ao làng , còn nét đặt trưng của
làng ở miền trung hay bắc bộ là cái giếng làng , một trong
những bộ phận không thiếu trong một quần thể kiến trúc bao gồm
cổng làng , đình làng , trường làng , đường làng , chợ làng ,
cây đa , bến nước ....giếng làng là nơi hội tụ , một điễm văn
hóa thông tin phong phú đa dạng vì thế mà giếng làng đã trở nên
một địa điễm quen thuộc trong cộng đồng làng nước ,
Ở
trong khu vực thành nội Huế có hai cái giếng cổ không ai là cư
dân ở đó mà không từng nghe nói đến đó là cái giếng sập ở ngả tư
đường Âm Hồn và Tịnh Tâm và một cái ở trong khuôn viên Tam Tòa
gần cửa Thượng Tứ , lai lịch cái giếng vuông ở trong Tam Tòa thì
có người biết chứ lịch sữ cái giếng tròn trên đường Âm Hồn thì
phải hỏi các cổ vật và xác người trăm năm được vùi lấp dưới đó
may ra mới chủ nhân nó là ai
Hiện
tại người ta mới thống kê tại Huế có 28 giếng cổ , trong đó có
24 cái giêng vuông đa số nằm trong khu vực Hoàng Thành , Tử Cấm
Thành , lăng tẫm...Thật ra thì giếng cổ ở Huế nằm ở trong các
ngôi cổ tự có từ trước khi kinh thành Huế được xây cất , khi mà
các chúa Nguyễn trên đường nam tiến khi mà kinh đô Phú Xuân –
Núi Bân nơi Quang Trung lên ngôi hoàng đế thống lỉnh đại quân
tiến về Hà Thành đuổi quân Mãn Thanh ra khỏi bờ cỏi....
Vị trí
và tình cảm gắn bó của giếng làng trong đời sống của dân quê
Việt Nam thì đọc bài viết của 2 tác giả Lý khắc Cung , Chu
quang Trứ và bài thơ của Bàng bá Lân ta mới thấy hết cái đẹp cái
sống động lung linh kỳ diệu của cái giếng làng
Ngày
xưa, nhũng cái giếng ở thôn xóm, làng mạc là nơi được sự chú ý
của mọi người. Nó thiết thực với cuộc sống, mang những nét độc
đáo, ghi lại những năm tháng, những con người, sự thăng trầm của
nhiều thế hệ.
Có
nhiều loại giếng: giếng đất, giếng ao, giếng xây, giếng lát đá
vv... Giếng thường được xây ở nơi trung tâm nhất của cộng đồng.
Người ta đón các vị thâm nho, các thầy địa lý (phong thổ) đến để
xem nguồn nước, xem cỏ gà, cây cối xung quanh, xem hướng gió
v.v... mà xác định vị trí của giếng. Giếng phải đào ở nơi
đất "ngọt", xây từ dưới lên. Phần dưới giếng được xây bằng đá
ong Sơn Tây, rồi trên mới xây và lát bằng gạch hay bằng đá. Bờ
giếng cũng được lát ra thành một vòng tròn, thoải xuống thấp,
bằng những phiến đá mặt phẳng... Xây dựng một cái giếng có khi
là cả một công trình nghệ thuật do một hay hai phương thợ có
tiếng tăm thục hiện.
Giếng
thường hòa nhập vào bóng râm những cây cổ thụ, hoặc làm mặt
gương soi bóng một ngôi đền hoặc chùa rêu phong. Bên cạnh đền
gọi là giếng đền, cạnh chùa gọi là giếng chùa. Có những cái
giếng nổi tiếng chỉ cho phép lấy nước ăn và nước pha trà. Giếng
làng Dục Tú (Đông Anh), giếng Bảo Hà (Nam Định), giếng xóm Hạ
(Phủ Lý) là những cái giếng vừa đẹp vừa ngon nhóc, nổi tiếng
khắp vùng. Người ta kháo nhau: "ăn nước giếng làng Hạ, con gái
làng cứ nõn nà ra. Con gái làng này đắt chồng nhờ giếng".
