Tản Mạn về Đồng Cổ

Triều Đại Nhà Ân, Chu và Văn Hóa Đông Sơn


 

 Tục truyền rằng vào đời vua Hùng Vương thứ 6 có đám giặc gọi là giặc Ân rất là hung dữ. Những tên giặc này đi tới đâu lai gây đau thương tang tóc cho dân lành tới đó.  Nhà Vua mới cho sứ giả đi rao truyền khắp nơi để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp nước.  Bấy giờ ở làng Phù Đổng, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam, có đứa trẻ xin đi đánh giặc giúp vua.  Sau khi được sứ giả về tâu, vua lấy làm lạ nên đòi cậu bé vào chầu.  Đứa trẻ ấy xin đúc cho một con ngựa và cái roi bằng sắt.  Khi ngựa và roi được đúc xong thì đứa trẻ ấy vươn vai một cái, tự nhiên con người trở nên cao lớn lên một trượng, rồi phóng lên ngựa cầm roi đánh giặc.  Phá được giặc Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn thì biến mất.  Sau đó vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ ở làng Phù Đổng, về sau được phong là Phù Đổng Thiên Vương, hoặc còn gọi là Thánh Gióng..

 

Câu chuyện trên được truyền miệng qua nhiều ngàn năm nay và đã có vô số những khảo cứu về đề tài này qua những góc nhìn khác nhau, từ khía cạnh lịch sữ, văn hóa cho đến đời sống nhân gian cũng như phong tục tập quán của dân Bách Việt, tổ tiên chúng ta thời bấy giờ.  Trong phạm vi hạn hẹp của bài này, người viết muốn nhìn về chiều sâu của một vài chi tiết nhỏ trong câu chuyên mà hình như ít thấy những người đi trước đề cập tới:  Những tên giặc Ân (có sách gọi là Thương) này là ai? Vai trò của họ trong lịch sữ của Trung Quốc thời bấy giờ ra sao?  Văn hóa của họ như thế nào? Gia tài nghệ thuật của đám giặc này có gì đáng kể không hay chỉ giỏi về việc dùng sức mạnh của mình để cướp đất của những bộ tộc hiền hòa hơn?  Ngoài ra, qua câu chuyện trên, ta có thể hình dung được nỗi ưu tư của dânViệt chúng ta thời bấy giờ là sự mơ ước có một cái gì rất thiêng liêng, cao cả, dũng mãnh để che chở, bao bọc người dân và niềm mong mỏi được xữ dụng ngành luyện kim sở trường của mình có từ văn hóa đồ đồng để chế biến loại vũ khí tối tân như roi và ngựa bằng kim loại biết chuyễn động thần kỳ hầu đánh đuổi quân ngoại xâm ra khỏi bờ cỏi rồi sau đó lại bay về một cõi không gian vô tận.  Thử tản mạn về đồ đồng của Trung Hoa, điển hình nhất là đồ đồng qua những triều đại Ân, Chu và sự liên hệ phần nào với dân tộc Việt  thuần tuý của tổ tiên chúng ta thời bấy giờ qua khía cạnh nghệ thuật của đồ đồng Đông Sơn hẳn sẽ đem lại nhiều lý thú bên tách trà nóng hổi với những người bạn tâm giao.

 

Theo truyền thuyết bên Trung Hoa, nhà Hạ do vua Vũ sáng nghiệp (2205 TCN) truyền được khoảng 400 năm.  Đến khi vua Kiệt lên ngôi, lạm dụng quyền uy bóc lột nhân dân, sưu dịch nặng nề, dân chúng chịu không thấu bèn nổi loạn,  Bấy giờ vua Thang hiệu triệu các chư hầu để cùng nhau đánh đuổi vua Kiệt và lên ngôi để lập nên nhà Thương đóng đô ở đất Hào thuộc tỉnh Sơn Tây và Hà Nam bên Trung Hoa ngày nay.  Sau đó, vua thứ 8 của nhà Thương là Bàn Canh thấy đế đô cũ hay bị thũy tai nên triệu tập hội nhị chũng tộc để bàn.  Mặc dầu có sự phản đối mạnh mẻ của người dân, Bàn Canh vẫn dùng thũ đoạn để cưởng bách dời đô và nhà Ân bắt đầu được thành hình từ đấy.  

