|
Thú thật với qúy vị, mới chỉ vận “Nhất Dương Chỉ”
đánh xong cái tựa của bài hầu chuyện qúy vị kỳ này - Phở - Lẩm
Cẩm đã cảm thấy thèm, thèm một cách sôi nổi, thèm một cách cuồng
nhiệt món ăn ngon tuyệt vời và trứ danh này của bà con người
Việt chúng ta!
Tại sao Lẩm Cẩm yêu phở một cách nồng nàn y chang
chàng thanh niên mới lớn nọ nồng nàn yêu một thanh nữ kia? Lý do
thật đơn giản, dễ hiểu: đã mang dòng máu Việt, không nhiều thì
ít, mấy ai không thích phở?
Thật
tình mà nói, từ hồi nào tới giờ, Lẩm Cẩm chưa bao giờ nghe ai
nói ghét phở. Mức độ yêu phở có thể nồng nàn khác nhau tùy từng
người, nhưng nếu chúng ta có cơ hội đi một đường lả lướt làm một
màn hỏi ý dân, tiếng Anh tiếng u kêu là “survey”, thì Lẩm Cẩm
tin chắc kết qủa của cuộc điều nghiên sẽ chỉ rõ tuyệt đại đa số
bà con người Việt ta nồng nàn yêu phở!
Vì hiện
nay món phở tuyệt cú mèo chẳng còn chỉ là món ăn được bà con
người Việt chúng ta độc quyền ưa thích nữa, bằng chứng là hiện
nay dân Mỹ, dân Úc, dân Âu Châu, dân Ca-na-điên, dân Nhật...
thích ăn phở quá cỡ thợ mộc, cho nên nếu ta mở rộng màn hỏi ý
dân về phở cho cả qúy bà con không mang dòng máu Việt tham dự,
Lẩm Cẩm cũng tin chắc là kết quả của cái “survey” vẫn không thay
đổi. Ở cái xưởng cày ngày ngày Lẩm Cẩm vào vặn bù-loong kiếm
cơm, Lẩm Cẩm thấy rõ tất cả các đấng đồng nghiệp của mình đều mê
phở tít thò lò sau khi được Lẩm Cẩm dẫn tới tiệm phở ăn thử một
lần! Vì quá thích phở, bây giờ các trự này tự động rủ nhau đi
húp phở đều đều! Ta có thể nói một cách rất vững bụng rằng dù là
Việt, Tây hay Tàu; dù là vàng, trắng, đen hay cà phê sữa, ai ai
cũng khoái đớp phở! Thú thật với qúy vị, khi nhìn mấy ông tây,
bà đầm da trắng, mũi lõ vào tiệm ăn Việt Nam gọi phở lia chia,
rồi sau đó tận tình thưởng thức phở, Lẩm Cẩm thấy nở lỗ mũi,
thấy hãnh diện quá!
Vì tự
phở là món ăn ngon đã điếu, cho nên Lẩm Cẩm thấy việc ca tụng
phở nhiều khi trở nên không cần thiết. Đúng như ông bà ta đã nói
cái gì “hữu xạ” thì nó “tự nhiên hương”. Thế nhưng, vì phở tuyệt
vời quá, cho nên những bài thơ, bài viết ca tụng phở vẫn xuất
hiện khi này khi khác, chỗ này chỗ nọ.
Trong
quá khứ và ngay cả hiện tại, nhiều người đã viết về phở, luận về
phở. Một trong những bài tùy bút nổi tiếng nhất của Nguyễn Tuân
là bài viết về phở. Gần đây, Lẩm Cẩm được đọc những bài viết về
phở rất công phu của Người Tân Định, của Đoàn Tiểu Long, của
Song Thao... Rất có thể còn có những bài viết khác mà Lẩm Cẩm
chưa được đọc. Vì là người yêu trung thành 24/24 của phở (thú
thật với qúy vị Lẩm Cẩm có thể dễ dàng bắt chước cụ Doanh Điền
Sứ Nguyễn Công Trứ nhà ta mà nói rằng “...ngày ba bữa vỗ bụng
phở...”), cho nên Lẩm Cẩm rất thích những bài viết kể trên. Mỗi
người viết một cách, mỗi bài có những cái lý thú riêng, đọc thật
là sướng!
