|
Nói đến Tết và những thứ cần phải có trong ba ngày Tết, ta nhớ
ngay đến hai câu thơ quen thuộc:
Thịt mỡ
dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu
tràng pháo bánh chưng xanh
Bây giờ, ở Bắc Mỹ này mà nói tới chuyện ăn thịt mỡ
thì ít người dám vì sợ mỡ. Bánh chưng, tuy không khó kiếm, nhưng
coi chừng, ăn nhiều cũng chẳng được vì trong nhân của bánh chưng
có thịt mỡ! Vị nào chẳng may bị tiểu đường, lại càng không nên
ăn bánh chưng, vì bánh chưng được gói bằng gạo nếp, mà trong nếp
thì toàn là đường! Nếu đã không dám thưởng thức thịt mỡ và bánh
chưng, thì đâu cần đến dưa hành!
Thế là, với những thức ăn được liệt kê trong hai câu
thơ Tết này, ta bị hạn chế. Còn lại ba thứ không ăn được thì câu
đối đỏ và tràng pháo có thể tìm thấy ở hội chợ Tết do các hội
đoàn người Việt tổ chức hàng năm, duy chỉ cây nêu là ta chào
thua, không tìm đâu thấy!
Như vậy, Tết ta làm gì, qúy vị ơi?
Không ăn được bằng miệng, trộm nghĩ chúng ta có thể
ăn bằng “mắt”! Xin qúy vị hãy cùng Lẩm Cẩm đọc lại những bài thơ
xuân đặc sắc, độc đáo.
Một trong những bài thơ Tết thật hay và quen thuộc
với nhiều người là bài “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên.
Vũ Đình Liên sinh tại Hà Nội năm 1913, mất ngày 20
tháng Giêng năm 1996. Lúc trẻ, ông theo học trường Bảo Hộ và
trường Luật. Vũ Đình Liên từng dạy học, quản lý báo Tinh Hoa,
chủ trương tờ Revue Pedagogique, làm tham tá ở Hà Nội. Ông cũng
viết văn và làm thơ. Người ta thấy các thi phẩm của Vũ Đình Liên
xuất hiện trên các tờ báo như Phong Hóa, Phụ Nữ Thời Đàm, Loa và
Tinh Hoa.
Một điểm đáng nhớ về Vũ Đình Liên là ông ngưng làm
thơ rất sớm, vào năm 1937, khi ông mới 24 tuổi. Khi đó ông không
giải thích lý do tại sao. Mãi tới năm 1941, trong một lá thư gửi
cho Hoài Thanh và Hoài Chân (đồng tác giả cuốn “Thi Nhân Việt
Nam”), Vũ Đình Liên mới cho biết: “Tôi bao giờ cũng có cái
cảm tưởng là không đạt được ý thơ của mình. Cũng vì không tin
thơ tôi có một chút giá trị, nên đã lâu tôi không làm thơ nữa”.
Bài thơ “Ông Đồ”, kiệt tác của Vũ Đình Liên, dĩ
nhiên, được đăng lần đầu tiên trên báo Tinh Hoa trước năm 1937.
Kể từ đó, trong những số báo xuân, người ta đã nhiều lần in lại
bài thơ thật hay nói về sự tàn lụi của nền Nho học mà ông đồ là
đại diện:
Ông
Đồ
Mỗi năm
hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét,
Như phượng múa rồng bay.”
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thấm
Mực đọng trong nghiên sầu...
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời mưa bụi bay.
Năm nay hoa đào nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Nói đến
thơ Tết, không thể nào không nhớ đến bài thơ tả cảnh chợ Tết ở
vùng quê miền Bắc trướcđây của thi sĩ đồng quê Đoàn Văn Cừ. Bài
thơ được đặt cho một cái tựa đơn giản: “Chợ Tết”.