Nhưng,
cái giếng cũng bị oan: "Mắt toét là tại giếng đình, cả làng toét
mắt, riêng mình em đâu”....Câu “Ếch ngồi đáy giếng" chỉ con
người chẳng biết cái gì. Rủ nhau đi làm những chuyện không hay
ho gì gọi là: dắt nhau xuống giếng...
Trẻ em
có câu đố về cái giếng: "Vừa bằng cái nong, cả làng đong không
hết". Cái giếng mang lại nhớ nhung: Đi xa về, không thấy người
cũ, giếng đá, trăng vàng, em ở đâu?
Chúng
ta hãy nhớ lại cái giếng Cổ Loa còn gọi là giếng Mỹ Châu - Trọng
Thủy. Cái giếng này hãy còn đến ngày nay. Nó đã trải qua
hơn 2000 năm và cứ luôn luôn được nhắc tới với một tấm lòng trân
trọng và bâng khuâng. Nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải đã viết về
nó:
Nỏ
thiêng hờ hững dây oan nghiệt
Giếng ngọc đầy
vơi
giọt lệ phai. . .
Giếng
của nữ sĩ Hồ Xuân Huống là cái giếng đặt biệt:
Ngõ
ngàng thăm thẳm tới nhà ông
Giếng tọt thảnh
thơi,
giếng lạ lùng
Cầu trắng phau phau, đôi ván ghép
Nước trong leo lẻo, một dòng thông
Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá điếc le te, lách giữa dòng
Giếng ấy thanh tân, ai chẳng biết. . .
Đố ai dám thả nạ dòng dòng
Cái
giếng xưa cũng chứng kiến đầy bi kịch. Đôi trai gái thề thốt gắn
bó với nhau bên bờ giếng. Thề ở đình, ở miếu cũng không
quyết liệt như thề ở giếng. Nếu họ phụ nhau hoặc không lấy được
nhau, sẽ có một người trong họ hoặc là cả hai gieo mình xuống
giếng. Và tất cả những bí mật trong tình sử của họ chỉ còn có
cái giếng không biết nói biếtđược mà thôi. Nếu có thêm ai nhìn
thấy, họa chăng chỉ có vầng trăng.
Đến
với cái giếng là biết được mọi chuyện chi tiết về cuộc sống của
xóm làng. Có khi biết được đến chuyện hàng tổng qua những người
lui tới lấy nước hoặc nghỉ ngơi.
Cái
giếng tượng trưng cho sự trong sạch, mát mẻ, giúp quên đi sự mệt
nhọc và cái khát. Có cô gái làm dáng soi gương ở giếng.
Hoặc người đi đường ngả nón xin một gầu nước mát uống cho đỡ
khát rồi rửa mặt qua loa. Giếng là linh hồn của cả một cộng đồng
nho nhỏ. Ai cũng cần đến nó, yêu quý, trân trọng nó. Giếng có ở
mỗi làng quê Việt Nam...
Nông
thôn Việt Nam xưa phần nhiều là nhà gianh, do đó rất ít nhà có
bể nước mưa, người làng chủ yếu dùng nước giếng công cộng để nấu
ăn. Vì thế “Cây đa - Giếng nước - Mái chùa” đã trở thành những
hình ảnh của quê hương, nhất là đối với người xa xứ.
Nước
mưa là tinh khí của trời cha và được đất mẹ giữ lấy, để từ đây
mọi sinh linh sinh sôi và phát triển. Giếng nước là nơi tụ hội
nguồn sống, là nơi tích phúc để dân làng ăn nên làm ra, và do đó
nó là nơi của niềm hoan lạc kỳ thú. Trong sinh hoạt đời thường,
người ta lấy nước giếng về dùng trong sinh hoạt như nước mưa, nó
ngọt lịm khoan khoái như móc lành, làm dịu cơn khát và góp phần
tạo nên những bữa ăn hàng ngày. Giếng nước còn là chiếc gương
lớn để các cô gái ra gánh nước thì tranh thủ soi mình làm duyên.
Và vì thế bên giếng làng thường diễn ra những cuộc hò hẹn ân
tình lứa đôi.
