|
Cách đây một tháng, anh Nguyễn
Cẩm Thành, người em bà con của Lẩm Cẩm,có dịp sang làm việc tại
Phi Luật Tân trong hai tuần lễ. Lợi dụng thời gian ở Phi, Thành
đã đến gặp các anh chị em hiện làm việc thiện nguyện cho tổ chức
VOICE và nhiều gia đình người Việt tị nạn còn kẹt ở Phi từ nhiều
năm qua.
Qua một
thư gửi cho Lẩm Cẩm, Thành chia sẻ những điều mắt thấy tai nghe
về đất nước Phi và về số phận hẩm hiu của những đồng bào còn kẹt
tại Phi Luật Tân, những người đang được các hội đoàn và cá nhân
trong cộng đồng người Việt tại Canada nổ lực giúp đỡ để được
sang định cư tại miền đất an lành này. Vì nghĩ rằng qúy vị quan
tâm và muốn biết thêm về thảm cảnh của đồng bào ta hiện kẹt tại
Phi Luật Tân, xin mời qúy vị đọc bài viết dưới đây của người em
Lẩm Cẩm:
Đầu
tháng Chín 2007, nhân dịp đi công tác tại một công ty trong
ngành Call Center tại thủ đô Manila bên Phi Luật Tân, tôi đã có
dịp đi thăm các anh chị em làm việc thiện nguyện tại văn phòng
VOICE trong chương trình Đến Bờ Tự Do (Freedom at Last) và nhiều
gia đình người Việt còn lại tại Manila và đảo Palawan. Trước
đây, sự hiểu biết của tôi về Phi Luật Tân và đời sống của người
Việt còn kẹt tại Phi chỉ qua tivi và sách báo. Vì thế, tôi chỉ
nghĩ là họ bị nghèo khó thôi vì xứ Phi cũng khá giả và không
ngược đãi người tị nạn Việt Nam. Nhưng sau hai tuần sống và tìm
hiểu thêm tại Phi, tôi mới thấy rõ là nếu đa số người Phi đã bị
nghèo khó, khốn khổ rồi, thì đồng bào ta còn kẹt ở Phi còn khổ
cực hơn nữa! Họ khổ cực hơn mức tưởng tượng của chúng ta nhiều!
Tôi hy vọng qua bài viết này, quý vị và các bạn sẽ hiểu rõ hơn
hoàn cảnh đáng thương của những người Việt hiện còn kẹt tại Phi,
đồng thời hy vọng là chúng ta sẽ giúp đỡ họ nhiều hơn nữa trong
việc được đến định cư tại Canada.
Để qúy
vị dễ liên tưởng và hiểu rõ hơn về hoàn cảnh sống của người Việt
tại Phi, trước hết, tôi xin chia sẻ những nhận xét về đất nước
Phi Luật Tân và cuộc sống của người dân xứ này:
·
Hai ngôn ngữ chính ở Phi là tiếng Anh và
tiếng Tagalog. Người Phi học tiếng Anh từ mẫu giáo đến đại học,
vì thế phần đông ai cũng nói được tiếng Anh chỉ trừ những người
lao động bỏ học sớm hay ở miền quê xa xôi, hẻo lánh. Tới một
nước Á châu mà nghe người dân nói tiếng Anh và trò chuyện với
mình một cách dễ dàng làm cho du khách cảm thấy dễ chịu và có
cảm tình hơn với người Phi.
·
Nạn thất nghiệp tại Phi rất cao, khỏang 30
tới 40%. Tiền lương của người lao động tại Manila khoảng 8,000
tới 10,000 pesos một tháng (1 US = 45 pesos). Người đông nhưng
việc ít, và tuy có luật lao động nhưng trên thực tế chủ là vua
và người làm công rất sợ chủ. Ở Phi Luật Tân, phần lớn họ mướn
nhân công dưới 35 tuổi. Nhân công đi làm từ 10 tới 12 tiếng một
ngày không kể thời gian di chuyển. Việc bị chủ ép đi làm thứ bảy
không lương là chuyện thường. Mức lương lao động tại đảo Palawan
còn thấp hơn nữa, khoảng từ 1,500 tới 5,000 pesos một tháng, và
việc làm thì lại càng khó kiếm hơn nữa.
