Loạt bài về digital camera được bà con hưởng ứng khá
nhiều. Có lẽ vì hiện nay hầu hết mọi gia đình ở đây đều có ít nhất một cái
digital camera. Ðể đáp ứng những câu hỏi của quí bằng hữu tôi viết thêm bài
nầy nói về huyền thoại megapixel. Cũng như tất cả các bài viết khác, tôi xin
được dùng từ ngữ phổ thông không khoa bảng để ai đọc cũng hiểu, cũng như
không dịch những từ ngữ chuyên môn ra tiếng Việt, xin quí bạn nhà nghề đừng
cười. Bài nầy có hai phần, phần chánh là huyền thoại về megapixel, và phần
phụ là huyền thoại về kiểu chụp ảnh manual. Xin bắt đầu từ chi tiết kỹ thuật
căn bản.
1. Pixel
Pixel (Picture
Element) xin hiểu là một điểm chứa data như
là màu gì, đậm lợt cở nào… Các pixel nằm sát nhau tạo ra hình ảnh. Ở thí dụ
trong hình bên cạnh mỗi đèn LED được coi là một pixel chúng phát sáng theo
thứ tự nào đó sẽ tạo ra ảnh hay chữ. Ở đây các LED nằm xa nhau nên quí vị
thấy từ chấm một. Nếu như người ta chế tạo những đèn LED thật nhỏ và đặt
thật gần nhau thì ảnh sẽ sắc nét hơn, sẽ không còn thấy từ chấm khi nhìn
từ một khoảng cách đủ xa (quí vị nhìn tấm hình có chữ Open). Hôm nào quí vị
lấy cái kính loup đặt sát màn ảnh TV hay monitor xem thử coi, quí vị thấy
chữ hay hình đều được tạo ra bằng các pixel (điểm) phát sáng. Nếu không có
kính sẳn lúp, quí vị lấy 1 giọt nước rải lên mặt monotor cũng được. Nhớ là 1
giọt thôi nghe, điện và nước không ưa nhau đâu.
Từ đó
chúng ta thấy rằng nếu số lượng pixel trên tấm ảnh càng nhiều thì ảnh càng
sắc nét.
Do đó các máy digital camera càng về sau nầy càng cho phép chụp
những tấm ảnh có số pixel cao. Ngày nay máy digital camera thông thường cho
ảnh khoảng 5 megapixel . MP là chữ viết tắt của megapixel, một triệu pixel.
Ða số chúng ta cho rằng con số nầy càng lớn thì máy ảnh càng cho ảnh đẹp.
Ðiều nầy vừa đúng vừa sai. Trong bài nầy tôi muốn nói với quí vị một vài
điều về huyền thoại megapixel.
Ngày xưa máy hình ghi ảnh vào film âm bản, ánh sáng
xuyên qua ống kính focus vào mặt film. Ngày nay digital camera lấy
ảnh vào cái chip có tên là CCD (charge-coupled
device). Ánh sáng đi xuyên qua ống kính focus vào mặt CCD (hình bên cạnh là
cái CCD của hãng Sharp 6MP). Trên mặt CCD là những “điểm” đổi ánh sáng ra
tín hiệu điện và từ đó tạo ra ảnh. Chúng ta tạm coi mỗi “điểm nhạy sáng”
(Light Sensitive Area) trên mặt CCD tạo ra một pixel trên mặt ảnh. Do vậy
cái CCD là bộ phận rất quan trọng trong digital camera mà đa số người mua
máy ảnh bỏ qua không để ý tới.
Trên nguyên tắc cái CCD có diện
tích càng lớn càng cho ảnh ít noise và có độ nhạy ISO cao (ISO, film gọi là
ASA) . Giải thích thì dài dòng, xin cứ nhìn tấm ảnh bên cạnh đây sẽ thấy
noise. Cái áo trong hình chỉ có một màu duy nhất nhưng noise làm cho nó trở
thành “rằn ri”. Có điều trái ngược là nếu cái diện tích của CCD sensor lớn
thì ống kính máy ảnh phải to, làm cho cái digital camera sẽ to và nặng,
trong khi thị hiếu của đa số người tiêu thụ thích máy ảnh gọn và nhẹ. Tới
đây quí bạn có thể bỏ qua đoạn ngay bên dưới, mà đọc tiếp ở phần Resolution
ở đoạn 2.
