|
Từ năm 1975 cho đến nay, hơn hai triệu người Việt Nam đã rời
bỏ quê hương và định cư tại nhiều quốc gia trên thế giới, đông
nhất là tại Hoa Kỳ.
Trong hai mươi
chín năm qua, những thành công tốt đẹp của học sinh, sinh viên
Việt Nam tại học đường Hoa Kỳ đã làm cho nhiều nhà Xã Hội Học và
Giáo Dục ngạc nhiên, vì thế nhiều công trình nghiên cứu đã được
bão trợ thực hiện để tìm hiểu những nguyên nhân, tác động sâu xa
đã giúp thanh thiếu niên Việt Nam tiến nhanh trong việc học
hành.
Trong xã hội Việt Nam ta, truyền thống từ
ngàn xưa truyền lại, tổ tiên ta đã từng có câu nhắn nhủ dặn dò:
“Dạy con từ thuở còn thơ”. Thời gian nuôi dưỡng và giáo
dục một trẻ em từ lúc còn thai nhi, khi ra đời cho đến khi
trưởng thành, cha mẹ người chủ cột trụ trong gia đình luôn luôn
giữ vai trò vô cùng quan trọng. Trong lúc còn mang
thai, người mẹ phải ăn uống kiêng cử, chỉ ăn những chất bổ để
sau nầy con khoẻ mạnh đẹp đẽ, chỉ nghĩ đến những điều tốt đẹp
hướng thiện để con sau nầy sẽ là người cao thượng hữu ích. Có
một bà mẹ Đông Phương mỗi ngày đã bỏ hàng giờ đọc sách cho bào
thai nghe, từ khi năm tháng trong bụng mẹ, đều đặn như vậy cho
đến khi đứa bé lên tám, và kết quả đứa bé thần đồng, được nghe
sách từ thời còn nằm trong bụng mẹ, đã vào đại học năm lên chín
tuổi.
Trong giai đoạn thơ ấu, trẻ em học ăn, học nói, tập
đi, tập chạy và bắt đầu quan sát tìm hiểu thế giới quanh mình
nhờ vào sự tiếp xúc thường xuyên, sự vỗ về chăm sóc, thương yêu
của cha mẹ và chính qua khung cảnh sinh hoạt gia đình nầy, đứa
trẻ sẽ có những điều căn bản để thành hình những cá tính, nhân
cách sau nầy. Một lời nói thương yêu khích lệ đúng lúc khi đứa
trẻ vấp ngã, một nụ cười độ lượng khi đúa trẻ biết lỗi, những
câu nói lịch sự dịu dàng dù trong lúc nóng giận nhất, những sinh
hoạt buồn vui của cha mẹ đều gây những ấn tượng sâu xa trong tâm
hồn đứa trẻ suốt cả cuộc đời.
Khi đứa trẻ bắt đầu được đưa đến các trung tâm giữ
trẻ hoặc vào lớp mẫu giáo, các em giao thiệp với bạn bè, thầy
giáo, cô giáo, các em có những quan hệ mới ngoài gia đình. Sự
tiếp xúc với những người xa lạ khác nầy, làm đứa trẻ bỡ ngỡ, sẽ
có những câu hỏi đặt ra, cha mẹ với tình thương bao la và luôn
luôn chú trọng săn sóc con cái, làm cho đứa trẻ an tâm mạnh dạn
vui chơi với những người không quen đầu đời.
Đứa trẻ bắt đầu đi học, giờ đây các em không những
chỉ vui chơi mà còn phải học tập. Học bài, làm bài đã trở thành
bổn phận của các em. Nhà trường với thầy giáo và những bài
giảng, sách vở bạn bè đã mở ra cho các em một cuộc đời mới về
kiến thức, sinh hoạt, tình cảm. Các em có những bạn mới để vui
chơi cũng như để giúp đỡ nhau trong việc học hành. Sự tiếp xúc
với thầy giáo, với bạn bè sẽ có những trở ngại, mâu thuẫn, băn
khoăn, thắc mắc, những bậc làm cha mẹ Việt Nam đã bỏ thì giờ,
càng nhiều càng tốt, để gần gũi con em, theo dõi, chia xẻ, góp
ý, hướng dẫn, săn sóc để các em tự tin, vững mạnh học hành giỏi,
vui chơi, hòa hợp tốt với bạn bè.
