Đọc Thơ Tết


 

Lẩm Cẩm

E-Mail: lamcam@khoahoc.net

15 tháng 02 năm 2007

              Nói đến Tết và những thứ cần phải có trong ba ngày Tết, ta nhớ ngay đến hai câu thơ quen thuộc:

 

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ

Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh

 

            Bây giờ, ở Bắc Mỹ này mà nói tới chuyện ăn thịt mỡ thì ít người dám vì sợ mỡ. Bánh chưng, tuy không khó kiếm, nhưng coi chừng, ăn nhiều cũng chẳng được vì trong nhân của bánh chưng có thịt mỡ! Vị nào chẳng may bị tiểu đường, lại càng không nên ăn bánh chưng, vì bánh chưng được gói bằng gạo nếp, mà trong nếp thì toàn là đường! Nếu đã không dám thưởng thức thịt mỡ và bánh chưng, thì đâu cần đến dưa hành!

            Thế là, với những thức ăn được liệt kê trong hai câu thơ Tết này, ta bị hạn chế. Còn lại ba thứ không ăn được thì câu đối đỏ và tràng pháo có thể tìm thấy ở hội chợ Tết do các hội đoàn người Việt tổ chức hàng năm, duy chỉ cây nêu là ta chào thua, không tìm đâu thấy!

            Như vậy, Tết ta làm gì, qúy vị ơi?

            Không ăn được bằng miệng, trộm nghĩ chúng ta có thể ăn bằng “mắt”! Xin qúy vị hãy cùng Lẩm Cẩm đọc lại những bài thơ xuân đặc sắc, độc đáo.

 

            Một trong những bài thơ Tết thật hay và quen thuộc với nhiều người là bài “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên.

            Vũ Đình Liên sinh tại Hà Nội năm 1913, mất ngày 20 tháng Giêng năm 1996. Lúc trẻ, ông theo học trường Bảo Hộ và trường Luật. Vũ Đình Liên từng dạy học, quản lý báo Tinh Hoa, chủ trương tờ Revue Pedagogique, làm tham tá ở Hà Nội. Ông cũng viết văn và làm thơ. Người ta thấy các thi phẩm của Vũ Đình Liên xuất hiện trên các tờ báo như Phong Hóa, Phụ Nữ Thời Đàm, Loa và Tinh Hoa.

            Một điểm đáng nhớ về Vũ Đình Liên là ông ngưng làm thơ rất sớm, vào năm 1937, khi ông mới 24 tuổi. Khi đó ông không giải thích lý do tại sao. Mãi tới năm 1941, trong một lá thư gửi cho Hoài Thanh và Hoài Chân (đồng tác giả cuốn “Thi Nhân Việt Nam”), Vũ Đình Liên mới cho biết: “Tôi bao giờ cũng có cái cảm tưởng là không đạt được ý thơ của mình. Cũng vì không tin thơ tôi có một chút giá trị, nên đã lâu tôi không làm thơ nữa”.

            Bài thơ “Ông Đồ”, kiệt tác của Vũ Đình Liên, dĩ nhiên, được đăng lần đầu tiên trên báo Tinh Hoa trước năm 1937. Kể từ đó, trong những số báo xuân, người ta đã nhiều lần in lại bài thơ thật hay nói về sự tàn lụi của nền Nho học mà ông đồ là đại diện:

     Ông Đồ

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét,
Như phượng múa rồng bay.”

Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thấm
Mực đọng trong nghiên sầu...

Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời mưa bụi bay.

Năm nay hoa đào nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?

 

 

Nói đến thơ Tết, không thể nào không nhớ đến bài thơ tả cảnh chợ Tết ở vùng quê miền Bắc trướcđây của thi sĩ đồng quê Đoàn Văn Cừ. Bài thơ được đặt cho một cái tựa đơn giản: “Chợ Tết”.