Các vị trong nghề thường lưu ý
tới độ lớn của cái CCD sensor, nhưng lại lọt vô từ ngữ “bí hiểm” nên đa số
cũng chịu thua, hoặc có biết nhưng vẫn chưa rõ ràng. Không tin hôm nào quí
vị hỏi thử một người chụp ảnh nhà nghề hay các amateur rằng trong
specification của máy ảnh ghi CCD sensor: 1/1.8”
nghĩa là sao. Tôi tin là nhiều vị không trả lời minh bạch được. Sau đây là
bản trả lời cho con số vô nghĩa nói trên.
Compact camera CCD pixel pitch & area
compared
(bản 1)
|
CCD
Type |
Pixel count |
Sensor size
(mm) |
Pixel pitch |
Max. pixel
diện tích |
|
1/1.8" |
3.3 million |
7.2 x 5.3 |
3.5 µm |
12.3 µm² |
|
1/1.8" |
4.1 million |
7.2 x 5.3 |
3.1 µm |
9.6 µm² |
|
1/1.8" |
5.2 million |
7.2 x 5.3 |
2.8 µm |
7.8 µm² |
|
1/1.8" |
6.3 million |
7.2 x 5.3 |
2.5 µm |
6.3 µm² |
|
2/3" |
5.2 million |
8.8 x 6.6 |
3.4 µm |
11.6 µm² |
|
2/3" |
8.0 million |
8.8 x 6.6 |
2.7 µm |
7.3 µm² |
Quí vị để ý các con số trong cột CCD
type trong bản bên trên. Ðó là những con số
bí hiểm, nó được đặt tên theo xưa, lúc sensor là bóng đèn chân không. Hình
bên cạnh cho thấy vùng lấy ảnh (màu vàng) nằm trên bóng thu hình (vòng
tròn). Quí vị chớ tìm hiểu mấy con số kỳ bí nầy làm chi, chỉ cần biết sensor
type 1/2.7” có kích thước là 5,27 mm x 3,96
mm . Hoặc là sensor type
4/3” có diện tích là 18 mm x 13,5 mm .
Ðây là cái CCD sensor rất lớn được dùng trong cái máy Digital SLR - Lumix
DMC-L1 (Panasonic) mới ra.
Sau đây là bản ghi sự liên hệ giữa type và
kích thước của cái CCD sensor:
|
Sensor
Type |
Aspect Ratio |
Dia. (mm) |
Diagonal |
Width |
Height |
|
1/3.6" |
4:3 |
7.056 |
5.000 |
4.000 |
3.000 |
|
1/3.2" |
4:3 |
7.938 |
5.680 |
4.536 |
3.416 |
|
1/3" |
4:3 |
8.467 |
6.000 |
4.800 |
3.600 |
|
1/2.7" |
4:3 |
9.407 |
6.592 |
5.270 |
3.960 |
|
1/2" |
4:3 |
12.700 |
8.000 |
6.400 |
4.800 |
|
1/1.8" |
4:3 |
14.111 |
8.933 |
7.176 |
5.319 |
|
2/3" |
4:3 |
16.933 |
11.000 |
8.800 |
6.600 |
|
1" |
4:3 |
25.400 |
16.000 |
12.800 |
9.600 |
|
4/3" |
4:3 |
33.867 |
22.500 |
18.000 |
13.500 |
|
 |
|
APS-C |
3:2 |
n/a |
30.100 |
25.100 |
16.700 |
|
35 mm |
3:2 |
n/a |
43.300 |
36.000 |
24.000 |
|
645 |
4:3 |
n/a |
69.700 |
56.000 |
41.500 |
Bây giờ tới chi tiết cần quan tâm. Quí vị thấy ở
bản 1 hai cái CCD sensor cùng là 5.2 MP như
nhau, nhưng cái type 1/1.8” có khoảng cách giữa hai pixel là 2.8 µm (1
micron= 1 micrometer = 1/1000000 m), còn cái type 2/3” có khoảng cách giửa
hai pixel là 3.4 µm. Cái sensor 2/3” nầy cho ảnh ít noise hơn cái sensor
1/1.8”. Cái 2/3” có độ nhạy ISO cao hơn cái 1/1.8”. Dân nhà nghề bao giờ