·
Nạn kẹt xe và mức ô nhiễm môi trường tại
Manila thì khỏi nói! Thành phố nhỏ, xe nhiều nên lúc kẹt thì cả
dòng xe dài chỉ nhíc từng chút! Nội việc phải ngửi khói xe và
chịu trận tiếng kèn xe bấm náo loạn cũng đủ làm cho người ta
chết sớm!
·
Nhiều người Phi học xong đại học mà không có
công ăn việc làm tương xứng trong nước nên phải đi làm công ở
nước ngoài. Người Phi không hãnh diện về việc phải tha phương
cầu thực, nhưng họ phải hy sinh xa chồng con, cha mẹ để đi làm
kiếm tiền gửi về nuôi đại gia đình. Việc gởi tiền về nuôi gia
đình này đã tạo ra một giới trung lưu tại Phi. Thí dụ, lương một
người đi giữ em tại Canada là $10 một giờ tính ra là $1,650 một
tháng, tức là 74,250 pesos một tháng ($10/giờ x 7.5 giờ/ngày x
22 ngày/tháng). Như thế số lương của người này gấp từ 5 tới 10
lần tiền lương đi làm tại Manila, hoặc bằng 15 lần lương đi làm
tại các miền quê ở Phi!
·
Ở Phi, nhất là tại thủ đô Manila, tôi có cảm
giác không an toàn vì bất cứ cửa tiệm nào cũng có nhiều cảnh sát
và nhân viên an ninh trật tự mang súng đứng gác và mở cửa cho
khách. Từ tiệm 7-Eleven bé tí ở góc đường tới tiệm McDonald’s
hay các trung tâm buôn bán lớn! Ở cửa các khách sạn lớn thì có
máy và chó rà bom, có metal detector và trước khi vào, khách
phải để cho nhân viên an ninh khách sạn xét giỏ! Chuyện bị bắt
cóc và đòi tiền chuộc là chuyện có thật, không phải là chuyện
thêu dệt để hù dọa người ngoại quốc viếng Phi Luật Tân.
·
Sự phồn vinh, giàu có tại Phi được khoa
trương tại một vài quận giàu ở thủ đô Manila như khu Makati
rộng vài kilo mét vuông. Tại các khu này, người ta thấy những
tòa cao ốc dùng làm văn phòng và các shopping centre sang, đẹp
và tân tiến như ở Bắc Mỹ. Phi Luật Tân chịu ảnh hưởng của văn
hóa Mỹ nhiều lắm. Tại Manila đầy dẫy các tiệm ăn quen thuộc tại
Bắc Mỹ như MacDonald’s, Kentucky Fried Chicken, Pizza Hutz,
Quizno... Trong các shopping center ở khu Makati người ta thấy
bầy bán không thiếu bất cứ một món hàng mắc tiền nào!
·
Cách những khu giàu chỉ 3 hay 4 cây số (đi
taxi mất 10 phút) là chi chít những khu nghèo khó, những ổ chuột
khổng lồ. Nơi đây mùi cống rảnh hôi thối xông lên nồng nặc. Lúc
ngồi phi cơ từ Canada qua Phi Luật Tân, tôi tình cờ ngồi cạnh
một linh mục người Phi và đã làm quen với ông. Vị linh mục này
đã vui vẻ nhận lời dẫn tôi đi thăm các ổ chuột của Manila, nhờ
đó tôi biết đa số người Phi nghèo như thế nào!
·
Nạn tham nhũng đã và đang hoành hành tại Phi
từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính quyền tham nhũng từ trên
xuống dưới khiến chính phủ Phi bị xếp hạng là một trong những
chính phủ tham nhũng hàng đầu ở Á châu. Trước đây, tôi nghĩ rằng
cựu tổng thống Marcos là người lãnh đạo quốc gia tham nhũng số
một trong lịch sử Phi Luật Tân, nhưng sau khi có dịp sống và làm
việc tại Phi, thì tôi mới biết rằng sự thật không phải như vậy.