Cái tài của Đoàn Văn Cừ là ông “vẽ tranh” trong khi làm thơ bởi vì thơ của ông rất gợi hình, gợi sắc. Đọc bài “Chợ Tết”, ta thấy như mình đang xem một bức tranh về chợ Tết với những hình ảnh hiện ra rõ mồn một trong đầu qua các đoạn thơ tả những sinh hoạt khác nhau diễn ra tại phiên chợ ở miền quê Bắc Việt:

Chợ Tết

Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà gianh
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc,
Những thằng cu áo đỏ chạy lon ton
Vài cụ già chống gậy bước lom khom
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau
Sương trắng dỏ đầu cành như giọt sữa
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh

Người mua bán ra vào đầy cổng chợ
Con trâu đứng vờ dim hai mắt ngủ
Để lắng nghe người khách nói bô bô
Anh hàng tranh kĩu kịt quẩy đôi bồ
Tìm đến chỗ đông người ngồi giở bán
Một thầy khóa gò lưng trên cánh phản
Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau

Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu
Ngồi xếp lại đống hàng trên mặt chiếu
Áo cụ Lý bị người chen lấn kéo
Khăn trên đầu đương chít cũng bung ra
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi
Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi
Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa
Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha
Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết
Con gà sống mào thâm như cục tiết
Một người mua cầm cẳng dốc lên xem...

Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm
Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh
Trên con đường đi các làng hẻo lánh
Những người quê lũ lượt trở ra về
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ...

 

Quả thật, nếu phải vẽ cảnh đồng quê bằng thơ, thì khó thi sĩ nào sánh được với Đoàn Văn Cừ.

Nếu ở phần trên đã nói đến bài thơ năm chữ trứ danh là bài “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên, thì bây giờ xin được đề cập đến bài thơ năm chữ của Đoàn văn Cừ. Bài thơ này cũng nói về Tết, nên có tựa là “Tết”, được sáng tác năm 1939:

Tết

Sáng hôm mồng một Tết

Đèn nến thắp xong rồi

Bà tôi ngồi trong ổ

Mặc áo đỏ cho tôi

 

Ông tôi vừa thức dậy

Nằm ngó cổ trông ra

Trên ngọn cây đèn bóng

Trời lất phất mưa sa

 

Giờ lâu tràng pháo chuột

Đì đẹt nổ trên hè

Con gà mào đỏ chót

Sợ hãi chạy le te

 

Cây nêu trồng ngoài ngõ

Soi bóng dưới lòng ao

Chùm khánh sành gặp gió

Kêu linh kinh trên cao

 

Từ khi ông tôi mất

Bà tôi đã qua đời

Tôi mỗi ngày mỗi lớn

Nên chẳng thấy gì vui

 

Tết đến tôi càng khổ

Tôi nhớ bức tranh gà

Chiếc phong bao giấy đỏ

Bánh pháo tép ba xu.

 

            Qua bài này, ta còn thấy lời thơ của Đoàn Văn Cừ giản dị vô cùng, giống như những câu nói bình thường, nhưng chuyển tải tình cảm một cách chân thành.

            Nhà thơ Đoàn Văn Cừ sinh năm 1913, từ trần ngày 27 tháng 6 năm 2004 tại quê của ông ở Nam Định, thọ 92 tuổi. Lúc sinh thời, tuy là nhà thơ đồng quê nổi tiếng vào bậc nhất, cụ Đoàn Văn Cừ luôn luôn nhũn nhặn, khiêm nhường.

 

* * *

           

Nếu bên phái nam, ta có bài thơ tả cảnh chợ Tết của thi sĩ Đoàn Văn Cừ, thì bên phái nữ, cũng có bài thơ tả cảnh chợ ngày xuân mà tác giả là nữ thi sĩ Anh Thơ.

Nữ thi sĩ Anh Thơ tên thật là Vương Kiều Ân, sinh năm 1919 tại Ninh Giang. Thân phụ của bà là một nhà nho, đậu tú tài, đi làm công chức và được thuyên chuyển đi phục vụ tại nhiều nơi khác nhau. Vì thế, bà Anh Thơ phải theo gia đình dọn nhà đi nhiều nơi và đổi trường học nhiều lần. Bà chưa học hết bậc tiểu học.