 

Thời Gian

Trung Hoa Cổ

Việt Cổ

Truyền Thuyết / Văn Hóa


1833 TCN

Nhà Ân

(Thương)

 Hồng Bàng

·         Thánh Gióng: Phù Đổng Thiên Vương (Đời Hùng Vương thứ  6)

1134-314

TCN

Nhà Chu

Hồng Bàng

·         Sơn Tinh Thũy Tinh (Đời Hùng Vương thứ 18)

307-246

TCN

Thời Chiến Quốc

Nhà Thục (249 TCN)

·         Giai đoạn cuối cùng của đời Hùng Vương thứ 18, khoảng 275 TCN.

221-209

TCN

 

Nhà Tần

An Dương Vương 

·         Trọng Thũy, Mỹ Châu; nõ thần và những mủi tên đồng.

·         Cổ Loa Thành được xây.

206TCN-196 SCN

 

Nhà Hán

Triệu Vũ Đế, Triệu Văn Vương, Triệu Minh Vương, Hán Thuộc.

 

Trưng Vương (40-43 SCN)

·         Trống đồng Đông Sơn.

                        

                           Hình 1 - Bảng Thời Gian từ Nhà Ân đến Nhà Hán         (*) TCN:  Trước Công Nguyên

                                                          SCN:  Sau Công Nguyên

 

Xã hội của Trung Hoa qua triều đại Ân thời bấy giờ được kể lại qua những chữ viết cổ thô sơ còn tồn tại trên những mu rùa, xương chim cho thấy chế độ thị tộc có từ thời tiền sữ đã đến giai đoạn suy vi để thay vào đó chế độ phụ quyền như cha truyền con nối.  Tiểu gia tộc đã bắt đầu xuất hiện đồng thời với chế độ tài sản riêng tư và từ đó nô lệ được xữ dụng như phương tiện để bồi đắp thêm vào sự sung mãn về vật chất của giới quý tộc.  Ở đời Ân, mặc dù nghề săn bắn cũng còn được duy trì từ thời tiền sữ, nhưng ngành này đã không được coi là phương pháp kiếm ăn chính yếu nữa, mà theo những ghi chép được khám phá sau này thì chỉ còn là thú tiêu khiển của giới thượng lưu. Trong thời gian này, nghề nông được phát triển rộng rãi với những dụng cụ cày cuốc khá tinh xão để sản xuất bắp, lúa, mì.. ngoài ra cũng có những khám phá xác nhận sự hiện diện của ngành trồng dâu nuôi tằm.

 

Qua những truyền thuyết cũng như những bốc từ cho thấy dân tộc Ân vốn rất hiếu chiến và hay gây hấn với những bộ tộc chung quanh.  Phạm vi xâm lấn của nhóm tộc hung hản này bao gồm nhiều bộ lạc khác nhauCó truyền thuyết cho rằng Vua Thang chỉ là một tù trưởng của bộ lạc tộc Thương, tiêu diệt tộc Hạ để rồi tiến chiếm nhiều bộ lạc lân bang khác để kết hợp thành một nước chớ không phải lên ngôi vua qua lòng trời.  Ở một thời gian vừa bước qua giai đoạn tiền sữ, không có dấu sinh hoạt hiệu tôn giáo rõ rệt nào ngoài sự thờ phượng thần linh và hình tượng.   Khi có những buổi lễ tế tự, những tù nhân bị bắt từ những bộ tộc khác thường bị giết để làm lễ tế thần.   

                                                                                              

Nhưng điều quan trọng nhất vào đời nhà Ân là khả năng của họ về công nghiệp và thủ công nghệ.  Họ đã biết chế tạo những dụng cụ nông nghiệp bằng đá, bằng sành, và nhất là đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của nến văn minh thế giới khi vừa từ giả những sinh hoạt thời đồ đá để sang qua giai đoạn thời đại kim khí mới.  Gần đây, qua những chứng tích được đào xới trong địa bàn cũa  nước Ân trước đây, những vật liệu bằng đồng được dùng trong các buổi tế lễ, dùng chứa các thức ăn uống qua những mẫu mã khác nhau.  Điễn hình là những bình rượu tế thần có dạng cầm thú như cọp, tê giác, huơu, nai.., hay gia cầm mục súc như dê, cừu…(hình 2);  hoặc dạng của những quái vật như là sản phẫm của trí tưởng tượng phong phú của nghệ nhân thời bấy giờ (hình 3).  Những vật dụng bằng đồng tìm được đã làm cho giới khảo cổ và nghiên cứu về nghệ thuật phải kinh ngạc khi trực diện với những di tích cổ với số tuổi gần 4,000 năm.  Những cổ vật đồng này như thách thức với thời gian, khoác trên thân một lớp rỉ ten loang lỗ nhưng vẫn biễu lộ nét kiêu sa.  Những mãnh đồng mục nát gần biến thành đất nhưng vẫn tỏa những nét đẹp huyền bí, thâm trầm và bộc phá.  Nhìn vào một cổ vật đồng đời Ân, ta chỉ muốn soi mói tìm tòi từng góc cạnh, để rồi sau cùng hỏi nhỏ một câu, “Ê, anh đã thấy Thánh Gióng của chúng tôi không? hãy kể cho chúng tôi nghe đi..”  Cho đến thời bấy giờ, sự khéo léo và đa dạng của người thợ đúc đồng vào thời buổi chữ viết bên Tàu chỉ mới trong giai đoạn hình thành được thể hiện qua những nét chữ nguệch ngoạc trên những mu rùa, xương chim…, làm nhiều người vẫn nghĩ những sản phẫm này chỉ đến được qua phép lạ nào đó trong một thời gian nhất thời.  Không thấy có dấu hiệu đồ đồng phôi thai được sản xuất vào thời Ân, thay vào đó, những cổ vật đồng với những thiết kế phức tạp nhưng không kém phần thanh tao đầy nghệ thuật được bốc lên sau khi bị chôn vùi hàng ngàn năm trong những ngôi mộ cổ hoặc dưới lòng đất sâu.   