Lý do là các tổng thống sau Marcos, kể cả đương kim tổng thống
là bà Arroyo, còn tham nhũng hơn Marcos nhiều! Người dân nghèo
tại Phi biết rõ chuyện này, nhưng chẳng làm gì được, chỉ lặng lẽ
chịu đựng.
·
Có một điểm đáng đề cập ở đây là người Việt
tại Phi ai ai cũng khen bản chất hiền hòa và lòng tốt của người
Phi. Đồng bào cho tôi biết người Phi giúp đỡ người tị nạn Việt
Nam nhiều lắm.
Sau
đây, tôi xin chia sẻ với qúy vị những điều biết được về tổ chức
VOICE và đời sống, hoàn cảnh của những gia đình người Việt còn
kẹt tại Phi:
·
Tôi ghé thăm văn phòng VOICE vài lần và được
gặp tất cả các anh chị em thiện nguyện viên làm việc tại đây.
Nói là văn phòng cho sang chứ thật ra đây chỉ là một căn nhà hai
tầng cũ kỹ mà VOICE thuê trong một hẻm ở khu nghèo trong vùng
nhà giàu Makati. Nhà rộng khoảng 1,300 feet vuông, phía trước là
phòng làm việc, phía sau là nhà bếp, phòng ăn và nhà tắm. Trên
lầu là chỗ ngủ cho cả bốn năm gia đình gồm gần 10 người. Mùa hè
thì mùi cống rảnh hôi tỏa lên nồng nặc, mùa mưa thì nước cống
tràn lên lụt cả phòng làm việc. Trong hoàn cảnh thiếu thốn này,
các anh chị thiện nguyện đã và đang làm việc rất hăng say, có
khi đến 12 giờ khuya. Thật đáng phục!
·
Đồng bào ta tại Phi không có giấy tờ tùy thân
hợp pháp nào cả. Sau khi trại Palawan bị giải tán, phần đông
phải tự mưu sinh. Người thì ở lại đảo Palawan, người thì lên
Manila kiếm sống. Lúc đầu, mọi người đi bán hàng rong. Đi từ nhà
này qua nhà khác để bán từ chai dầu nóng tới các vật dụng lặt
vặt trong nhà. Mọi người phải cố học vài câu tiếng Phi hoặc
tiếng Anh để buôn bán. Năm bảy năm sau, người làm ăn khá thì có
xạp bán hàng tại chợ, đỡ cực nhọc phần nào. Vì không có giấy tờ
hợp pháp, nhiều khi đồng bào ta làm ăn chung với người Phi nhưng
bị họ quỵt tiền rồi còn dọa đi báo cảnh sát đến bắt. Lúc dân
mình nghèo thì người Phi họ thương, đến lúc bà con ta phần nào
khá giả hơn họ thì họ bắt đầu ghét. Có những gia đình Việt, vì
bị cướp hết tài sản dành dụm cả chục năm, đã đi báo cảnh sát.
Tuy nhiên, cảnh sát chẳng giải quyết sự việc mà đồng bào ta lại
bị tốn thời gian và tiền trà nước cho cảnh sát!
·
Người Phi kiếm việc đã khó thì người Việt
mình ở Phi kiếm việc còn khó hơn nhiều. Ngay cả các cháu thuộc
các gia đình Việt tại Phi, tuy chúng lớn lên tại đây, tuy nói
tiếng Phi và tiếng Anh thông thạo, nhưng các cháu vẫn không tìm
được việc làm tốt. Lý do là nếu có việc tốt (mà công việc thì
hiếm lắm) thì chủ bao giờ cũng mướn người Phi trước khi nghĩ tới
chuyện thuê người Việt, ! Vì thế, các cháu ra trường cũng chẳng
kiếm được việc làm khá, đành phải đi bán hàng phụ cha mẹ.
