Thư Pháp Việt Nam

Bài nói chuyên của GS Tiến Sĩ Khương Hữu Lộc

Trong buổi triển lãm Tranh Ảnh, Ðại Nhạc hội

Mừng Nữa Thế Kỷ Văn Học Và Nghệ Thuật Vũ Hối

Tại Westin Galleria Hotel Dallas, Texas Ngày 26 tháng 5 năm 2007


 

GS TS Khương Hữu Lộc

14 tháng 06 năm 2007

Tôi xin phép có vài lời về thư pháp của danh họa vũ Hối.

Là một người sáng lập một trường phái mới trong ngành thư hoạ, ông Vũ Hối đã được nhiều người trên thế giới ngưỡng mộ thư pháp của ông nhưng tôi xin thưa , chỉ có người Việt Nam và phải là người Việt Nam mới có thể thưởng thức và khâm phục đến mức thâm thúy và tuyệt đỉnh nét đặc sắc trong thư họa của ông!

 

Thế nào là thư họa Việt Nam?  Ðó là một lối, một phuơng pháp viết chữ quốc ngữ Việt Nam, sao cho đẹp mắt và có nghệ thuật chân chính.  Từ thời thượng cổ, con người đã tập viết và ghi lại trong hang đá những hình vẽ và những dấu nét tượng hình.  Chữ Nho Việt Nam thời xưa là thứ chữ tượng hình viết bằng bút lông gần giống như cọ vẽ của họa sĩ, rất gần với hội họa.

 

Ở Trung Quốc, xưa cũng như nay, trong nhà các bậc văn nhân trí thức thường hay treo những bài thơ, câu liễng, viết theo thư pháp khi thì chân phương, khi thì cực thảo trông rất là đẹp mắt.  Việt Nam ta trước kia cũng vậy, chữ Nho thuộc nền Quốc Học, nên nghệ thuật thư pháp rất thịnh hành.  Những bức đại tự, những hoành phi câu đối bằng chữ Nho trở thành những trang hoàng chính yếu trong mỗi căn nhà của các bậc trí thức.

 

Ngày nay, thế hệ chúng ta và con cháu chúng ta, dù trong nước hay ở hải ngoại, hầu như chẳng còn ai biết đến chữ Nho để mà thưởng thức thư pháp chữ Nho!  Như vậy văn hóa cổ truyền thư pháp chữ Nho đành để cho tàn lụi mãi hay sao?

 

Thưa không!  Ðó là nhờ sự xuất hiện của danh họa Vũ Hối.  Nhà danh họa Vũ Hối đã sáng lập ngành thư pháp Việt Nam hiện đại, đem kỹ thuật cổ truyền thư pháp chữ Nho, áp dụng vào mẫu tự Latin (a,b,c) để biến nó trở thành thư pháp trong chữ quốc ngữ Việt Nam.  Với óc sáng tạo tân kỳ, danh họa Vũ Hối đã nâng cao thư pháp Việt Nam lên đến trình độ siêu đẳng không kém gì thư pháp Trung Quốc!  Thư họa Vũ Hối có quy luật và thể tự rõ ràng.  Khi tâm hồn ông hướng về cảnh biển quê hương, ông dùng nguyên tắc “Thủy Tự” trong thư họa:

            “Thuyền ra giưã bến, thuyền dừng,

            Ra đi thương nước nửa chừng lại thôi”

 

Trong “Thủy Tự” chúng ta thấy rõ những nét thư họa biểu hiện dòng nước trôi chảy về nguồn.

Khi ông thả hồn thơ đến một cảnh thoát tục trong câu:

“Gío đưa cành trúc là đà...”

 

Nét “Trúc Tự” trong thư họa diễn tả rõ ràng những cành trúc nhu dáng dấp thanh cao của một bậc quân tử! 

 

Khi uất hận, nhớ đến lịch sử oai hùng của quê hương, ông dùng “Hỏa Tự”

“Ngàn năm hừng hực lửa da vàng!”

 

Trong “Hỏa Tự” nét chữ ông thể hiện sự nóng bỏng của ngọn lửa ái quốc đang bốc cháy.  Nguyễn Chí Thiện diễn tả “Tâm hỏa bập bùng trong bóng chữ”

Ông dùng “Nguyệt Tự” để vẽ lên cảnh chia ly của Kiều và Thúc Sinh:

            “Vầng trăng ai xẻ làm đôi

            Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”

 

Ông dùng “Văn Tự” như một làn mây bay man mác giữa bầu trời để diễn tả một cách tài tình nỗi nhớ nhà bàng bạc của Kiều trong câu:

            “Bốn phương mây trắng một mầu

            Trông vời cố quốc, biết đâu là nhà”

 

Dầu ông ra biển, lên non, về miền quê hay vô thành thị, ông vẫn sáng tác với một tâm hồn hiền lành, bình dị.  Ta tìm thấy trong thư pháp Vũ Hối những kỹ thuật mà người ta thường dùng trong thư pháp chữ Nho thời xưa. Ví dụ:

1.        Nét Sổ: từ trên thẳng xuống dưới, phần trên đậm, phần dưới thon nhỏ; nét sổ ngang tàng, đanh thép như ý chí bất khuất của nhà nghệ sĩ. Hà Huyền Chi bảo:” Bút tựa kiếm, tung hoành trong kiếm ý”

2.        Nét Mác: cong mềm mại, tung hòanh như rồng bay phượng múa, từ phải sang trái, lả lướt, nhẹ nhàng như những dòng thơ, như tâm tánh và nhân cách của họa sĩ Vũ Hối.

3.        Nét Chấm: rất đậm và mạnh, không nhỏ xíu như trong mẫu tự Latin, dũng mạnh, hiên ngang

 

Trong thế kỷ 16, ông Hàn Thuyên là người Việt Nam đầu tiên viết bằng chữ Nôm, tức chữ Việt Nam trong bài Văn Tế Cá Sấu, thì danh họa Vũ Hối là người đầu đưa thư họa vào chữ quốc ngữ Việt Nam trong thế kỷ 20. Trong thư họa của danh sư Vũ Hối, những câu thơ Việt Nam không còn là những nét chữ chết của mẫu tự Latin nhưng nó được thổi vào một linh hồn dân tộc.  Các chữ trở nên vô cùng sống động, như mời gọi, như uốn lượn, như múa ca, như đón chào, vừa oai phong lẫm liệt, vừa uyển chuyển dịu dàng, thật kỳ diệu. Chữ quốc ngữ Việt Nam trong mẫu tự Latin đã trở nên một dòng chữ có hồn dân tộc lai láng. Ðó là danh họa Vũ Hối!

 

Tiếng nói là linh hồn mà chữ viết luôn đi liền với tiếng nói. Cho nên ta có thể khẳng định: tiếng nói và chữ viết là linh hồn của một dân tộc!  Tôi tin rằng văn chương và nghệ thuật là một nền tảng rất quan trọng cho văn hóa một quốc gia!

 

Hôm nay, chúng ta vinh danh Vũ Hối tức là chúng ta vinh danh Văn Hóa Việt Nam vậy!

 

Trở về Trang Chính