cũng chọn máy ảnh có sensor lớn (diện tích) và điều mong ước của họ là cái
sensor có diện tích bằng với film 35mm, nghĩa là có diện tích là 36mm x
24mm, Nói thêm một số máy digital camera SLR (single lens reflex) hiện nay
được gắn CCD sensor lớn cở tấm film 35mm, và body của nó có thể gắn ống kính
của máy chụp film 35 mm ngày trước. Ðó là điều mấy vị nhà nghề ham thích, vì
quí vị đó có thể dùng tới các ống kính sắm từ vài ba chục năm trước. Chắc
quí bạn tay ngang đọc đoạn nói về CCD nầy chỉ hiểu lõm bõm thôi, đáng lẽ tôi
bỏ nó ra ngoài. Nhưng quí bạn nhà nghề có khi rất quan tâm tới chúng, do vậy
tôi viết rõ về con số type vô nghĩa và bí
hiểm ra đây luôn.
2. Resolution.
(Linear Resolution) Có ba phần khác nhau:
a. Image Resolution
Ðây là con số đo
coi trong tấm ảnh digital có được bao nhiêu pixel. Thí dụ digital camera 3,2
megapixelchụp được tấm ảnh ngang 2048 pixel và cao 1536 pixel. Bản bên dưới
cho thấy sự liên hệ giữa digital image
resolution và megapixel của máy ảnh.
|
Máy ảnh: |
|
7 MP: |
3072
x 2304 pixels |
|
5 MP |
2592
x 1944 pixels |
|
3.2 MP |
2048
x 1536 pixels |
|
2 MP |
1600
x 1200 pixels |
|
0.3 MP |
640 x
480 pixels |
|
Chúng ta cứ nghĩ rằng cái máy
ảnh 7MP rất tốt so với cái máy 5MP chớ gì. Không phải vậy đâu vì số pixel
theo chiều ngang của máy 7MP chỉ hơn số pixel theo chiều ngang của máy 5MP
có 480 pixel mà thôi (3072-2592=480). Con số nầy quả thật không đáng kể. Và
câu hỏi đặt ra kế tiếp là chúng ta có cần tới máy 7 MP hay 8MP không? Sẽ trả
lời quí vị dần dần về sau.
b. Print Resolution:
Hầu hết các printer đều in
ảnh với resolution là 200-300 pixel/inch, tức là 300 PPI (còn gọi là
dpi=dots per inch). Nghĩa là đa số máy in chỉ in được 300 pixel trên 1 inch
chiều dài. Qúi vị đọc tới đây phản đối liền là sao các máy printer Epson
Stylus Photo R1800 quảng cáo là in được tới 5760 dpi. Ðó là hãng máy in gạt
người tiêu thụ. Thật ra thì các nozzle
của máy inkjet printer có khả năng đặt 5760 giọt mực tí ti lên chiều dài 1
inch của trang giấy, nhưng trong thực tế các giọt mực tí ti nầy nằm đè lên
nhau. Khả năng hiện giờ của các máy printer chỉ cho được 300 pixel trên 1
inch chiều dài mà thôi. Trong thực tế người ta cũng không cần con số lớn hơn
300dpi, vì tấm ảnh in cở nầy sắc sảo rõ nét vô cùng. Chắc quí vị lấy làm lạ
lắm, xin thưa cái Canon SELPHY Compact Photo Printer CP510 (nhóm dye
diffusion printer, khác kỹ thuật inkjet printer) in được tối đa 300 dpi chớ
mấy, vậy mà tấm ảnh in ra đâu chê được chỗ nào.