Cũng vì
mê phở như mê người yêu, Lẩm Cẩm đã tìm đọc một số bài thơ nói
về phở. Dưới đây, Lẩm Cẩm xin trích hầu qúy vị mấy bài thơ về
phở. Nếu tính số năm, thì các bài thơ này đã lần lượt xuất hiện
trong thời gian 70 năm qua, từ 1937 tới 2006.
Bài thơ
về phở đầu tiên Lẩm Cẩm xin trích ở đây là bài thơ của cụ Tú Mỡ.
Tú Mỡ viết bài thơ này năm 1937 và cụ đặt cho nó cái tựa đề là
“Phở Đức Tụng”:
Trong
các món ăn quân tử vị
Phở là
quà đáng qúy ở trên đời
Một vài
xu nào đắt đỏ mấy mươi (*)
Mà đủ
vị: ngọt, bùi, thơm, béo, bổ
Này
bánh cuốn, này thịt bò
Này
nước dùng sao nhánh mỡ
Ngọn
rau thơm hành củ thái trên
Nước
mắm, hồ tiêu, cùng dấm ớt điểm thêm
Khói
nghi ngút đưa lên thơm điếc mũi
Như xúc
động tới ruột, gan, tim, phổi
Như dục
khơi cái đói của con tì
Dẫu sơn
hào hải vị khôn bì
Xơi một
bát thường khi chưa thích miệng
Kẻ phú
qúy cho chí người bần tiện
Hỏi ai
là đã nếm chẳng ưa?
Thầy
thông, thầy phán đi sớm về trưa
Điểm
tâm phở, ngon ơ và chắc dạ
Cánh
thuyền thợ làm ăn vất vả
Phở xơi
no cũng đỡ nhọc nhằn
Khách
làm thơ, đêm thức viết văn
Được
bát phở cũng đỡ băn khoăn óc bí
Bọn đào
kép, con nhà ca kỹ
Lấy phở
làm đầu vị giải lao
Chúng
chị em sớm mận, tối đào
Nhờ có
phở cũng đỡ hao nhan sắc
Phở là
đại bổ, tốt bằng mười thuốc bắc
Quế,
phụ, sâm, nhung chưa chắc đã hơn gì
Phở bổ
âm, bổ dương, bổ phế, thận, can, tì...
Bổ cả
ngũ tạng, tứ chi, bát mạch
Anh em
lao động, đồng tiền không rúc rích
Coi phở
là môn thuốc ích vô song
Các bậc
vương tôn thường chả phượng, nem công
Chưa
nếm phở vẫn còn không đủ món
Đùng
khinh phở là món ăn hèn mọn
Đấu xảo
thành Ba-lê còn phải đón phở sang
Cùng
các món ăn ngoại quốc phô trương
Ngon
lại rẻ, phở thường tranh quán giải
Sống
trên đời, phở không ăn cũng dại
Lúc
buông tay, ắt phải đưa kem
Ai ơi!
nếm phở kẻo thèm.
(*) Lúc
tác giả viết bài thơ về phở này vào năm 1937, tiền rất có giá
trị. Tác giả đi trọ học chỉ tốn 60 xu một tháng.