 

Hình 2: Chung Rượu Tế

Nhà Ân, kh. thế kỹ 13 TCN

Bộ sưu tập Hồ Hữu Hiệp 

Hình 3:  Quái Vật và Người

Nhà Ân, kh. thế kỹ 13 TCN

Bảo tàng viện Cernuschi, Paris

 

Hình 3 cho ta thấy một bình rượu với hình tượng của con quái vật đang ngốn trọn thân hình của một người đàn ông.  Cho đến bây giờ vẫn có nhiều khác biệt trong sự giải thích về ý nghĩa của hình tượng này từ những nhà khảo cổ trên thế giới: phải chăng đó là tượng trưng của sự chiếm đoạt, sở hữu? hay là bao bọc che chở một sinh vật nhỏ bé trước sự khắt nghiệt vũ bão của thiên nhiên?  Ngoài vẻ đẹp cầu kỳ của một tác phẩm gần như toàn hảo về phương diện nghệ thuật, qua cấu trúc, người ta còn nhận thấy được một bố cục thật là chặt chẽ, với những cẩn khắc tinh vi nên đây có thể được xem là một trong những kiệt tác quan trọng nhất của giai đoạn của nhà Ân còn tồn tại cho đến ngày nay và nó còn giúp người thưởng lãm hình dung ra phần nào sinh hoạt và đặc tính của bộ tộc Ân thời bấy giờ. 

 

Đồ gia dụng thời Nhà Chu (sau nhà Ân hàng trăm năm cho đến gần một ngàn năm, xem hình 1) mặc dù với lối trang trí mạnh mẻ, kích thước đồ sộ và táo bạo hơn về phương diện thiết kế so với triều đại trước, nhất là có sự hiện diện của những chữ viết trên vật dụng bằng đồng (hình 4 và 5), những mẫu mực căn bản của nghệ thuật tạo hình như là không thay đổi: cũng với sấm sét và gió mây được dùng như hoa văn cơ bản, cùng những mô thức uyển chuyễn với những đường cong hoàn mỹ.  Nghệ thuật trên những tác phẩm bằng đồng ở đời Chu hoàn toàn tương phản với nhà Hán.  Ở giai đoạn cuối đời Hán, nghệ thuật đồng bị xuống cấp một cách trầm trọng với những thiết kế trơn tru, đơn sơ, và thiếu hẵn phần sáng tạo có từ những triều đại trước, mặc dù có sự hiện diện của kỷ thuật tráng vàng và bạc trên những tác phẩm (hình 6).

 

Hình 4:  Bình Rượu

Nhà Chu, kh. thế kỹ 3 TCN

Bảo Tàng Viện Nghệ Thuật, Boston

 Hình 5:  Chi Tiết trên Chuông Đồng

 Nhà Chu, kh. thế kỹ 3 TCN

Bộ Sưu Tập Hồ Hữu Hiệp

 

Hình 6:  Con Cừu

Nhà Hán, kh. thế kỹ 1 SCN

Bảo Tàng Viện London, England

 