·
Sự chịu khó trong việc mưu sinh tại Phi Luật
Tân cho thấy những đồng bào hiện bị kẹt tại đây chắc chắn sẽ có
thể nhanh chóng hội nhập và tự lập khi qua Canada giống như
chúng ta, những người tị nạn 20-30 năm về trước. Sống ở Phi khó
khăn như thế mà đồng bào còn khắc phục được, thì khi được định
cư tại Canada, chắc chắn họ sẽ sớm ổn định được đời sống. Một
điểm đáng lưu ý nữa là nếu điều kiện cần thiết trong tiến trình
hội nhập vào xã hội Canada là khả năng nói và viết tiếng Anh,
thì sau hơn 15 năm sống tại Phi, khả năng đàm thoại bằng Anh ngữ
của đồng bào ta rất khá, nhất là các cháu nhỏ. Điều này nên
được trình bày rõ khi vận động mọi người tham gia các nhóm bảo
trợ để họ bớt lo ngại.
·
Người Việt còn lại tại Phi thuộc hai thành
phần chính sau đây:
1)
Những người
đã lập gia đình với người Phi và trước đây đã bị xù (từ chối) vì
các nước nhận người tị nạn Việt Nam lúc đó cho rằng họ đã được
cư trú hợp pháp ở Phi nên các quốc gia này không nhận cho sang
định cư tại xứ họ; và
2)
Những gia
đình làm hồ sơ con lai giả bị chính phủ Mỹ phát giác và xù. Nghe
những người còn kẹt lại ở Phi vì thuộc diện con lai giả kể
chuyện thấy thương tâm lắm! Tuy họ không phải mạo hiểm tính mạng
để vượt biển tìm tự do, nhưng họ đã phải chịu những tủi nhục
khác khi sống với những đứa con lai lúc còn tạm cư trong trại tị
nạn. Vì sợ bị đổ bể về việc hồ sơ giả, nên lúc nào những gia
đình này cũng sống trong tình trạng lo lắng và phải cắn răng
chịu đựng những đòi hỏi, áp bức quá đáng của những đứa con lai ở
chung với họ. Có gia đình bị ép buộc về tình dục: con lai đòi
ngủ với vợ hoặc mấy chị em gái trong gia đình. Có hai vợ chồng
nọ có đứa con lai giả, thằng đó ở trên lầu, mổi khi nó muốn ngủ
với người mẹ giả, nó đạp chân xuống sàn, thì người chồng phải
chịu nhục để vợ đi lên lầu ngủ với nó! Dù con lai quậy tới đâu,
cuối cùng nó vẫn được đi Mỹ, nhưng nếu chẳng may hồ sơ giả bị bể
thì gia đình làm hồ sơ giả phải chịu thiệt, bị phái đoàn Mỹ xù
nên con lai tha hồ lộng hành. Thật là một cái nhục cho những
người gia đình con lai giả!
Vài
ngày trước khi về Canada, tôi có dịp đi thăm đảo Palawan, tọa
lạc cách thủ đô Manila khoảng 1 tiếng đồng hồ đường bay. Tôi đã
đi thăm vài gia đình người Việt tị nạn sống rải rác trên đảo này
và tại làng Việt Nam. Cuối cùng, tôi tới thăm trại tị nạn
Palawan cũ, nơi gần 13,000 người Việt tạm trú trước đây. Hiện
nay, trại tị nạn cũ đã đổi thành trại lính. Tôi xin phép anh
lính gác cổng cho vào thăm và chụp hình bên trong trại .
Công ăn
việc làm rất khó kiếm tại hòn đảo nhỏ mang tên Palawan này. Và
nếu may mắn tìm được việc làm thì mức lương tại đây rất thấp.
Nói chung, mức lương tại Palawan chưa bằng nửa mức lương tại
Manila. Nếu so sánh đảo Palawan với thủ đô Manila về mặt khí hậu
thì ở đây sạch sẻ và thoải mái hơn Manila nhiều. Giá sinh hoạt
tại Palawan cũng rẻ hơn, nhất là đồ biển tươi
Trên
đảo Palawan hiện chỉ có khoảng gần muời gia đình người Việt tị
nạn. Đồng bào ta kiếm sống bằng cách đi bán dạo, người nào may
mắn hơn thì có xạp buôn bán tại chợ. Cũng có người mở tiệm ăn
bình dân nhỏ.
