|
Những năm gần đây,
sau cuộc khai quật một chiếc tàu buôn đồ gốm được thực hiện gần
Cù Lao Chàm ngoài khơi của thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
thuộc miền trung nước Việt Nam bị chìm vào khoảng giữa thế kỷ
15,ngoài một số được bảo tồn và trưng bày tại những bảo tàn viện
trong nội địa, người ta bắt đầu thấy nhan nhản những cổ vật được
mời mọc, rao bán từ những tiệm buôn bán đồ cổ ở các địa phương
như Hà Nội, Hội An, Sài Gòn… hoặc trên những trang mạng internet
với danh hiệu là đồ gốm Hội An. Kết quả của những cuộc nghiên
cứu về sau cho thấy những cổ vật này không phải được làm tại Hội
An mà được sản xuất tại những lò gốm khác nhau, đa số được thành
hình từ những lò ở phạm vi tỉnh Hải Dương mà lúc bấy giờ là một
trong những nơi sản xuất đồ gốm rất mạnh mẽ. Ở một nơi quá
thuận lợi cho việc giao dịch với những xứ đàng ngoài. Hội An,
một thị trấn miền duyên hải miền Trung nước Việt vào thế kỷ thứ
15 đã là một thương cảng sầm uất nhất trong thời gian này, là
một nơi tiếp nhận và trao đổi những hàng hoá qua các thương
thuyền từ khắp nơi trong vùng Châu Á: Trung Hoa, Nhật Bổn đến từ
miền Bắc, cũng như các thương thuyền từ Âu Châu như Anh, Pháp,
Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha dde^'n từ vùng biển miền Nam.
Bối cảnh lịch sử
Vào khoảng đầu thế
kỷ thứ 15, nhà Minh bên Trung Quốc thời bấy giờ vì phải một mặt
đối đầu với quân Mông Cổ từ phương Bắc, một mặt với nỗ đau còn
ray rức về thất bại trong mộng chinh phục phương Nam trước đó bị
đánh bại bỡi vua Lê Thái Tổ cộng với nội bộ lũng củng nên đã ra
lệnh tuyệt đối cấm giao thương với những nước lân bang và ngoại
quốc, nhất là theo hệ thống đường biển. Thị trường đồ gốm vì lý
do đó mà trở nên khan hiếm và không đủ số lượng để cung cấp cho
đồ dụng trong nước và để trao đổi hàng hóa giữa các nước ngoại
quốc. Các lò gốm Việt Nam lúc bấy giờ đã lợi dụng cơ hội để
tăng gia sản xuất hầu đáp ứng nhu cầu càng ngày càng tăng.
Những cuộc đào xới của giới khảo cỗ ở miền Bắc gần đây cho thấy
trong thời gian từ thế kỷ thứ 15 và 16 những lò gốm xuất hiện
rãi rác trải dài từ Hải Dương cho đến Hà Nội và đó cũng là thời
gian cực thịnh nhất của ngành gốm của người Việt trong lịch sữ
cận đại về phương diện số lượng xuất khẩu, phẩm chất và nhất là
nghệ thuật.
Trong chuyến hải hành của một thương thuyền từ
bến Vân Đồn (gần Hải Phòng) trực chỉ về phương Nam để giao hàng
đến các nước vùng Đông Nam Á, sức nặng của những kiện hàng đã
vượt qua khả Năng chịu đựng của chiê’c tàu cho nên khi vừa qua
vùng Cù Lao Chàm thì bị thêm ảnh hưởng so’ng to gio’ lon của một
cơn bảọ Chiê’c thương thuyền vơ’i toàn bộ thuỷ thủ, thương gia
và những kiện hàng bị chìm xuô’ng lòng biển sâu mang theo sự bi’
ẩn của ngành đồ gô’m Việt Nam trong khoảng thời gian hơn 5 thê’
kỷ. Ddieu làm cho giơ’i khảo cỗ phâ’n khởi về kha’m pha’ ra
chiê’c tàu chìm là trong lòng tàu sau hơn 500 năm dươ’i lon`ng
đại dương nay lại đươc khơi ra đã trả lời phần nào những nỗi suy
tư mà họ đã co’ từ bao lâu naỵ Trong sô’ những cỗ vật gô’m được
vơ’t lên vào năm 1997 gồm co’ những bình, dĩa, che’n, tô, lọ
mực, hoặc những chum rượu co’ tượng hình được gợi y’ từ những
dạng của thu’ vật (chim, ke’t, gà, vịt..) hoặc hoa quả (bầu,
bi’..) vơ’i nhiều tranh ảnh dân gian và những hoa văn đầy Việt
ti’nh được bao bộc dươ’i lơ’p men qua biê’t bao nhiêu thăng trầm
của lịch sữ.