Bài thơ
thứ hai về phở mà Lẩm Cẩm trích ở đây xuất hiện tại Sài-Gòn năm
1975, nghiã
là nó ra đời 38 năm sau bài “Phở Đức Tụng” của cụ Tú Mỡ. Tác giả
bài thơ này là Bếp Sài-Gòn và ông đặt cho bài thơ cái tựa đề là
“Quảng Cáo Phở”:
Kính
cáo cùng nội ngoại chư quân tử:
Có dịp,
mời nếm thử “Phở” Bếp tôi
Tay
thớt dao, kinh nghiệm đã lâu đời
Xơi một
bát là nhớ hoài, nhớ mãi
Phở Bếp
tôi chỉ lấy công làm lãi
Rẻ lại
ngon, tiếp đãi thật ân cần
Từ vua
quan cho đến phó thường dân
“Mắm
xốt” hết, Bếp chẳng phân giai cấp
Muốn
phở ngon, phải chọn bò béo mập
Bánh
chọn sao? sợi bánh thật dẻo, mềm
Mời lại
đây! Xơi cho biết một phen
Để
thưởng thức: tái, gầu, gân, vè, nạm
Người
thanh cảnh: nước lèo trong, chẳng chán
Kẻ phàm
phu: mỡ béo nhánh vành môi
Phở Bếp
tôi: đầy đủ các rau tươi
Hạt
tiêu, ớt, hành, mùi, không hề thiếu (*)
Mùi
nước lèo đưa lên thơm điếc mũi (*)
Như dục
khơi cái đói của con tì
“Ga-răng-ti” phở ngon ít ai bì
Ăn một bát
còn có khi chưa thích khẩu
Phở, đại
bổ, chẳng thua gì tam tinh hải cẩu
Dùng phở
đều “khứa lão” vẫn phương cương
Các “nhóc
nhi”, đang lứa tuổi còn non,
Bếp
khuyên: tái “sách” dòn sơi kỹ
Ăn thật
nhiều sẽ mở mang ý chí
Sẽ nên
danh, rồi thỏa chí bình sinh
Tái “sách”
đều làm rạng trí thông minh
Mai sau sẽ
hiển vinh và danh giá
Còn qúy bà
chẳng may lâm cảnh góa
Bếp khuyên
dùng: phở tái, giá, hành chần
Nếu chưa
ăn, hãy nếm thử một lần
Chắc chắn
sẽ muôn vạn phần nhớ phở
Các thanh
niên, tuổi xuân vừa cưới vợ
Bếp khuyên
nên ăn phở tái, gầu, gân
Nhớ kêu
thêm chút nước béo nếu cần
Sẽ bất
chấp dài chân hay ngắn cổ
Còn qúy
cô, đang độ hoa vừa nở
Ăn phở
đều, hơ hớ tuổi thanh xuân
Trai đương
tơ hàng lũ muốn làm thân
Tha hồ kén
khách đồng sàng đồng tịch
Phở ăn
mãi, càng ăn càng thấy thích
Bổ lại
ngon, lợi ích thật vô song
Phở ơi!
ngày nhớ đêm mong
Phở khắp
thế giới là lòng bếp vui.
(*) Hai
câu thơ này nhái hai câu thơ của Tú Mỡ trong bài “Phở Đức Tụng”
Bài thơ
thứ ba Lẩm Cẩm xin giới thiệu tới qúy vị ở đây là do một bạn
hiền của
Lẩm Cẩm cư
ngụ tại Ottawa, thủ đô miền đất lạnh tình nồng Canada, sáng tác.
Đây là một bài thơ vui mang tựa đề “Phở Bò” mà bạn hiền Nguyễn
Bá Vinh viết năm 2006:
Nơi đây có
bán phở bò
Hành xắt
dùng loại củ to mới tình
Sợi bánh
mềm, thật tinh khiết trắng
Gân dẻo
tươi, thượng thặng thịt đùi
Nước lèo,
hơi bốc thơm mùi
Nạm, gầu,
tái, sách, đầy cười miệng tô
“Ngầu-pín”
hầm, dài, to, tươi, tốt
“Lạp-chíu-chương” tương ngọt thơm tho
Xanh xanh
trên trốc, nhiều ngò
Đũa ngà
xinh xắn khéo so bằng đầu
Hỏi cao
lương ở đâu bằng phở
Ăn phở bò,
ít mỡ, mịn da
Qúy ông,
các mợ, các bà
Phở ăn đều
đặn trẻ ra mười phần
Già ăn phở
hồi xuân đẹp đẽ
Gái ăn
nhiều như thể nàng tiên
Trai ăn
thêm bảnh, thắm duyên
Ế ẩm? ăn
phở đắt liền, cam đoan
Phở khoái
khẩu trăm ngàn người biết
Nổi tiếng
xưa, nước Việt thành đô
Người
người khen tặng, hoan hô
Năm châu
ưa chuộng phở bò Việt Nam.