Cái tài
của Đoàn Văn Cừ là ông “vẽ tranh” trong khi làm thơ bởi vì thơ
của ông rất gợi hình, gợi sắc. Đọc bài “Chợ Tết”, ta thấy như
mình đang xem một bức tranh về chợ Tết với những hình ảnh hiện
ra rõ mồn một trong đầu qua các đoạn thơ tả những sinh hoạt khác
nhau diễn ra tại phiên chợ ở miền quê Bắc Việt:
Chợ
Tết
Dải mây
trắng đỏ dần trên đỉnh núi
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà gianh
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc,
Những thằng cu áo đỏ chạy lon ton
Vài cụ già chống gậy bước lom khom
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau
Sương trắng dỏ đầu cành như giọt sữa
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh
Người
mua bán ra vào đầy cổng chợ
Con trâu đứng vờ dim hai mắt ngủ
Để lắng nghe người khách nói bô bô
Anh hàng tranh kĩu kịt quẩy đôi bồ
Tìm đến chỗ đông người ngồi giở bán
Một thầy khóa gò lưng trên cánh phản
Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu
Ngồi xếp lại đống hàng trên mặt chiếu
Áo cụ Lý bị người chen lấn kéo
Khăn trên đầu đương chít cũng bung ra
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi
Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi
Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa
Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha
Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết
Con gà sống mào thâm như cục tiết
Một người mua cầm cẳng dốc lên xem...
Chợ
tưng bừng như thế đến gần đêm
Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh
Trên con đường đi các làng hẻo lánh
Những người quê lũ lượt trở ra về
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ...
Quả
thật, nếu phải vẽ cảnh đồng quê bằng thơ, thì khó thi sĩ nào
sánh được với Đoàn Văn Cừ.
Nếu ở
phần trên đã nói đến bài thơ năm chữ trứ danh là bài “Ông Đồ”
của Vũ Đình Liên, thì bây giờ xin được đề cập đến bài thơ năm
chữ của Đoàn văn Cừ. Bài thơ này cũng nói về Tết, nên có tựa là
“Tết”, được sáng tác năm 1939:
Tết
Sáng
hôm mồng một Tết
Đèn nến
thắp xong rồi
Bà tôi
ngồi trong ổ
Mặc áo
đỏ cho tôi
Ông tôi
vừa thức dậy
Nằm ngó
cổ trông ra
Trên
ngọn cây đèn bóng
Trời
lất phất mưa sa
Giờ lâu
tràng pháo chuột
Đì đẹt
nổ trên hè
Con gà
mào đỏ chót
Sợ hãi
chạy le te
Cây nêu
trồng ngoài ngõ
Soi
bóng dưới lòng ao
Chùm
khánh sành gặp gió
Kêu
linh kinh trên cao
Từ khi
ông tôi mất
Bà tôi
đã qua đời
Tôi mỗi
ngày mỗi lớn
Nên
chẳng thấy gì vui
Tết đến
tôi càng khổ
Tôi nhớ
bức tranh gà
Chiếc
phong bao giấy đỏ
Bánh
pháo tép ba xu.
Qua bài này, ta còn thấy lời thơ của Đoàn Văn Cừ
giản dị vô cùng, giống như những câu nói bình thường, nhưng
chuyển tải tình cảm một cách chân thành.
Nhà thơ Đoàn Văn Cừ sinh năm 1913, từ trần ngày 27
tháng 6 năm 2004 tại quê của ông ở Nam Định, thọ 92 tuổi. Lúc
sinh thời, tuy là nhà thơ đồng quê nổi tiếng vào bậc nhất, cụ
Đoàn Văn Cừ luôn luôn nhũn nhặn, khiêm nhường.
* * *
Nếu bên
phái nam, ta có bài thơ tả cảnh chợ Tết của thi sĩ Đoàn Văn Cừ,
thì bên phái nữ, cũng có bài thơ tả cảnh chợ ngày xuân mà tác
giả là nữ thi sĩ Anh Thơ.
Nữ thi
sĩ Anh Thơ tên thật là Vương Kiều Ân, sinh năm 1919 tại Ninh
Giang. Thân phụ của bà là một nhà nho, đậu tú tài, đi làm công
chức và được thuyên chuyển đi phục vụ tại nhiều nơi khác nhau.