Mặc dù trong truyền thuyết, bộ tộc Việt cổ đã có kỹ thuật luyện kim từ thời vua Hùng Vương thứ 6 như câu chuyện Phù Đổng Thiên Vương ở trên, tức là đồng thời với triều đại Ân; cho tới bây giờ, cổ vật đồng xưa nhất của người Việt được khám phá được liệt kê vào thời đại văn hoá Đông Sơn, khoảng thế kỹ thứ 3 TCN, cùng thời với Nhà Tần (xem bảng đối chiếu, hình1).  Những chạm khắc trên những trống đồng cho ta thấy thế đứng hoàn toàn độc lập về mỹ quan của tộc Việt thời bấy giờ so với anh láng giềng to xác ở phương Bắc.  Những chiếc trống có hình dáng và kích thước nhịp nhàng, cân đối với những hoa văn phong phú.  Trống vốn là một trong những nhạc khí tiêu biểu của bộ tộc Việt vào thời dựng nước của vua Hùng như theo truyền thuyết.  Đặc tính cộng hưởng của kim loại như được khai thác một cách đầy sáng tạo nhằm mục đích tạo nên sự vang động trong những buổi lễ lộc cũng như dùng vào việc truyền thông và liên lạc với những bộ tộc lân cận.  Cấu trúc căn bản với 4 phần của trống: mặt, thân, eo và chân được phối hợp nhịp nhàng và thành hình với những đường nét thanh nhả (hình 7). Trống đồng Đông Sơn được xem là một thí dụ điễn hình của sự phối hợp toàn hảo giữa nghệ thuật tạo hình và khoa học về âm vang.

 

Hình 7:  Dạng của Trống Đồng Đông Sơn

kh. thế kỹ 3 TCN

Hình 8:  Mặt Trống Đồng Ngọc Lữ

kh. thế kỹ 3 TCN, ảnh minh họa

                

Hoa văn của trống Đông Sơn như mô tả một thế giới đã đang xãy ra, rất phức tạp và sinh động, được thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau về đời sống của cư dân Việt thời xa xưa.  Trên những trống đồng này, người ta không thấy sự lập lại, hay dựa theo những mô thức thiết kế trang trí đã hiện hữu từ những thời đại trước bên Trung Quốc. Mặt trên cuả trống Ngọc Lữ (hình 8), một trong những kiệt tác tiêu biểu của nền văn hoá Đông Sơn, là hình ảnh của những người đang nhãy múa nhịp nhàng lẫn lộn với hoa văn động vật như chim, hươu, nai cũng như biểu dương của trạng thái sung mản về đời sống xã hội, vật chất và tinh thần của người dân thời bấy giờ qua phương tiện săn bắn, đánh cá và nơi ăn chốn ở với những nhà sàn với nhiều kiểu cách khác nhau.  

 

Nền văn minh đồ đồng đến rồi qua như cơn gió thoảng.  Gần 2 thiên niên kỷ đi qua từ đời Ân cho đến nhà Hán, có biết bao đổi thay trên bình diện thế giới đã trải qua.  Trong phạm vi thu gọn ở vùng lưu vực sông Dương Tữ cho đến vùng Bắc Việt cổ xưa, thời gian như xoá nhoà phần lớn những vết tích của những công trình của nhân loại thời bấy giờ. Thành quách kiên cố của nhà Ân không còn dấu vết.  Những cung điện tráng lệ của nhà Chu đã bị san bằng qua những cuộc chiến tranh khốc liệt trong thời chiến quốc.  Thành Cổ Loa của nước Việt chúng ta một thời uy nghi và hùng vĩ, nay chĩ còn lại một vùng đất san bằng nhỏ bé.  Tuy nhiên, những cổ vật đồng của các thời đại nói trên vẫn còn tồn tại như thách đố với thời gian, như những bằng chứng hùng hồn nhất về nền văn minh cổ cho kẻ hậu thế hàng ngàn năm sau chiêm ngưỡng, suy gẫm và thán phục. Những tác phẩm nghệ thuật này không dễ bị uống nắn như những ngòi bút mang nặng phần chủ quan của những nhà viết sữ qua nhiều thời đại, hoặc qua những truyền thuyết và huyền thoại không tránh được sự thêm thắt, tưởng tượng và thiếu xót. Ngược lại, những cổ vật này đóng phần không nhỏ vào sự góp nhặt trí tuệ, nghiên cứu và suy luận qua ánh nhìn trung thực của những người luôn khao khát và mong mỏi tìm được phần nào sự giải đáp về nguồn cội.

  

Tài Liệu Tham Khảo:

 

    1.Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, Trung Tâm Học Liệu, Bộ Giáo Dục VNCH, in năm 1971

2.   Bronzi Cinesi, Fratelli Fabbri Editori, Milan, 1966

      3.   Trung Hoa Sử Cương, Đào Duy Anh, nxb Bốn Phương, 1941

      4.   Việt Nam Anh Hoa, Thái Văn Kiễm, Làng Văn, 2000

 

Trở về Trang Chính