Vậy thì máy ảnh
3.2MP có khả năng in được tấm ảnh ra giấy bao lớn. Tính như thế nầy lấy số
2048 chia số 300 được gần bằng 7 inch. Vậy với máy 3.2 MP chúng ta có thể in
ra giấy được tấm ảnh photo quality 5”x7”. Tôi hỏi quí vị có khi nào
in tất cả ảnh digital ra giấy cở 5”x7” hết không. Câu trả lời là không, đa
số chỉ in ra 4”x6” hoặc chỉ coi trên computer hay trên TV thôi. Vậy thì với
đa số chúng ta có nên mua máy ảnh lớn hơn 3.2 MP không. Sẽ trả lời bên dưới.
c. Screen Resolution:
Hầu hết các
computer screens ngày nay đều hiện hình với lineare resolution là 96 dpi.
Thông thường cách nay hai năm màn ảnh computer thường được set là 800 x 600
(tức là 0, 48MP). Do đó máy digital camera nào chụp hơn 0,48MP đều trở thành
dư thừa đối với hình display trên computer. Ngày nay với màn ảnh LCD có khi
quí vị set 1280 x 1024 ( =1,3MP). Vậy thì digital camera 2 MP đã quá dư để
cho hình display trên màn ảnh computer. Ngày nay có mấy ai mua hay bán máy
hình 2MP đâu, toàn là 5MP, 6MP, 7MP… và tương lai sẽ 100MP (tôi nói đùa
thôi).
3. Kết Luận
Vậy thì quí bạn hỏi kết luận
bài nầy ra sao? Thưa quí bạn là cái gọi là megapixel được người tiêu thụ
quan trọng hoá. Các hãng sản xuất digital camera cũng từ đó mà tranh đua
nhau tăng số megapixel lên để câu khách. Qúi bạn có thấy hiện giờ thiếu chi
máy 5MP và 6MP bán trên dưới $150, trong khi đó cũng có máy 3,2MP bán tới
$300 và máy 5MP bán tới $500, có khi nào quí bạn thắc mắc tại sao như vậy
không?
Ở phần trên tôi đã trình bày
cùng quí vị về lý thuyết và sau đó là thực tế trên hình in ra giấy, trên
hình display trên màn ảnh computer, trên TV (TV và computer screen có
resolution tương tợ nhau). Tất cả đều cho thấy chúng ta ít khi cần tới máy
ảnh lớn hơn 3,2MP. Nhưng nếu quí bạn hỏi tôi nên mua máy cở nào, xin thưa
rằng cở 5 megapixel thì vừa, lý do là có khi quí bạn cần in ra 8”x10” hay có
khi crop bớt phần dư thừa trên ảnh. Dĩ nhiên nếu quí bạn dư tiền thì mua máy
digital camera có số megapixel cao hơn nhiều cũng chẳng hại chi.
Xin đừng mặc cảm khi xách cái
máy 3,2 MP hoặc 2MP đi vào đám đông, vào lớp nhiếp ảnh. Quí bạn đừng có “tự
ái” khi khi thấy đa số bà con chung quanh mang cái máy digital camera “xịn”
từ 7MP đổ lên. Máy
digital camera còn nhiều đặc tính khác quan trọng hơn là cái gọi là
megapixel. Ðúng
vậy chụp ảnh có hai phần: thứ nhất là kỹ thuật và thứ hai là mỹ thuật. Máy
ảnh “xịn” không hẳn cho ảnh đẹp, cũng như giàn máy hát nhạc “xịn” chưa chắc
phát ra âm thanh đáng nghe dưới tay người vặn nút lung tung. Và tấm hình
chụp toàn hảo về kỹ thuật chưa chắc là tấm ảnh đẹp.