Đến giai đoạn tế nhị phức tạp nhất của các em là
thời kỳ các em từ 12 đến 18 tuổi. Ở giai đoạn nầy, cơ thể của
các em biến đổi nhanh chóng, tâm lý thay đổi, không những các em
chỉ nghe lời khuyên bảo mà bắt đầu nhận xét về những điều khuyên
bảo của cha mẹ. Vì vậy cha mẹ phải hết sức tế nhị khôn khéo,
phải lắng nghe những ý kiến nguyện vọng của đứa trẻ mỗi ngày
càng độc lập nhiều hơn lên, cha mẹ phải hoà hợp khéo léo hướng
dẫn, tập cho các em phân tích điều lợi, điều hại của từng sự
việc để các em điều chỉnh tìm ra hướng đi đứng đắn của mình.
Trong
giai đoạn nầy, cha mẹ phải hết sức quan tâm đến việc chọn bạn
của con cái mình, vì “gần mực thì đen, gần đèn thì
sáng”, trong quan hệ giữa các em và bạn bè sẽ có ảnh hưởng
lớn, chỉ sau yếu tố gia đình, để hình thành những nhân sinh
quan, những tiêu chuẩn đánh giá cuộc sống sau nầy.
Từ 18, 19 đến 22, 23 tuổi, đây là thời kỳ trưởng thành, tuổi các
em bước vào đại học, con đường tương lai rực rỡ đầy hoa hồng dàn
trải trước mặt. Các em tiến lên với tất cả năng lực trí tuệ
thông minh của tuổi trẻ, với tất cả hăng say mơ mộng nhiệt
thành. Các em đã bắt đầu lập kế hoạch học tập, lựa chọn nghiêm
túc ngành học, một nghề nghiệp theo đuổi trong tương lai. Những
kinh nghiệm, kiến thức, tư tưởng, tình cảm đã thu thập từ trước
đến nay của các em, cùng với sự chia sẻ, thảo luận, vỗ về, săn
sóc trong tinh thần hướng dẫn nhưng đầy khoan dung hiểu biết của
các bậc làm cha mẹ, sẽ giúp các em hiểu rõ hơn về mình, về ngoại
cảnh xã hội bao quanh, nhận thức sâu sắc hơn về quan hệ giữa con
người, quan hệ giữa nam nữ, giữa cá nhân và cộng đồng, tình yêu
gia đình, quê hương, tổ quốc. Đây là giai đoạn quan trọng nhât
để cá tính, nhân cách, đạo đức, lý tưởng của các em được xác
định phát triển, kiến thức nghề nghiệp chuyên môn của các em
được đào tạo, nhân sinh quan, trình độ thẩm mỹ, cách thưởng
ngoạn cuộc sống sẽ dần dần đậm nét thành hình. Các bậc cha mẹ
khôn ngoan Việt Nam trong giai đoạn nầy trở thành một người bạn
thân nhất cùa con, người cố vấn đời sống đầy hiểu biết thân yêu
nhất của con. Cha mẹ lúc nào cũng sẵn sàng dành ưu tiên thời
giờ, tiền bạc cho việc học, sức khoẻ và phát triển của con,
nhưng để con được tự do lựa chọn ngành học, trường học, chỉ góp
ý khi cần. Cha mẹ lúc nào cũng săn sóc, giúp đỡ con, cả hai
phương diện vật chất và tinh thần, để người sinh viên trong giai
đoạn trưởng thành nầy có đầy đủ phương tiện và cơ hội đi đúng
con đường học vấn, nghề nghiệp và lý tưởng đã chọn lựa.