Thi sĩ Anh Thơ có nhiều bài thơ đăng trên các báo như Hà Nội Báo (ký bút hiệu Hồng Anh), Tiểu Thuyết Thứ Năm, Ngày Nay, Phụ Nữ. Năm 1941, bà được giải khuyến khích về bộ môn thơ của Tự Lực Văn Đoàn. Các tác phẩm chính của Anh Thơ là “Bức Tranh Quê”, tuyển tập thơ, xuất bản năm 1941; “Xưa”, tuyển tập thơ, cùng viết với thi sĩ Bàng Bá Lân, cũng xuất bản năm 1941; và “Răng Đen”, tiểu thuyết, được bà cho trình làng năm 1942.

Anh Thơ chuyên làm những bài thơ tả những cảnh rất tầm thường như phiên chợ, cảnh đứa bé quét sân, cảnh người đàn bà ngồi bắt chấy… Khi đề cập đến những bài đã được viết về mình, Anh Thơ nhận xét đa số người viết chỉ hỏi bà về mối tình với nhà thơ Nguyễn Bính chứ không hỏi gì về thơ văn của bà! Nữ thi sĩ cũng cho biết bà làm thơ từ lúc 6 tuổi sau khi “ngồi trong buồng nghe lén cha tôi dậy các anh em trai của tôi làm thơ và làm theo”. Dưới đây là bài thơ tả cảnh chợ Tết của nữ thi sĩ:

Chợ Ngày Xuân

Mưa vừa tạnh, nắng bừng trên quán mới
Trên cây đa lấp loáng gió lao xao
Trên những giải lưng điều bay phấp phới
Các cô nàng lơ lẳng nón quai thao
Chợ đông quá! Chỗ này vài chiếu bạc
Những chàng trai ô mới mở giương vây;
Cười nói nói luôn mồm và chỗ khác
Mấy cụ ngồi nhắm rượu gật gù say
Nhưng đông nhất quán hàng người đoán thẻ
Một lão già kính trắng, bịt khăn đen
Các cô gái chen nhau vào vui vẻ
Nghe Thánh truyền sắp đắt mối lương duyên

 

* * *

 

            Ở phần trên, danh tính nhà thơ Nguyễn Bính đã được nhắc đến. Vậy thì, trong phần kế, xin nói thêm về ông.

            Nguyễn Bính sinh năm 1918 tại thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Gia đình ông là một gia đình nhà nho và nghèo. Thuở nhỏ, tên thật của ông là Nguyễn Trọng Bính, sau đổi thành Nguyễn Bính Thuyết. Thuở nhỏ, Nguyễn Bính học ở nhà với cha là ông đồ Nguyễn Đạo Bỉnh, sau được người cậu là ông Bùi trịnh Khiêm nuôi dạy.

            Nguyễn Bính mồ côi mẹ lúc mới được vài tháng, nhà thì lại nghèo, nên ngay từ khi được hơn mười tuổi, ông đã phải theo người anh lớn của mình là Nguyễn Mạnh Phác ra Hà Nội và Hà Đông kiếm kế sinh nhai.

             Nguyễn Bính bắt đầu làm thơ khá sớm. Bài thơ “Cô Hái Mơ” là thi phẩm được đăng báo đầu tiên. Năm 1937, ông gửi đi dự thi tập thơ “Tâm Hồn Tôi” và đoạt được giải thưởng của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Trong khoảng thời gian từ 1940 tới 1942, Nguyễn Bình trình làng bẩy tập thơ, trong đó có “Lỡ Bước Sang Ngang”, “Mười Hai Bến Nước”… Thơ ông được độc giả khắp cả nước ưa chuộng. Một số thi phẩm của Nguyễn Bính đã được phổ nhạc như các bài “Cô Hái Mơ”, “Thoi Tơ”, “Ghen”, “Chân Quê”, vv…

            Bài thơ “Xuân Tha Hương” của Nguyễn Bính rất quen thuộc với mọi người:

 

Xuân Tha Hương

(Nguyễn Bính gửi chị Trúc)

 

Tết này chưa chắc em về được

Em gửi về đây một tấm lòng

Ôi! Chị một em, em một chị!