Tôi
được gặp một trong những người Việt kỳ cựu tại Palawan là dì
Hai. Dì đã tới Phi Luật Tân từ năm 1975 và đã giúp đở rất nhiều
người Việt tại Palawan. Với mái tóc bạc và dáng người hiền hòa,
dì Hai thân mật chuyện trò với chúng tôi. Dì cho biết hiện có dì
Thương, nay cũng đã lớn tuổi, ở cùng nhà với dì.
Cách
trung tâm Palawan khoảng 30 tới 40 phút nếu đi bằng xe “rờ mọt”
có một ngôi làng được đặt tên là “Viet Ville”. Xin mở ngoặc ở
đây để giải thích về “xe rờ mọt”: đó là những chiếc Honda 100 cc
đã được chế biến để chở được 4 người, một phương tiện giao thông
rất phổ biến tại đây. “Viet Ville” chính là Làng Việt Nam.
Tôi đến
thăm Làng Việt Nam và gặp những gia đình người Việt còn cư ngụ
tại đây. Hiện chỉ còn khoảng 5-6 gia đình người Việt. Một hai
gia đình người Phi cũng mướn nhà ở trong làng. Danh xưng “Làng
Việt Nam” nghe thì có vẻ thơ mộng, nhưng khi tới nơi thì vỡ
mộng! Làng chỉ là một miếng đất khoảng 20 acres nằm dọc theo một
xa lộ nhỏ. Tại đây chỉ có một tiệm ăn tọa lạc ngay cổng làng là
coi được, còn bên trong chỉ là mấy chục căn nhà lụp xụp mà phần
đông đã bị bỏ hoang. Khung cảnh rất tiêu điều, hoang vắng và
buồn thảm, nhất là vào lúc chiều tối!
Những
đồng bào hiện còn ở trong làng mà tôi được gặp là gia đình anh
Nguyễn Văn Tèo, gia đình anh Trần Minh Dũng, anh Phạm Văn
Chương, chị Mạc Thị Liễu và anh Phong.
Cả anh
Tèo và anh Dũng đã lập gia đình với người Phi. Vợ chồng anh Tèo
hiện có 4 cháu. Anh Tèo cho biết đã dành dụm mua được xe rờ mọt
để đi giao hàng. Anh muốn sinh nhai bằng nghề chạy xe ôm, nhưng,
giống như những người Việt tị nạn khác tại Phi, vì không có giấy
tờ sinh sống hợp pháp, nên anh không xin được giấy phép chạy xe
ôm. Vợ chồng anh Dũng thì có 5 cháu.
Khi
gặp anh Chương, độc thân, tôi không thể nào không để ý đến đôi
mắt không hồn của anh. Dường như anh đã mất hết tin tưởng trong
việc được đi định cư tại bất cứ một quốc gia nào khác!
Cảnh
sống của tất cả đồng bào ta tại Làng Việt Nam hiện rất cơ cực.
Tại
Làng Việt Nam có hai người có hoàn cảnh tội nghiệp nhất.