Trong
cái tổng thể văn hoá làng quê bình dị mà lung linh huyền ảo, cây
đa có thần, mái chùa có phật thì giếng nước là sự tượng trưng
cho sự dồi dào sung mãn và cho nguồn gốc của sự sống. Bàn thờ
gia tiên ở nhà dân hay bàn thờ thần thánh ở đền, đình đều không
thể thiếu được bát nước mưa hay nước giếng. Trước ngày hội làng,
bài vị và ngai thờ Thành hoàng đều được mục dục (lau chùi) bằng
nước giếng hay nước sông. Và nếu hội có thi nấu cơm hay thi làm
cỗ thì đều lấy nước từ giếng làng.
Vài
mươi năm nay, nông thôn từ ngày ngói hoá thì nhiều nhà đồng thời
cũng có bể nước mưa, và khi triển khai phong trào nước sạch nông
thôn thì nhà nhà có giếng đào và giếng khoan, do đó nhiều nơi
chiếc giếng làng bị lãng quên và rồi san lấp để lấy mặt bằng xây
dựng! Tuy nhiên không ít nơi chiếc giếng vẫn đang tham gia vào
cuộc sống thường nhật của dân làng, thậm chí gắn bó với đời sống
tâm linh của cả cộng đồng. Làng Giang Xá (Hà Tây) ngay trước cửa
đền Lý Nam Đế là một khẩu giếng đất to, mặt thoáng thường xuyên
thả bèo ong giữ cho nước giếng luôn trong mát. Làng Hiệp Thuận
(Hà Tây) đào trong cù lao nhỏ giữa hồ có đường thông ra, đang là
nguồn nước sạch của nhiều nhà. Nhiều nơi, trước cửa đình vẫn còn
khẩu giếng bán nguyệt xây gạch Bát Tràng gợi lại khúc sông cong
làm nơi tụ thuỷ - tụ phúc.
Cũng
có một số giếng ngày nay không còn giá trị sử dụng nhưng vẫn
được địa phương giữ gìn sạch sẽ, chẳng hạn khẩu giếng ở đầu đình
Đại Phùng (Hà Tây) bên dưới xây bằng những thỏi đá ong, còn
thành giếng là cả một khối đá ong khoét rỗng lòng, trông thật
mộc mạc mà đanh chắc, hay khẩu giếng ở trước nhà Tổ chùa Bút
Tháp (Bắc Ninh) có thành giếng là một khối đá xanh khoét rỗng
lòng, phía ngoài toả chân ra nền sân giếng tạo thành một đoá sen
nở rộ với những cánh hoa chạm khá cầu kỳ. Bảo tàng Mỹ thuật đã
phục chế khẩu giếng này trưng bày trong vườn cảnh như một di sản
văn hoá quý. Sân chim Dâu (Bắc Ninh) còn khẩu giếng không có
thành cao, hình thức đơn giản như truyền thuyết cho biết là lỗ
cắm cây gậy của nàng Man Nương được sư Khâu Đà La cho để chống
hạn, nước rất trong và không bao giờ cạn, nhà chùa vẫn dùng cho
sinh hoạt. Trong thượng điện quán Linh Tiên (Hà Tây) có một khẩu
giếng mà dân địa phương bảo là huyệt đan sa rất thiêng, nước
trong ngọt và không bao giờ cạn, vẫn lấy nước cúng trong Thần
điện.
Chùa
Phật Tích (Bắc Ninh) được dựng từ thời Lý, hiện còn dấu tích
những 3 khẩu giếng cổ: khẩu giếng trên sườn núi phía sau chùa
được kè đá với bậc xuống từ phía sau, đáy ao từ một tảng đá tự
nhiên được chạm thành đôi rồng, nay tuy không còn nguyên vẫn
nhận ra rõ ràng, thư tịch xưa gọi là Long Trì. Trên sân bãi
trước cửa chùa có khẩu giếng dưới đáy có tượng đầu rồng thời Lý
rất điển hình, từ đây nước dù tát cạn lại phun ra rất nhanh.