Trời làm xa cach mấy con sông!

Em đi dang dở đời mưa gió

Chị ở vuông tròn phận lãnh cung!

Chén rượu tha hương! Trời! Đắng lắm!

Trăm hờn nghìn giận suốt mùa đông!

Chiều qua nhìn ngắm hoàng hôn xuống

Nhớ chị làm sao nhớ lạ lùng!

 

Tết này chưa chắc em về được

Em gửi về đây một tấm lòng

Vườn ai thấp thoáng hoa đào nở

Chị vẫn môi son? Vẫn má hồng?

Áo rét ai đan mà ngóng đợi

Còn vài hôm nữa hết mùa đông

Cột nhà hàng xóm lên câu đối

Em đọc tương tư giữa giấy hồng!

Gạo nếp nơi đây sao trắng quá

Mỗi ngày phiên chợ một thêm đông

Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết

Một mình em vẫn cứ tay không!

Vườn nhà Tết đến hoa còn nở

Chị gửi cho em một cánh hồng

(Tha hương chả gặp người tri kỷ

Một cánh hoa tươi đỡ lạnh lòng!)

 

Tết này chưa chắc em về được

Em gửi về đây một tấm lòng

Chao ôi! Tết đến mà không được

Trông thấy quê hương thật não nùng!

Ai bảo mắc duyên vào bút mực

Sống đời mang lấy số long đong

Người ta đi kiếm giàu sang cả

Mình chỉ mơ toàn chuyện viễn vông!

Em biết giàu sang đâu đến lượt

Nợ đời nặng quá gỡ sao xong!

 

Tết này chưa chắc em về được

Em gửi về đây một tấm lòng

Năm nay, ồ! Thế mà vui chán

Nhưng vẫn mình em uống rượu hồi

Rượu say, nhớ chị hồi con gái

Thương chị từ khi chị lấy chồng

Cố nhân chẳng biết làm sao ấy

Rặt những tin đồn chuyện bướm ong

Thôi em chả dám đa mang nữa

Chẳng buộc chân vào sợi chỉ hồng

Nàng bèo bọt quá, em lăn lóc

Chắp nối nhau hoài cũng uổng công

(Một trăm con gái thời nay ấy

Đừng nói ân tình, nói thủy chung!)

Người ấy xuân già chê gối lẻ

Nên người nôn nả chuyện sang sông!

Đò ngang bến dọc tha hồ đấy

Qúy hóa gì đâu một chữ “đồng”

Vâng, em trẻ dại, em đâu dám…

Thôi để người ta được kén chồng

Thiếu nữ hoài xuân mơ cát sĩ

Chịu làm sao được những đêm đông?

(Khốn nạn, tưởng yêu thì khó chứ

Không yêu thì thực dễ như không!)

Chị ơi! Tết đến em mua rượu

Em uống cho say thật não nùng

Uống say cười vỡ ba gian gác

Ném cái chung tình xuống đáy sông!

 

Tết này chưa chắc em về được

Em gửi về đây cả tấm lòng

Sương muối gió may rầu rĩ lắm

Chỉ vài hôm nữa hết mùa đông

Xuân đến cho em thêm một tuổi

Thế nào em cũng phải thành công

Em không khóc nữa, không than nữa

Đây một bài thơ hận cuối cùng

Không than chắc hẳn hồn tươi lắm

Không khóc tha hồ đôi mắt trong

Chị ơi! Em cưới mùa xuân nhé

Đốt pháo cho thơm với rượu hồng

 

* * *

 

            Ở các phần trên, nếu ta đã có dịp đọc lại hai bài thơ xuân 5 chữ, thì bây giờ, xin đọc lại một bài thơ xuân 4 chữ. Thi phẩm mang tựa đề “Chiều Xuân” do nhà thơ nổi tiếng Huy Cận sáng tác:

 