Theo truyền thống tốt đẹp của Việt Nam, dù sau nầy
đã lập gia đình, đã có đời sống độc lập riêng tư, cha mẹ vẫn
quan tâm săn sóc, đùm bọc thương yêu, chia xẻ kinh nghiệm trường
đời, góp ý với con cháu trong những quyết định trọng đại của đời
người. Giáo dục con cái thành những người có học, có hạnh, hữu
ích cho xã hội, tổ quốc là trách nhiệm, là nguồn vui tình thương
và hạnh phúc của bậc cha mẹ Việt Nam.
Khi nuôi dưỡng con, cố gắng cho con hưởng một nền giáo dục tốt,
con thành đạt nên người, những đứa con trưởng thành tốt đẹp nầy
chẳng những đã đào tạo cho mình một tương lai rực rỡ, mà còn
mang đến cho cha mẹ những phấn khởi hứng thú trong cuộc sống,
tình cảm cha mẹ, con cháu sẽ hoà hợp phát triển, mối dây liên
kết giữa gia đình cha mẹ con cháu sẽ gắn bó bền vững hơn lên,
cuộc sống của những gia đình nầy thành công, phong phú hơn, dễ
dàng đối phó với những nghịch cảnh thường xảy ra trên xứ lạ quê
người.
Đó là những yếu tố chính đã tìm thấy trong lịch sử
văn hoá Việt Nam, được chứng minh xác nhận trong những cuộc thăm
dò nghiên cứu của đại học Rice và nhiều đại học khác tôi có tham
dự từ năm 1982, để giải thích vì sao trẻ em và sinh viên Việt
Nam đã có nhiều thành tích tốt đẹp hơn bất cứ nhóm di dân nào
đến Hoa Kỳ từ năm 1950 đến nay.
Nhưng đáng kể nhất là chương trình thăm dò nghiên
cứu của đại học Michigan, đã phỏng vấn khoảng 1.400 gia đình
thuyền nhân tị nạn Việt Nam đã định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1980,
những gia đình nầy có con cháu đang theo học các lớp mẫu giáo,
tiểu học, trung học trong những khu nhà nghèo tại thành phố lớn
Hoa Kỳ. Hầu hết trong số 1,400 gia đình thuyền nhân được phỏng
vấn, trước năm 1975 họ không ở vào địa vị xã hội cao của Miền
Nam Việt Nam, học vấn kiến thức không nhiều, họ hoàn toàn xa lạ
với ngôn ngữ, phong tục, tập quán của Hoa Kỳ. Dầu con em của họ
còn bỡ ngõ về ngôn ngữ trong thời gian đầu định cư, điểm trung
bình về môn Anh ngữ chỉ có 2.84/4.0 hạng C, nhưng về môn toán và
khoa học, có hơn 50% các em được hạng A, và điểm trung bình toàn
thể các môn của tất cả con em thuyền nhân tị nạn Việt Nam trong
cuộc thăm dò, nghiên cứu nầy là 3.05/4.0 hạng B.
Những con số nầy minh
chứng rằng gia đình và con em Việt Nam đã vượt qua những thiếu
thốn, trở ngại, khó khăn để hội nhập vào xã hội mới, gia đình
vẫn là nền tảng vững chắc để hỗ trợ cho con em tiến lên học hành
thành đạt. “Vạn sự khởi đầu nan”, bước đầu gặp bao nỗi
khó khăn, nhất là trong việc học hành, con em Việt Nam được gia
đình khuyến khích giúp đỡ, nên đã chuyên cần hơn, cố gắng hơn,
trung bình mỗi ngày bỏ ra 02 giờ 30 phút (cho học sinh từ lớp 6
đến lớp 9) và 03 giờ 10 phút (cho học sinh từ lớp 10 đến lớp 12)
để học bài, làm bài ở nhà, trong khi học sinh Hoa Kỳ chỉ bỏ ra
trung bình 01 giờ 30 phút.