Vì thế, bà Anh Thơ phải theo gia đình dọn nhà đi nhiều nơi và
đổi trường học nhiều lần. Bà chưa học hết bậc tiểu học.
Thi sĩ
Anh Thơ có nhiều bài thơ đăng trên các báo như Hà Nội Báo (ký
bút hiệu Hồng Anh), Tiểu Thuyết Thứ Năm, Ngày Nay, Phụ Nữ. Năm
1941, bà được giải khuyến khích về bộ môn thơ của Tự Lực Văn
Đoàn. Các tác phẩm chính của Anh Thơ là “Bức Tranh Quê”, tuyển
tập thơ, xuất bản năm 1941; “Xưa”, tuyển tập thơ, cùng viết với
thi sĩ Bàng Bá Lân, cũng xuất bản năm 1941; và “Răng Đen”, tiểu
thuyết, được bà cho trình làng năm 1942.
Anh Thơ
chuyên làm những bài thơ tả những cảnh rất tầm thường như phiên
chợ, cảnh đứa bé quét sân, cảnh người đàn bà ngồi bắt chấy… Khi
đề cập đến những bài đã được viết về mình, Anh Thơ nhận xét đa
số người viết chỉ hỏi bà về mối tình với nhà thơ Nguyễn Bính chứ
không hỏi gì về thơ văn của bà! Nữ thi sĩ cũng cho biết bà làm
thơ từ lúc 6 tuổi sau khi “ngồi trong buồng nghe lén cha tôi dậy
các anh em trai của tôi làm thơ và làm theo”. Dưới đây là bài
thơ tả cảnh chợ Tết của nữ thi sĩ:
Chợ
Ngày Xuân
Mưa vừa
tạnh, nắng bừng trên quán mới
Trên cây đa lấp loáng gió lao xao
Trên những giải lưng điều bay phấp phới
Các cô nàng lơ lẳng nón quai thao
Chợ đông quá! Chỗ này vài chiếu bạc
Những chàng trai ô mới mở giương vây;
Cười nói nói luôn mồm và chỗ khác
Mấy cụ ngồi nhắm rượu gật gù say
Nhưng đông nhất quán hàng người đoán thẻ
Một lão già kính trắng, bịt khăn đen
Các cô gái chen nhau vào vui vẻ
Nghe Thánh truyền sắp đắt mối lương duyên
* * *
Ở phần trên, danh tính nhà thơ Nguyễn Bính đã được
nhắc đến. Vậy thì, trong phần kế, xin nói thêm về ông.
Nguyễn Bính sinh năm 1918 tại thôn Thiện Vịnh, xã
Đồng Đội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Gia đình ông là một gia
đình nhà nho và nghèo. Thuở nhỏ, tên thật của ông là Nguyễn
Trọng Bính, sau đổi thành Nguyễn Bính Thuyết. Thuở nhỏ, Nguyễn
Bính học ở nhà với cha là ông đồ Nguyễn Đạo Bỉnh, sau được người
cậu là ông Bùi trịnh Khiêm nuôi dạy.
Nguyễn Bính mồ côi mẹ lúc mới được vài tháng, nhà
thì lại nghèo, nên ngay từ khi được hơn mười tuổi, ông đã phải
theo người anh lớn của mình là Nguyễn Mạnh Phác ra Hà Nội và Hà
Đông kiếm kế sinh nhai.
Nguyễn Bính bắt đầu làm thơ khá sớm. Bài thơ “Cô
Hái Mơ” là thi phẩm được đăng báo đầu tiên. Năm 1937, ông gửi đi
dự thi tập thơ “Tâm Hồn Tôi” và đoạt được giải thưởng của nhóm
Tự Lực Văn Đoàn. Trong khoảng thời gian từ 1940 tới 1942, Nguyễn
Bình trình làng bẩy tập thơ, trong đó có “Lỡ Bước Sang Ngang”,
“Mười Hai Bến Nước”… Thơ ông được độc giả khắp cả nước ưa
chuộng. Một số thi phẩm của Nguyễn Bính đã được phổ nhạc như các
bài “Cô Hái Mơ”, “Thoi Tơ”, “Ghen”, “Chân Quê”, vv…
Bài thơ “Xuân Tha Hương” của Nguyễn Bính rất quen
thuộc với mọi người:
Xuân
Tha Hương
(Nguyễn
Bính gửi chị Trúc)
Tết này
chưa chắc em về được
Em gửi
về đây một tấm lòng
Ôi! Chị
một em, em một chị!