Chiều Xuân

Xuân gội tràn đầy

Giữa lòng hoan lạc

Trên mình hoa cây…

 

Nắng vàng lạt lạt

Ngày đi chầy chầy

 

Hai hàng cây xanh

Đâm chồi hy vọng

Ôi duyên tốt lành…

 

Én ngàn đưa võng

Hương đồng lên hanh

 

Kề bên đường mòn

Mùa đông đã tạnh

Cỏ mọc bờ non…

 

Chiều xuân tươi mạnh

Gió bay vào hồn

 

Có bàn tay cao

Trút bình ấm dịu

Từ phương xa nào…

 

Người cô yểu điệu

Nghe mình nao nao…

 

Nhạc vươn lên trời

Đời măng đang dậy

Tưng bừng muôn nơi…

 

Mai rừng gió hẩy

Chiều xuân đầy lời

 

            Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, sinh năm 1919 tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Ông tốt nghiệp trường Cao Đẳng Nông Lâm tại Hà Nội. Vào năm 1936, Huy Cận có thơ đăng trên các tờ Tràng An và Sông Hương, nhưng ký bút hiệu là Hán Qùy. Trong những năm từ 1938 đến trước chiến tranh, các thi phẩm của ông được đăng trên báo Ngày Nay. Tuyển tập thơ “Lửa Thiêng” của Huy Cận được xuất bản ở Hà Nội năm 1940. Nhà thơ từ trần năm 2005.

 

* * *

 

            Trong tập thơ “Tiếng Thu” của Lưu Trọng Lư mà nhiều người biết đến, có bài thơ nói về xuân làm theo thể tự do:

Xuân Về
 
Năm vừa rồi
Chàng cùng tôi
Nơi vùng giáp Mộ
Trong gian nhà có
Tôi quay tơ
Chàng ngâm thơ
Vườn sau oanh giục giã
Nhìn ra hoa đua nở
Dừng tay tôi kêu chàng:
“Này, này! Bạn! Xuân Sang!”
Chàng nhìn xuân mặt hớn hở
Tôi nhìn chàng lòng vồn vã...
Rồi ngày lại ngày
Sắc màu: phai
Lá cành: rụng
Ba gian: trống
Xuân đi
Chàng cũng đi
Năm nay xuân còn trở lại

Người xưa không thấy tới.

 

            Lưu Trọng Lư sinh năm 1912 tại Bố Trạch, Quảng Bình. Ông học tại trường Quốc Học ở Huế đến năm thứ ba thì dọn ra Hà Nội. Ở Hà Nội ông đi học trường tư một thời gian rồi bỏ học đi làm báo. Lúc đó, Lưu Trọng Lưu viết cho nhiều tờ báo. Tập thơ “Tiếng Thu” của ông được trình làng năm 1939. Thơ của Lưu Trọng Lư gồm nhiều thể loại, từ Đường luật thất ngôn đến lục bát, đến thơ ngũ ngôn, đến thơ tự do. Một số bài thơ của ông như “Tiếng Thu”, “Còn Chi Nữa”, “Một Mùa Đông” đã được phổ nhạc. Thi phẩm “Còn Chi Nữa”, sau khi được Phạm Duy phổ nhạc, trở thành nhạc phẩm “Hoa Rụng Ven Sông”. Nhà thơ Lưu Trọng Lư qua đời năm 1991.

 

* * *

 

            Ở miền Nam có rất ít thi sĩ trong thời tiền chiến. Một trong những thi sĩ người nam hiếm hoi đó là Đông Hồ.

            Đông Hồ tên thật là Lâm Tấn Phác, sinh quán ở làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên. Ông chào đời năm 1906, tạ thế năm 1969. Lúc trẻ, Đông Hồ theo học trường Tây tới năm 16 tuổi thì ngưng. Sau đó, ông chỉ chuyên học quốc văn, viết văn, làm báo, làm thơ và mở trường dạy quốc văn. Đông Hồ đặt tên cho trường của mình là Trí Đức Học Xá. Năm 1932, nhà thơ cho xuất bản tập thơ mang tựa đề “Thơ Đông Hồ”, và đến năm 1935 thì ông trình làng thi tập “Cô Gái Xuân”.