Đó là chị Liểu và anh Phong. Người Việt tại đây
kể là chị Liểu, trong khoảng tuổi từ 45 tới 55, trước đây cặp bồ
với một người đàn ông ở cùng trại. Tuy người bạn trai này đã có
gia đình tại VN và không biết anh có hứa hẹn gì với chị Liểu hay
không, nhưng hai người sống với nhau rất hạnh phúc tới khi người
bạn trai của chị được đi định cư còn chị Liểu bị kẹt lại tại
Phi. Ngày anh bạn ra đi định cư cũng là ngày chị Liễu mất anh
vĩnh viễn bởi vì kể từ đó anh biệt vô âm tín! Quá buồn khổ, vài
năm sau chị Liểu mắc bệnh tâm thần. Chị không còn tin tưởng bất
cứ ai, thỉnh thoảng lên cơn mất trí! Tình trạng này đã kéo dài
hơn mười mấy năm rồi. Có lúc chị Liễu muốn được đi định cư tại
Canada, nhưng chỉ sau vài câu trao đổi về ý nghĩ này thì chị lại
đổi ý, không muốn đi nữa. Chính vì thế, không ai có thể giúp chị
làm đơn xin đi Canada được. Hôm tôi tới trại, đợi mãi đến tối
chị Liễu mới đi bán về, tôi thăm hỏi chị được đôi câu câu và
khuyên chị nên làm đơn xin đi Canada vì lần này là cơ hội cuối
cùng. Cũng như những lần trước, chị Liễu trao đổi với tôi được
vài câu về chuyện xin đi Canada nhưng rồi lại đổi ý, không muốn
đi. Sau đó chị bỏ tôi, xách giỏ đi về nhà mình. Chị Liểu gầy
còm, mỗi tối cặm cụi làm bánh, sáng xách giỏ bánh nhỏ đi bộ 15
cây số ra chợ bán rồi đến chiều tối lại lủi thủi đi bộ về làng.
Mặc cho trời mưa gió, tối tăm, chị cứ đơn độc cuốc bộ dọc xa lộ
mỗi ngày. Thỉnh thoảng, có người quen chạy xe qua, thấy tội
nghiệp muốn cho chị quá giang, nhưng chị Liểu chỉ lặng lặng lắc
đầu, không muốn được giúp đỡ!
Trước khi tới
Làng Việt Nam, tôi đã được nghe kể về hoàn cảnh của anh Phong!
Và tuy đã cố gắng lắm, vậy mà khi đứng trước nhà anh Phong và
thấy anh đứng trần truồng một mình trong căn nhà nhỏ có cửa sổ
song sắt giống như chuồng nhốt một con thú, tôi đã bật khóc cho
hoàn cảnh của anh. Anh Dũng, hàng xóm của anh Phong, kể là cách
đây hơn 20 năm, trong lúc vượt biên tàu của anh Phong đi hết đồ
ăn và nước, nên người trên tàu phải ăn thịt những người chết
hoặc gần chết! Vì bị ám ảnh bởi hình ảnh ăn thịt người, nên từ
khi lên đảo anh Phong bị bịnh tâm thần! Bệnh kéo dài, ngày càng
trầm trọng! Và đến cách đây hơn một năm thì anh Phong bắt đầu
không chịu mặc quần áo nữa, suốt ngày đêm trần truồng như nhộng!
Để tránh rủi ro cho chính anh và những người khác, anh Phong bây
giờ bị nhốt trong nhà 24/24. Tôi cố nói chuyện với anh, nhưng
anh Phong không còn hiểu gì cả, chỉ còn biết xin thuốc hút. Khi
có thuốc, anh bỏ đi vô trong “hang” của anh để thưởng thức. Mặc
cho trời nóng hay giá lạnh, anh Phong cứ cả ngày trần truồng như
vậy. Không biết anh còn chịu đựng đươc bao lâu nữa?
Về tới
Canada, tôi được biết cộng đồng người Việt tại khắp nơi đang nổ
lực giúp số đống bào thiếu may mắn còn bị kẹt lại tại Phi. Lòng
tôi ấm lại phần nào. Các hổ sơ đã và đang được nộp cho chính phủ
Canada duyệt xét. Không biết kỳ này ai đươc đi, ai tiếp tục bị
kẹt lại? Trường hợp chị Liểu và anh Phong thì chắc khó được nước
nào nhận cho đi định cư! Không biết chúng ta, những người đã may
mắn ổn định được cuốc sống và đang thăng tiến trong nhiều mặt
tại các miền đất lành trên thế giới, có nghĩ đến việc tìm cách
giúp đỡ một cách thiết thực cho những người bất hạnh như chị
Liễu và anh Phong không?
Mong
lắm thay!
Nguyễn Cẩm Thành
Trở về Trang Chính
|