Trời
làm xa cach mấy con sông!
Em đi
dang dở đời mưa gió
Chị ở
vuông tròn phận lãnh cung!
Chén
rượu tha hương! Trời! Đắng lắm!
Trăm
hờn nghìn giận suốt mùa đông!
Chiều
qua nhìn ngắm hoàng hôn xuống
Nhớ chị
làm sao nhớ lạ lùng!
Tết này
chưa chắc em về được
Em gửi
về đây một tấm lòng
Vườn ai
thấp thoáng hoa đào nở
Chị vẫn
môi son? Vẫn má hồng?
Áo rét
ai đan mà ngóng đợi
Còn vài
hôm nữa hết mùa đông
Cột nhà
hàng xóm lên câu đối
Em đọc
tương tư giữa giấy hồng!
Gạo nếp
nơi đây sao trắng quá
Mỗi
ngày phiên chợ một thêm đông
Thiên
hạ đua nhau mà sắm Tết
Một
mình em vẫn cứ tay không!
Vườn
nhà Tết đến hoa còn nở
Chị gửi
cho em một cánh hồng
(Tha
hương chả gặp người tri kỷ
Một
cánh hoa tươi đỡ lạnh lòng!)
Tết này
chưa chắc em về được
Em gửi
về đây một tấm lòng
Chao
ôi! Tết đến mà không được
Trông
thấy quê hương thật não nùng!
Ai bảo
mắc duyên vào bút mực
Sống
đời mang lấy số long đong
Người
ta đi kiếm giàu sang cả
Mình
chỉ mơ toàn chuyện viễn vông!
Em biết
giàu sang đâu đến lượt
Nợ đời
nặng quá gỡ sao xong!
Tết này
chưa chắc em về được
Em gửi
về đây một tấm lòng
Năm
nay, ồ! Thế mà vui chán
Nhưng
vẫn mình em uống rượu hồi
Rượu
say, nhớ chị hồi con gái
Thương
chị từ khi chị lấy chồng
Cố nhân
chẳng biết làm sao ấy
Rặt
những tin đồn chuyện bướm ong
Thôi em
chả dám đa mang nữa
Chẳng
buộc chân vào sợi chỉ hồng
Nàng
bèo bọt quá, em lăn lóc
Chắp
nối nhau hoài cũng uổng công
(Một
trăm con gái thời nay ấy
Đừng
nói ân tình, nói thủy chung!)
Người
ấy xuân già chê gối lẻ
Nên
người nôn nả chuyện sang sông!
Đò
ngang bến dọc tha hồ đấy
Qúy hóa
gì đâu một chữ “đồng”
Vâng,
em trẻ dại, em đâu dám…
Thôi để
người ta được kén chồng
Thiếu
nữ hoài xuân mơ cát sĩ
Chịu
làm sao được những đêm đông?
(Khốn
nạn, tưởng yêu thì khó chứ
Không
yêu thì thực dễ như không!)
Chị ơi!
Tết đến em mua rượu
Em uống
cho say thật não nùng
Uống
say cười vỡ ba gian gác
Ném cái
chung tình xuống đáy sông!
Tết này
chưa chắc em về được
Em gửi
về đây cả tấm lòng
Sương
muối gió may rầu rĩ lắm
Chỉ vài
hôm nữa hết mùa đông
Xuân
đến cho em thêm một tuổi
Thế nào
em cũng phải thành công
Em
không khóc nữa, không than nữa
Đây một
bài thơ hận cuối cùng
Không
than chắc hẳn hồn tươi lắm
Không
khóc tha hồ đôi mắt trong
Chị ơi!