Nhân nói về nhạc tôi nhớ tới
mấy tay “bảo hoàng hơn vua” chê các amplifier ngày nay (solid-state) phát ra
âm thanh thua amplifier chạy bóng điện tử của 50 năm trước, cũng như cho là
các CD (digital compact disc) ngày nay phát nhạc thua xa dĩa 33 tours hay 45
tours ngày trước. Trong lãnh vực nhiếp ảnh cũng vậy. Mấy tay bảo thủ quá
đáng cũng khăng khăng cho rằng máy digital camera ngày nay chụp ảnh thua xa
máy film thời trước. Nếu quí vị hỏi, tôi xin đáp rằng máy digital camera
ngày nay cho ảnh ăn đứt các máy chụp film về kỹ thuật như là màu sắc, độ
mịn, độ trong của tấm ảnh. Digital camera hiện giờ đã bỏ xa máy film 35mm và
có khi đã qua mặt máy chụp loại film lớn như 6x6 hay 6x9 nữa. Ðọc tới đây
thiếu chi người chơi ảnh phản đối. Nhưng trong nhu cầu thực tế của xã hội,
máy chụp film đã là lịch sử rồi. Lý do là vì máy chụp film thua máy digital
camera mọi mặt từ tiện dụng cho tới kỹ thuật. Không tin tôi quí bạn mở các
tấm ảnh cũ của các nhiếp ảnh gia nổi tiếng xưa nay chụp bằng máy ảnh xuất
sắc nhất thời trước như Leica, Nikon, Rollei … so với mấy tấm ảnh chụp bằng
máy digital camera của một người tay mơ xem thử coi về
kỹ thuật
ai hơn ai là biết liền. Khoan, quí vị bảo thủ chớ la làng, mở thử các tạp
chí về photography ngày nay ra đọc đi, coi thử các chuyên viên thượng thặng
nói sao. Hôm nào có hứng tôi sẽ viết về Huyền Thoại Máy Ảnh Chụp Film.
4. Huyền Thoại “Manual”
Tôi định viết riêng một bài
về “Huyền Thoại Manual”, nhưng như vậy sẽ loãng đi và mất hay, xin được nối
tiếp ở đây một phần nhỏ, để chọc các vị nhiếp ảnh gia bảo thủ quá đáng chơi.
Nhớ lại ngày xưa máy ảnh hoàn toàn “trơ trụi”, nhiếp ảnh gia phải tự mình
lấy khẩu độ (cho ánh sáng vào nhiều hay ít), lấy vận tốc nhảy (cho ăn với
khẩu độ, hay ngược lại), xong lấy thước cho ảnh sắc nét hay nhoè đi theo nhu
cầu. Ðây là lối chụp hình mà trong nghề ảnh gọi là chụp manual 100%. Thời
nầy muốn chụp automatic cũng chẳng được và do đó vị nào chụp tấm ảnh in ra
coi được thì tự hào lắm rồi. Ða số tay ngang chụp ra tấm ảnh đen thui hay
trắng bạch. Ngày nay trẻ con 4 tuổi cầm cái digital camera bấm đại, ảnh cũng
hơn hẳn ảnh manual ngày xưa.
Sau đó khoa học tiến bộ, máy
ảnh được gắn thêm cái quang kế (đồng hồ đo ánh sáng) để giúp người ảnh đở
vất vả đoán chừng độ sáng. Cùng lúc máy ảnh trang bị thêm cái telemeter (đo
khoảng cách) để giúp người ảnh khỏi đoán chừng khoảng cách từ người mẫu tới
mặt film. Lúc đó đồng hồ chỉ cho biết các thông số nầy thôi. Còn “vặn máy”
phải do con người làm. Cho tới bây giờ digital camera dựa vào các thông số
đo được tự set máy ảnh. Nó đã giải phóng con người khỏi lệ thuộc vào những
thứ vô ích. Người ảnh được tự do lấy góc, lấy khung cho đẹp và bấm máy đúng
lúc mà thôi. Dễ như vậy mà đa số quí vị tay ngang bấm cũng không đúng luôn:
quí vị quên rằng nút bấm của máy ảnh có hai bực, phải bấm xuống nửa chừng
giữ đó tí xíu mới bấm tiếp. Ða số “bấm cái cụp”, đến máy cũng chịu thua.