            Dưới đây là bài thơ “Tuổi Xuân”, được trích từ thi tập “Cô Gái Xuân” của Đông Hồ:

 

Tuổi Xuân

Kể từ khi quen nhau

Vừa mười ba tuổi đầu

Tuổi xuân, tuổi vui sướng

Nào có biết chi sầu

 

Quen nhau thì yêu nhau

Yêu nhau quấn quít nhau

Quây quần trong một tổ

Như đôi chim bồ câu

 

Ngày tháng chỉ mong cầu

Gần nhau được dài lâu

Sum vầy lòng những ước

Ly biệt có ngờ đâu

 

Muốn thế, vẫn được thế

Ai khéo chiều nhau tệ

Bao những cuộc vui cười

Cùng nhau cùng chia sẻ:

 

Anh ơi! Em muốn học

Anh hãy dạy em đọc

Dạy em không? Hở anh?

Không dạy em, em khóc

 

Em đừng làm nũng chứ!

Hãy nói anh nghe thử

Em muốn học chữ gì?

Em muốn học Quốc ngữ!

 

Quốc ngữ chữ Việt Nam

Này thơ em, anh xem

Anh nghe, em cứ đọc!

Thơ rằng: “Anh yêu em!…

 

“Em muốn dạy anh thêu

Yêu em, anh phải chiều

Chỉ kim, anh thử lựa

Nghe lời em, em yêu

 

 

Này! Anh thêu khéo chán

Ngàn mây đôi chiếc nhạn

Chắp cánh tung trời bay

Trăm năm cùng kết bạn

 

Tươi thắm bức lụa là

Đôi chim nhạn không già

Đời mình âu cũng thế

Ngày xuân ở với ta…”

 

“Này anh! Buổi thư nhàn

Em dạy anh học đàn

Học đàn khó! - Đâu khó!

Chỉ đôi tiếng nhặt khoan!...”

 

Khoan nhặt đôi đường tơ

Lay động đôi lòng thơ

Gảy nên khúc tình ái

Khúc dứt, lòng ngẩn ngơ…

 

Buông bắt trên tơ trúc

Nhìn em, năm ngón ngọc

Năm búp măng nõn nà

Mải nhìn, đàn chửa thuộc…

 

“Anh ơi! Em muốn chơi,

Non nước chốn này vui…

Âu yếm, cầm tay dắt

Cùng nhau thưởng cảnh trời

Ngày lặng, màu hoa cỏ

Đêm thanh, thú trăng gió

Cảnh trời với lòng người

Biết bao lần gặp gỡ

 

“Anh! Em muốn chơi thuyền

Một ngày ta làm tiên…”

Buông buồm theo ngọn gió

Sóng nước những triền miên

Trời biển cảnh lồng lộng

Đôi tấm lòng rung động

Kề vai sẽ tựa nhau

Chập chờn trong giấc mộng

Bên rừng, chiếc lá rơi

Mặt nước, cánh hoa trôi

Chòm mây bay tản mác

Đàn nhạn rẽ phương trời

Trông cảnh, em ngậm ngùi

Nhìn em, anh thở dài

Cảm nghĩ chuyện dời đổi

Giọt lệ bắt đầu rơi!...

 

Biết đời từ hôm ấy

Tuổi lớn, ngày dần thấy:

Chuyện buồn đưa đến thường

Ngày vui không có mấy

Đôi lứa cũng xa nhau

Tuổi xuân còn mãi đâu

Biệt ly nay mới biết

Chi xiết nỗi thương đau

Giọt lệ một lần úa

Biết bao lần chan chứa

Một lần khi bắt đầu

Biết bao lần sau nữa!

 

Chốc, mười mấy năm trời

Trăm nghìn cảnh đổi dời

Nói đến chuyện gặp gỡ

Sóng ngược lại bèo xuôi!