Em cưới mùa xuân nhé
Đốt
pháo cho thơm với rượu hồng
* * *
Ở các phần trên, nếu ta đã có dịp đọc lại hai bài
thơ xuân 5 chữ, thì bây giờ, xin đọc lại một bài thơ xuân 4 chữ.
Thi phẩm mang tựa đề “Chiều Xuân” do nhà thơ nổi tiếng Huy Cận
sáng tác:
Chiều Xuân
Xuân
gội tràn đầy
Giữa
lòng hoan lạc
Trên
mình hoa cây…
Nắng
vàng lạt lạt
Ngày đi
chầy chầy
Hai
hàng cây xanh
Đâm
chồi hy vọng
Ôi
duyên tốt lành…
Én ngàn
đưa võng
Hương
đồng lên hanh
Kề bên
đường mòn
Mùa
đông đã tạnh
Cỏ mọc
bờ non…
Chiều
xuân tươi mạnh
Gió bay
vào hồn
Có bàn
tay cao
Trút
bình ấm dịu
Từ
phương xa nào…
Người
cô yểu điệu
Nghe
mình nao nao…
Nhạc
vươn lên trời
Đời
măng đang dậy
Tưng
bừng muôn nơi…
Mai
rừng gió hẩy
Chiều
xuân đầy lời
Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, sinh năm 1919 tại
huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Ông tốt nghiệp trường Cao Đẳng
Nông Lâm tại Hà Nội. Vào năm 1936, Huy Cận có thơ đăng trên các
tờ Tràng An và Sông Hương, nhưng ký bút hiệu là Hán Qùy. Trong
những năm từ 1938 đến trước chiến tranh, các thi phẩm của ông
được đăng trên báo Ngày Nay. Tuyển tập thơ “Lửa Thiêng” của Huy
Cận được xuất bản ở Hà Nội năm 1940. Nhà thơ từ trần năm 2005.
* * *
Trong tập thơ “Tiếng Thu” của Lưu Trọng Lư mà nhiều
người biết đến, có bài thơ nói về xuân làm theo thể tự do:
“Này, này! Bạn! Xuân Sang!”
Chàng nhìn xuân mặt hớn hở
Tôi nhìn chàng lòng vồn vã...
Người
xưa không thấy tới.
Lưu Trọng Lư sinh năm 1912 tại Bố Trạch, Quảng Bình.
Ông học tại trường Quốc Học ở Huế đến năm thứ ba thì dọn ra Hà
Nội. Ở Hà Nội ông đi học trường tư một thời gian rồi bỏ học đi
làm báo. Lúc đó, Lưu Trọng Lưu viết cho nhiều tờ báo. Tập thơ
“Tiếng Thu” của ông được trình làng năm 1939. Thơ của Lưu Trọng
Lư gồm nhiều thể loại, từ Đường luật thất ngôn đến lục bát, đến
thơ ngũ ngôn, đến thơ tự do. Một số bài thơ của ông như “Tiếng
Thu”, “Còn Chi Nữa”, “Một Mùa Đông” đã được phổ nhạc. Thi phẩm
“Còn Chi Nữa”, sau khi được Phạm Duy phổ nhạc, trở thành nhạc
phẩm “Hoa Rụng Ven Sông”. Nhà thơ Lưu Trọng Lư qua đời năm 1991.
* * *
Ở miền Nam có rất ít thi sĩ trong thời tiền chiến.
Một trong những thi sĩ người nam hiếm hoi đó là Đông Hồ.
Đông Hồ tên thật là Lâm Tấn Phác, sinh quán ở làng
Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên. Ông chào đời năm 1906, tạ thế năm 1969.
Lúc trẻ, Đông Hồ theo học trường Tây tới năm 16 tuổi thì ngưng.
Sau đó, ông chỉ chuyên học quốc văn, viết văn, làm báo, làm thơ
và mở trường dạy quốc văn. Đông Hồ đặt tên cho trường của mình
là Trí Đức Học Xá. Năm 1932, nhà thơ cho xuất bản tập thơ mang
tựa đề “Thơ Đông Hồ”, và đến năm 1935 thì ông trình làng thi tập
“Cô Gái Xuân”.