Cái nút bấm nhỏ nầy coi vậy mà rắc rối. Xin nhắc lại: bấm xuống nửa chừng để
máy ảnh kịp lấy thước, lấy ánh sáng, bấm xuống hết để lấy ảnh, còn như bấm
và giữ tay lại thì tuỳ, nó có thể là giữ tấm ảnh vừa chụp trên LCD để quí vị
nhìn lại, hoặc nó cũng có thể là lịnh chụp một hơi mươi tấm ảnh liên tục cho
tới khi quí vị buông tay ra.
Xin trở lại, chắc có bạn từng
nghe vài vị nhiếp ảnh gia bảo thủ chê máy ảnh automatic ngày nay. Họ cho
rằng chỉ có chụp manual hoàn toàn mới lấy được ảnh đẹp. Thấy ai vặn máy lại
chữ A (automatic) hay bất cứ chữ gì khác hơn chữ M (manual) là họ cho là tay
mơ. Mà cũng đúng đa số độc giả cũng như tôi đều là tay mơ, đâu đoán nổi độ
sáng, đâu đoán nổi khoảng cách chính xác bằng mắt trần. Xin hỏi quí độc giả
vậy chớ ngày nay quí bạn có thấy siêu thị nào dùng bàn toán Tàu, hay cây
viết chấm mực ngòi lá tre để cộng tiền cho khách hàng khi ra cửa không? Chắc
là không. Nhưng thưa quí vị ngày nay còn những người bào thủ như vậy trong
làng chơi ảnh. Ðó là những người “dị ứng automatic”. Tôi ngạc nhiên khi thấy
quí vị bảo thủ chê món automatic hay program mà lại dùng đèn flash thay vì
dùng bột magnesium đổ vô tờ giấy rồi châm lửa như một trăm năm trước.
Những vị nầy cho rằng phải
chụp manual 100% mới được ảnh đẹp. cho rằng rằng cặp mắt mình đoán được độ
sáng nhạy hơn quang kế hay đoán khoảng cách hay hơn các máy đo laser hoặc
siêu âm. Theo ý kiến một người bạn chơi ảnh từ khi 10 tuổi tới bạc đầu thì
những vị bảo thủ quá mức nầy muốn tìm con đường khó khăn để đi, rồi tự hào
rằng chỉ có họ mới làm được chuyện khó khăn như vậy. Quí vị bảo thủ “dị ứng”
đến cái độ tưởng rằng cách chụp theo program (semi-automatic) không thể lấy
ảnh một coureur xe đạp sao cho xe và người rõ, còn cảnh vật bên đường nhoè
vì vận tốc cao. Quí vị đó tưởng rằng không thể nào dùng program để chụp cho
gương mặt người mẫu sắc nét bên cạnh cành hoa mờ nhạt đi, tưởng rằng không
thể dùng program để chụp rõ mặt người mẫu đứng trái sáng, mặt trời chiếu sau
lưng, tưởng rằng không thể dùng program để chụp đứng được cảnh thủ quân nhào
tới chụp banh nhanh như chóp, còn nữa… Thưa các bạn ở tất cả những tình
huống nầy, chúng ta đều chụp theo program dễ dàng và nhanh trong nháy mắt.
Trong các điều kiện nầy quí vị manual còn rị mọ đoán khoảng cách, đoán độ
sáng, tính toán vận tốc, rồi rị mọ vặn hết nút nầy tới nút nọ, đến khi bấm
máy ảnh thì nụ cười người mẫu đã hết tươi. Thiếu chi lần quí vị nầy chụp
cảnh vật, đoán già đoán non ánh sáng, set máy xong thì môt cụm mây chợt bay
qua che khuất ánh mặt trời, thế là rị mọ set lại.
Tôi tin rằng quí vị “dị ứng
automatic” không biết rằng ngày nay một số máy ảnh chụp một lần năm ba tấm
ảnh, xong nó tính toán coi tấm nào đúng nhất dựa theo histogram, dựa theo độ
sắc nét và dựa theo nhiều thông số khác và chỉ
save vào memory tấm ảnh đúng nhất mà thôi. Qúi vị nầy cũng không biết rằng
có những máy digital camera ngày nay có trí khôn.