Trong các cuộc thăm dò, nghiên cứu tương tự
trước đây, các nhà giáo dục và xã hội nhận thấy trong những gia
đình Tây Phương như Pháp, Hòa Lan, Hoa Kỳ: gia đình nào đông
con thì thành quả học tập của các em càng giảm sút.
Nhưng cũng cuộc thăm dò nghiên cứu 1,400 thuyền nhân Việt Nam
thì trái ngược lại: gia đình càng đông con thì thành quả học
tập của các em càng tăng tiến. Một gia đình Việt Nam đông
con hơn, sẽ gặp nhiều khó khăn hơn, vì vấn đề sinh tồn họ phải
cố gắng, đoàn kết hy sinh nhiều hơn để vượt qua những khó khăn
trở ngại. Các em trong gia đình đông con nầy thường đùm bọc,
chia sẻ, giúp đỡ nhau hơn, chỉ bảo cho nhau trong việc học hành,
từ những sinh hoạt đó các em sớm trưởng thành, sống cuộc đời học
sinh sâu sắc, rèn luyện tính tự học nhiều hơn và đạt thành tích
học tập tốt đẹp hơn.

Một điều lý thú nhất trong cuộc thăm dò nghiên cứu
của đại học Michigan về việc duy trì truyền thống dân tộc trong
1,400 gia đình thuyền nhân được phỏng vấn. Những gia đình nào
còn duy trì truyền thống tinh thần quá khứ tốt đẹp của dân tộc
thì con em học hành giỏi hơn với điểm trung bình 3.14/4.0, so
với con em những gia đình chấp nhận tập quán sinh hoạt ưa chuộng
vật chất của xã hội Hoa Kỳ, với điểm trung bình thấp kém, chỉ có
2.16/4.0
Từ những nghiên cứu đầy tính cách khoa học nầy đã
rực rỡ chứng minh truyền thống văn hoá tốt đẹp của Việt Nam, và
việc giáo dục con em, cha mẹ là người chủ cột trụ trong gia đình
luôn luôn giữ vai trò quan trọng. Chính cha mẹ trong gia đình đã
tạo ra con em Việt Nam trở thành những con người say mê học hỏi.
Khi con người say mê trong việc học hỏi, trí tuệ càng thêm minh
mẫn, sáng suốt, óc tưởng tượng sáng tạo càng thêm bén nhạy, sinh
động, tinh thần lạc quan yêu đời càng thêm bền vững sâu sắc và
cuộc sống càng trở nên ý nghĩa phong phú hơn.
Từ năm 1976 đến nay, trong 29 năm qua tôi đã có cái
may mắn hướng dẫn hơn 50 ngàn sinh viên Việt Nam trên bước đường
học vấn. Tôi vô cùng sung sướng được chứng kiến một thế hệ sinh
viên Việt Nam đầy ý chí nghị lực gặp môi trường đại học tân tiến
hoàn hảo nhất trên thế giới của quốc gia Hoa Kỳ, cả một thế hệ
sinh viên Việt Nam đã thành công rực rỡ, thăng hoa trí tuệ kiến
thức, đóng góp không ít vào cộng đồng địa phương đã khiến người
Hoa Kỳ khâm phục. Trong nguồn cảm hứng vô biên nầy, bốn câu thơ
sau đây tôi xin được viết ra để tặng hàng chục ngàn câu chuyện
thành công của sinh viên Việt Nam, vừa để đánh dấu 29 năm, tay
trong tay dìu dắt bên nhau trên đường học tập:
Vào trong biển học cõi mênh mông
Chuyên cần cố gắng đến thành công
Vang danh hiếu học con dân Việt
Truyền thống văn minh giống Lạc Hồng
Huy
Lực Bùi Tiên Khôi (Ph.D)
(Sugar Land, Texas. USA)
Trở về Trang Chính
|