 |
|
Hình 1:
Những Cỗ Vật Hội An / Butterfields Auction, 2000
|
Cỗ Vật và Nghệ Thuật Hội Họa
Nhưng quan trọng nhất lại là phẫm chất của nhiều
cỗ vật sau khi được hoàn chỉnh với những phương tiện tối tân của
công ty trúng thầu Saga (Mã Lai) liên hợp với công ty Visal của
nhà nước Việt Nam cho việc khai quật đã được phục hồi đến mức
gần như tuyệt hãọ Că n cứ theo hợp đồng thì nhà nước cộng sản
giữ lại một phần những cỗ vật được đánh giá cao cấp nhất để dùng
vào việc trưng bày tại các cơ quan văn hoá (tủ kính của mấy ông
lớn cũng có thể được gọi là cơ quan văn hoa’?) và những bảo tàng
viện rải rác trong nước. Phần còn lại, công ty Saga được quyền
xữ dụng vào việc thương mại rao bán trong giới tư nhân qua những
cuộc đấu gía tại nhiều nơi trên thế giới Trong sô’ gần 150,000
cỗ vật được kiểm tra, ngoài một sô’ bị hao mòn bởi sự phô trương
quá lâu dưới độ sâu của nươc mặn, co’ một sô’ gần như ở trạng
thái nguyên vẹn như lúc mới đươc tạo hình. Sự khám pha’ chiếc
tàu này đã làm đão lộn sự suy nghĩ về nghệ thuật đồ gốm trãi qua
nhiều thê’ hệ và là một nguồn hào hứng vô tận của các nhà khảo
cỗ chuyên môn cũng như các nhà sưu tập đồ gốm từ mọi nơi trên
thê’ giới
 |
 |
| Hình 2: Con
chim sẽ / Hội An (giữa t.k.15) private collection
|
Hinh 3: Long Phụng / (Nha` Minh,
t.k.15)
private collection |
Trong sô’ những cỗ vật được đem ra ánh sáng, đa
sô’ là đồ gốm loại men lam, men trắng, men nâu và một sô’ ít là
loại không men như đồ sành để làm những vật gia dụng hằng ngày
như lu, tô, chén, dĩạ Nhưng điểm son của những kiện hàng này là
những đồ dùng cao cấp về hình dạng, cách tráng men và hội họa mà
tính đặc thù của chúng đã xác đinh rõ ràng vị trí độc lập về
cách phát họa, ý tưởng và trình bày của những nghệ nhận Việt
thời bấy giờ; cho thấy sự vượt thoát khỏi khuôn khổ, nề nếp mà
đã từng bao nhiêu năm có nhiều quan niệm cho rằng trong thời
gian này các sản phẫm của nước Việt chúng ta đều thuần túy chịu
ảnh hưởng bỡi ông láng giềng to xác từ phương Bắc. Hình 2 và 3
đưa ra thí dụ điển hình về sự khác biệt rõ rệt giữa nghệ thuật
của người Việt và Hán tộc về khía cạnh hội họa trên những tác
phẩm được sản xuất ở một thời điểm rất gần nhaụ Qua nét bút lông
của một nghệ nhân Việt, con chim sẻ bay lượn trên cánh đồng cỏ
(hinh 2). Những nét vẽ đượm tính dân gian đơn sơ, mộc mạc nhưng
lại biểu lộ được sự bay bướm đầy năng động chấm phá của từng nét
cọ. Những đường nét đó đã tạo nên một sự rung động nơi người
thưởng lãm cũng giống như sự rung động khi đối diện với những
đường nét từ ca’c hoạ sĩ thời danh như Bé Ký, Nguyễn thị Hợp.. ở
thời điểm sau hơn 5 thế kỹ. Trong đó người ta không thấy sự gò
bó, khuôn khổ, đồng đều, cầu kỳ, khách sáo, vương giả như được
phát họa trên cái lọ được sản xuất từ phương Bắc (hình 3). Đối
với giới thưởng ngoạn, thưởng thức nghệ thuật đồ gốm của Tàu thì
mát con mắt; nhìn nét vẽ trên gốm của người Việt thì lại thấy
mát con tim.
|
Hình
4: Những Con Nghê trên Cỗ Vật / Butterfields Auction,
2000
|
Hình ảnh con nghê,
một linh vật nhân gian thuần túy của người Việt được xữ dụng một
cách quen thuộc trong nghệ thuật hội họa, điêu khắc, kiến trúc
qua những triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần.. ở đây được trình bày
một cách trang trọng trên những dĩa gốm trắng men lam (hinh 4).
Những chi tiết cho thấy sự sáng tạo của người họa sĩ với nguồn
cảm hứng vô tận. Mỗi cỗ vật được vuốt ve, chăm sóc với một kiểu
cách khác nhau. Người họa sĩ đã xữ dụng thiên khiếu của mình vào
mỗi tác phẩm với một đam mê, hòa nhập tâm hồn của mình vào những
đường nét lã lướt nhưng không quên chấm phá vài nét trào phúng
cho đời thêm vui. Ở một thời mà khái niệm về năng động
(motion), ấn tượng (impression), trừu tượng (abstract), không
gian 3 chiều với định nghĩa về chiều sâu được thễ hiện qua bóng
nổi (shades and shadows) chưa có một thế đứng rõ rệt trong nghệ
thuật cỗ điển trên thế giới mà tại một nơi nào đó ở vùng đất
Việt nhỏ bé, những nghệ nhân bằng một cách khiêm nhường đã biết
gạt bỏ những lề lối, truyền thống mà đưa ra những mô thức mà
người đời mấy trăm năm sau phải suy gẫm và thán phục.
Tài liệu tham khảo:
1.
Fine Asian Works of
Art; Butterfield catalog, 2000
2.
Vietnamese Ceramics,
a Separate Tradition; John Stevenson and John Guy, 1997
3.
Đất và Lữa; nxb Kim
Dong VN, 2000
4.
Cảnh Ðức Trấn Ðào
Lục; Vương Hồng Sễn, 1971
Trở về Trang Chính |