Ðưa máy lên trước một cảnh vật, máy ảnh sẽ dựa vào các chi tiết trong cảnh
mà biết rằng chúng ta định chụp cái gì (thí dụ như portrait, chụp nhóm
người, chụp phong cảnh, chụp một cành hoa, môt cánh bướm. một cảnh đêm
trăng...) để rồi nó dựa vào program chứa sẳn trong memory mà set máy tối ưu
theo từng hoàn cảnh.
Xin mở ngoặc nhắc bạn đọc tay
ngang là cái máy ảnh bình thường nhất cũng có sẳn năm bảy cái program do nhà
chế tạo set trước: thí dụ quí vị vặn nút qua chỗ có hình hòn núi, máy ảnh sẽ
set khẩu độ nhỏ tối đa để cho cảnh vật rõ nét từ trước mặt quí bạn cho tới
chân trời. Thí dụ quí bạn vặn nút lại hình cái mặt người thì máy ảnh biết
quí bạn định chụp portrait, nó set máy cho khẩu độ lớn tối đa để mặt người
thì rõ nét và đúng sáng, còn cảnh vật chung quanh thì nhoè đi (mà cũng có
thể rõ hết nếu muốn). Thí dụ quí bạn vặn nút lại chỗ hình người đang chạy
máy ảnh sẻ tự set sao cho ảnh vận động viên rõ nét dầu đang chạy thật nhanh
(hoặc nhoè đi để biểu lộ vận tốc)…Máy nào cũng có năm ba cái program set sẳn
với máy mắc tiền có khi lên tới vài chục cái để giúp cho người ảnh khỏi phải
lo đến những chi tiết kỹ thuật. Xin quí vị bảo thủ cực kỳ chớ giận, hôm nào
quí vị dùng cái máy ảnh “xịn” của quí vị chụp manual 100% cảnh vật dưới ánh
trăng rằm rồi so tấm ảnh đó với tấm ảnh của một tay mơ chụp bằng cái digital
camera rẻ tiền coi ai hơn ai, ai chụp nhanh hơn ai. Câu trả lời quí vị biết
rồi phải không.
Mà thôi, mục đích của hai
kiểu chụp ảnh semi-automatic (program) hoặc manual cũng chỉ để thu được tấm
ảnh đẹp mà thôi. Cả hai trường phái đều chụp được ảnh đẹp. Cũng tỷ như mục
tiêu của chúng ta là đi về thăm quê hương, nhưng một người thì nhất định đi
tàu buồm chớ không ưa ngồi máy bay, còn một người thì thích đi máy bay mà
chê tàu buồm. Theo tôi phần khá quan trọng trong nghề chơi ảnh là bấm máy
đúng lúc, nếu cứ bận tâm vào việc tính toán để set manual thì phần bố cục
bị xao lãng phần nào, mà thời cơ bấm máy cũng có khi qua đi. Sao bằng “bấm
cái rột” máy digital camera chụp năm bảy tấm ảnh liên tục, về nhà chọn ra
tấm đầu tiên lúc nụ cười người mẫu mới chớm cho tới tấm chót nụ cười vừa
tàn, coi tấm nào đẹp nhất thì lấy. Nếu cứ chĩa máy vô mặt người mẫu mà tính
tính toán toán, về xem lại hình chụp, thấy mặt người mẫu sượng trân. Lối
chụp liên thanh thường được các nhiếp ảnh gia dùng để lấy ảnh cho các hãng
quảng cáo. Người mẫu đứng trên bãi biển vừa quay người cho tà áo bay theo
gió là người ảnh giữ nút bấm, cái digital camera lấy một hơi mươi tấm ảnh
liên tục, đem về lựa tấm nào bay bướm nhất thì chọn. Thì giờ là tiền bạc mà.
Ủa, chụp ảnh kiểu nầy thì làm sao gọi là chụp kiểu manual 100% cho được, mà
đã không chụp manual 100% thì làm sao có được ảnh đẹp. Ðể quí bạn độc giả
trả lời.
Huỳnh chiếu Ðẳng
(26-Feb-2006)
Print this site