Dưới đây là bài thơ “Tuổi Xuân”, được trích từ thi
tập “Cô Gái Xuân” của Đông Hồ:
Tuổi
Xuân
Kể từ
khi quen nhau
Vừa
mười ba tuổi đầu
Tuổi
xuân, tuổi vui sướng
Nào có
biết chi sầu
Quen
nhau thì yêu nhau
Yêu
nhau quấn quít nhau
Quây
quần trong một tổ
Như đôi
chim bồ câu
Ngày
tháng chỉ mong cầu
Gần
nhau được dài lâu
Sum vầy
lòng những ước
Ly biệt
có ngờ đâu
Muốn
thế, vẫn được thế
Ai khéo
chiều nhau tệ
Bao
những cuộc vui cười
Cùng
nhau cùng chia sẻ:
Anh
ơi! Em muốn học
Anh hãy
dạy em đọc
Dạy em
không? Hở anh?
Không
dạy em, em khóc
Em
đừng làm nũng chứ!
Hãy nói
anh nghe thử
Em muốn
học chữ gì?
Em
muốn học Quốc ngữ!
Quốc
ngữ chữ Việt Nam
Này thơ
em, anh xem
Anh
nghe, em cứ đọc!
Thơ
rằng: “Anh yêu em!…
“Em
muốn dạy anh thêu
Yêu
em, anh phải chiều
Chỉ
kim, anh thử lựa
Nghe
lời em, em yêu
Này!
Anh thêu khéo chán
Ngàn
mây đôi chiếc nhạn
Chắp
cánh tung trời bay
Trăm
năm cùng kết bạn
Tươi
thắm bức lụa là
Đôi
chim nhạn không già
Đời
mình âu cũng thế
Ngày
xuân ở với ta…”
“Này
anh! Buổi thư nhàn
Em dạy
anh học đàn
Học
đàn khó! - Đâu khó!
Chỉ đôi
tiếng nhặt khoan!...”
Khoan
nhặt đôi đường tơ
Lay
động đôi lòng thơ
Gảy nên
khúc tình ái
Khúc
dứt, lòng ngẩn ngơ…
Buông
bắt trên tơ trúc
Nhìn
em, năm ngón ngọc
Năm búp
măng nõn nà
Mải
nhìn, đàn chửa thuộc…
“Anh
ơi! Em muốn chơi,
Non
nước chốn này vui…
Âu yếm,
cầm tay dắt
Cùng
nhau thưởng cảnh trời
Ngày
lặng, màu hoa cỏ
Đêm
thanh, thú trăng gió
Cảnh
trời với lòng người
Biết
bao lần gặp gỡ
“Anh!
Em muốn chơi thuyền
Một
ngày ta làm tiên…”
Buông
buồm theo ngọn gió
Sóng
nước những triền miên
Trời
biển cảnh lồng lộng
Đôi tấm
lòng rung động
Kề vai
sẽ tựa nhau
Chập
chờn trong giấc mộng
Bên
rừng, chiếc lá rơi
Mặt
nước, cánh hoa trôi
Chòm
mây bay tản mác
Đàn
nhạn rẽ phương trời
Trông
cảnh, em ngậm ngùi
Nhìn
em, anh thở dài
Cảm
nghĩ chuyện dời đổi
Giọt lệ
bắt đầu rơi!...
Biết
đời từ hôm ấy
Tuổi
lớn, ngày dần thấy:
Chuyện
buồn đưa đến thường
Ngày
vui không có mấy
Đôi lứa
cũng xa nhau
Tuổi
xuân còn mãi đâu
Biệt ly
nay mới biết
Chi
xiết nỗi thương đau
Giọt lệ
một lần úa
Biết
bao lần chan chứa
Một lần
khi bắt đầu
Biết
bao lần sau nữa!
Chốc,
mười mấy năm trời
Trăm
nghìn cảnh đổi dời
Nói đến
chuyện gặp gỡ
Sóng
ngược lại bèo xuôi!