Cuộc đời những lăn lóc

Tiếng cười đổi tiếng khóc

Nào đâu bạn trẻ thơ

Cùng ta kề mái tóc?

Buốn nhớ cảnh năm xưa

Lóng riêng những thẫn thờ

Tóc xanh hồ đã bạc

Luống tiếc tuổi ngây thơ!

 

* * *

 

            Hồ Dzếnh là nhà thơ mang hai dòng máu: cha người Tàu (Quảng Đông), mẹ người Việt. Cha ông sang sinh sống tại Việt Nam vào khoảng thập niên 1890. Hồ Dzếnh chào đời tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi hoàn tất bậc tiểu học, Hồ Dzếnh ra Hà Nội học trung học. Ông đi dạy tư, viết báo, làm thơ từ năm 1931. Năm 1953, Hồ Dzếnh vào Sài Gòn làm báo, đến năm 1954 thì trở về Hà Nội, tiếp tục sáng tác thơ và viết báo. Nhà thơ từ trần tại Hà Nội năm 1991.

            Các tác phẩm tiêu biểu của Hồ Dzếnh là: thi tập “Quê Ngoại”, xuất bản năm 1942; thi tập “Hoa Xuân Đất Việt”, xuất bản năm 1946; tập truyện ngắn “Chân Trời Cũ”, viết năm 1942; tiểu thuyết “Một Chuyện Tình 15 Năm Về Trước”, xuất bản năm 1942 và tiểu thuyết “Những Vành Khăn Trắng”, viết năm 1946.

            Xin chấm dứt việc đọc thơ Tết bằng hai bài thơ của thi sĩ mang hai dòng máu Việt-Hoa:

 

Xuân Ở Quê Em

Hai con ngựa trắng

Ăn cỏ đồng xanh

Hương gió thanh thanh

Vang lừng ca ngợi

Xuân vừa chớm tuổi

Bướm đến quen hoa

Em nhỏ hơn ta

Tình như áo mới

Hôm nay ngày cuối

Của đôi chim khuyên

Hôm nay mùa duyên

Của đôi lòng nhỏ

Tôi về lấy vợ

Người ở bên sông

Mắt đẹp môi hồng

Lòng như hoa nở

Hai mùa gặp gỡ

Chim nhỏ lên cây

Tôi chắp hai tay

Xin trời thắm mãi...

 

Xuân Đôi Ta

Em trở về đây đáp lại lời

Anh từng buông gọi giữa xa xôi

Nghìn trùng non nước đìu hiu nhớ

Đã vọng hồn anh đến cuối trời

 

Anh đã chờ và cây đã xanh

Lừng mùa bay dậy tiếng mây thanh

Em về, mắt đẹp ngời như thuở

Em chửa theo chồng, vẫn mến anh

 

Anh đợi chờ em suốt bấy lâu

Nhủ thầm: xuân thắm chả phai đâu

Một khi xuân thắm là mong nhớ

Và cả thiên thu: vĩnh viễn sầu!

 

Áo em sáng dệt trời xuân gấm

Sông cũ, nguồn xưa rộn rã về…

Ngõ hạnh, mấy mùa quên nét thắm

Nở bừng, khi thoáng bóng hoa lê

 

Em đã về đây, em vẫn nguyền

Như ngày trăng nước chớm tơ duyên

Bao năm xa cách, đi chưa nhạt

Màu tóc song thu, ánh mắt huyền

 

Anh hát mừng em khắp thế gian,

Trập trùng mây núi tiếng ngân vang,

Thơ yêu khôn ngớt trong thiên hạ,

Và cả non sông rợn sóng đàn.

 

Mời em ngồi lại bến sông xanh,

Mây cũ muôn năm chiếu dáng lành.

Ta viết lòng ta cho hậu thế,

Đọc hoài không chán: Em và Anh!

 

Nhân dịp năm mới, Lẩm Cẩm xin chân thành cầu chúc qúy vị cùng bảo quyến dồi dào sức khỏe, vạn sự thắng ý.

 

 

Trở về Trang Chính