Dưới ao chùa cạnh đó, gần đây cũng phát hiện một khẩu giếng nữa,
dưới đáy có một số đồ đất nung vốn xưa được trang trí cho kiến
trúc. Chùa Giam (Bắc Ninh) trên nền chùa, phía sau cột đá chạm
rồng cao hơn 5m vẫn còn dấu tích một khẩu giếng, dù ở phía bắc
cột nhưng dân địa phương kể trong năm có ngày bóng cột sẽ ngả
vào giếng, biểu hiện sự trường tồn cho dân cho nước. Chùa Phổ
Minh (Nam Định) ngoài cặp giếng đất cân đối ở sân trước chùa
được truyền là cặp mắt rồng, phía sau chùa đã phát hiện khẩu
giếng cổ mà thân giếng được xếp bằng những chiếc vại đựng vôi
đảm bảo cho nước luôn trong và sạch. Còn chùa Keo (Thái Bình) có
khẩu giếng bên cạnh điện thánh, thân giếng được xếp bởi những
chiếc cối đá thủng, truyền là đã dùng để giã gạo trong khi dựng
chùa.
Ở đình
Ngô Nội (Bắc Ninh) có bức chạm từ cuối thế kỷ 17, trong bức cốn
gỗ ở trên cao, nghệ sĩ xưa chạm cảnh cô gái làng ra giếng gánh
nước, đôi quang thùng nước và chiếc đòn gánh còn gác lên thành
giếng, cô gái gặp người tình và hai người đang ân ái thì bị
người khác thổi ống xì đồng làm chết. Họ chết vào giờ thiêng,
được dân làng ghi hình và thờ phụng.
Thiêng
hơn cả là những chiếc giếng từ buổi đầu dựng nước. Trên núi Trân
Sơn (Bắc Ninh) có vạt núi đá được gọi là “Giếng Việt”, các khe
đá nứt từ đó toả ra xung quanh, trên cao nhìn xuống như hình cửa
mình bà mẹ xứ sở khổng lồ. Và có lẽ vì thế, giếng luôn là biểu
trưng của âm tính với nước thiêng nguồn sống vĩnh hằng. Còn
trong khu đền Hùng (Phú Thọ), ở dưới chân núi phía đông nam có
đền Giếng là nơi thờ tự công chúa Ngọc Hoa (sau lấy Sơn Tinh) và
công chúa Tiên Dung (sau lấy Chử Đồng Tử), hiện vẫn còn khẩu
giếng tương truyền là gương soi của hai nàng công chúa con Vua
Hùng thứ 18. Trong khu thành Cổ Loa (Hà Nội), trước đền Thượng
vẫn còn khẩu giếng ở giữa hồ, tương truyền nơi hồn Mị Châu đã
hiện hình để dụ cho Trọng Thuỷ nhẩy xuống, dân địa phương bảo để
trả mối thù bị lừa lấy mất lẫy nỏ thần, song văn học dân gian
lại ghi nhận mối tình đôi lứa thuỷ chung.
Giếng
làng nay còn ít và cũng ít giá trị thực dụng, nhưng những giá
trị văn hoá của nó lại càng đậm trong tâm thức mọi người, và vì
thế nó cứ lung linh toả sáng.
Giếng Làng
Hẹn nhau bên
bờ giếng
Chờ nhau lúc rạng trăng
Nàng vân vê dải yếm
Chàng nắn sửa vành khăn
Dưới trăng nàng bối rối
Dưới trăng chàng băn khoăn
Nhìn nhau mà chẳng nói
Bốn mắt đọng trăng rằm.....
Hẹn nhau bên bờ giếng
Chờ nhau lúc rạng trăng
Trăng đến, nàng không đến
Chàng lo buồn đăm đăm
Nàng đã đi làng khác
Theo một người khăn đen
Không còn nghe giọng hát
Bên đình lúc nguyệt lên
Ai cúi mình trên giếng ?
Ai thả gầu múc trăng ?
Ai cười yêu nửa miệng ?
Tan rồi mộng gối chăn !
Không hẹn bên bờ giếng
Không chờ lúc rạng trăng
Đêm đêm chàng vẫn đến
Bên giếng khóc âm thầm
Đêm nay chàng lại đến
Bên giếng khóc âm thầm
Bỗng gặp bên bờ giếng
Đôi bóng người dưới trăng
Nàng cũng vê dải yếm
Chàng cũng nắn vành khăn
Cũng nhìn nhau âu yếm
Bốn mắt đọng trăng rằm
Giếng trăng, nơi hò hẹn
Giếng trăng, nơi hẹn hò
Từ xa xưa đến bây giờ
Giếng làng ghi dấu bao trò hợp tan.
Hồ Đắc
Duy
(sưu
tập)

Trở về Trang Chính |