Cuộc
đời những lăn lóc
Tiếng
cười đổi tiếng khóc
Nào đâu
bạn trẻ thơ
Cùng ta
kề mái tóc?
Buốn
nhớ cảnh năm xưa
Lóng
riêng những thẫn thờ
Tóc
xanh hồ đã bạc
Luống
tiếc tuổi ngây thơ!
* * *
Hồ Dzếnh là nhà thơ mang hai dòng máu: cha người Tàu
(Quảng Đông), mẹ người Việt. Cha ông sang sinh sống tại Việt Nam
vào khoảng thập niên 1890. Hồ Dzếnh chào đời tại huyện Quảng
Xương, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi hoàn tất bậc tiểu học, Hồ Dzếnh
ra Hà Nội học trung học. Ông đi dạy tư, viết báo, làm thơ từ năm
1931. Năm 1953, Hồ Dzếnh vào Sài Gòn làm báo, đến năm 1954 thì
trở về Hà Nội, tiếp tục sáng tác thơ và viết báo. Nhà thơ từ
trần tại Hà Nội năm 1991.
Các tác phẩm tiêu biểu của Hồ Dzếnh là: thi tập “Quê
Ngoại”, xuất bản năm 1942; thi tập “Hoa Xuân Đất Việt”, xuất bản
năm 1946; tập truyện ngắn “Chân Trời Cũ”, viết năm 1942; tiểu
thuyết “Một Chuyện Tình 15 Năm Về Trước”, xuất bản năm 1942 và
tiểu thuyết “Những Vành Khăn Trắng”, viết năm 1946.
Xin chấm dứt việc đọc thơ Tết bằng hai bài thơ của
thi sĩ mang hai dòng máu Việt-Hoa:
Xuân
Ở Quê Em
Hai con
ngựa trắng
Ăn cỏ
đồng xanh
Hương gió thanh thanh
Vang lừng ca ngợi
Xuân vừa chớm tuổi
Bướm đến quen hoa
Em nhỏ hơn ta
Tình như áo mới
Hôm nay ngày cuối
Của đôi chim khuyên
Hôm nay mùa duyên
Của đôi lòng nhỏ
Tôi về lấy vợ
Người ở bên sông
Mắt đẹp môi hồng
Lòng như hoa nở
Hai mùa gặp gỡ
Chim nhỏ lên cây
Tôi chắp hai tay
Xin trời thắm mãi...
Xuân
Đôi Ta
Em trở
về đây đáp lại lời
Anh
từng buông gọi giữa xa xôi
Nghìn
trùng non nước đìu hiu nhớ
Đã vọng
hồn anh đến cuối trời
Anh đã
chờ và cây đã xanh
Lừng
mùa bay dậy tiếng mây thanh
Em về,
mắt đẹp ngời như thuở
Em chửa
theo chồng, vẫn mến anh
Anh đợi
chờ em suốt bấy lâu
Nhủ
thầm: xuân thắm chả phai đâu
Một khi
xuân thắm là mong nhớ
Và cả
thiên thu: vĩnh viễn sầu!
Áo em
sáng dệt trời xuân gấm
Sông
cũ, nguồn xưa rộn rã về…
Ngõ
hạnh, mấy mùa quên nét thắm
Nở
bừng, khi thoáng bóng hoa lê
Em đã
về đây, em vẫn nguyền
Như
ngày trăng nước chớm tơ duyên
Bao năm
xa cách, đi chưa nhạt
Màu tóc
song thu, ánh mắt huyền
Anh hát
mừng em khắp thế gian,
Trập
trùng mây núi tiếng ngân vang,
Thơ yêu
khôn ngớt trong thiên hạ,
Và cả
non sông rợn sóng đàn.
Mời em
ngồi lại bến sông xanh,
Mây cũ
muôn năm chiếu dáng lành.
Ta viết
lòng ta cho hậu thế,
Đọc
hoài không chán: Em và Anh!
Nhân
dịp năm mới, Lẩm Cẩm xin chân thành cầu chúc qúy vị cùng bảo
quyến dồi dào sức khỏe, vạn sự thắng ý.
Trở về Trang Chính
|