Ngoài bài
“Phở Bò” nói về phở nước, bạn hiền Bá Vinh còn gửi cho Lẩm Cẩm
một bài
thơ nữa viết về phở xào. Món phở này cũng ngon, cũng độc đáo ra
gì và hiện không thấy xuất hiện nhiều trong thực đơn của các
tiệm phở ở hải ngoại. Bài thơ mang tựa “Phở Xào”:
Đây! phở
xào, trường sinh, đại bổ
Món sơn
hào bán ở nơi mô?
Sao bằng
món phở xào khô
Thịt bò
thơm ướp thơm tho bốc mùi.
Hành mươi
cọng ngon, vui con mắt
Cá-rốt
hồng tươi nhất củ to
Tràn trề
dầu mỡ tưới vô
Cọng ngò
lún phún điểm tô xanh rì.
Mời qúy
khách một khi đã biết
Món phở
xào đãi tiệc lúc vui
Già ăn trẻ
lại vài mươi
Cô đơn,
thưởng thức, yêu đời, lên hương.
Tinh hải
cẩu khó dường sánh kịp
Trăm phần
trăm tinh khiết xào khô
Thân hình
cứng cựa, nở to
Sâm, nhung
chưa dễ thấm vô trong người.
Ăn một điã
cho đời tươi trẻ
Hiếm hoi?
dùng, sanh đẻ nhiều con
Trắng
phau, điã lớn nõn nòn
Thần tiên
vị thuốc, món ngon: PHỞ XÀO.
Cả hai bài
thơ về phở nước và phở xào của bạn hiền Bá Vinh đã xuất hiện
trong
đặc san
Tuổi Thọ của Hội Người Việt Cao Niên Ottawa-Hull, phát hành nhân
dịp Tết Đinh Hợi vừa qua.
Như Lẩm Cẩm đã thưa, hiện nay ít thấy tiệm phở nào ở
hải ngoại có bán món phở xào. Cách đây khá lâu, tại thủ phủ
Toronto, nơi Lẩm Cẩm ăn dầm nằm dề hơn hai mươi mấy niên qua, có
tiệm phở “Bằng” bán món phở xào. Khi đó, lúc nào thèm món này,
Lẩm Cẩm lập tức ghé phở Bằng. Tiếc là sau một vài năm hành nghề
tại Toronto, chủ nhân phở Bằng đã quyết định đóng cửa chi nhánh
Toronto để chỉ tiếp tục bán phở tại thành phố Montreal như trước
(phở Bằng ra đời tại Montreal). Lẩm Cẩm không biết hiện có tiệm
phở nào bên xứ Cờ Hoa, bên Úc, bên Âu châu bán món phở xào hay
không? Có vẻ như phở xào đã thất truyền!
Việc phở xào thất truyền không chỉ xảy ra tại hải
ngoại mà còn xảy ra ngay ở trong nước. Trong bài viết rất hay về
phở của ông cách đây đã lâu, Người Tân Định cho biết:
“... Từ
Nam chí Bắc hiện nay, hình như các món phở xào và phở áp chảo đã
thất truyền. Hồi sau năm 1954, Sài Gòn cũng có xuất hiện mấy món
này, sau đó thì một thời gian tiệm phở 79 ở đường Võ Tánh, gần
Ngã Sáu Sài Gòn cũng có mấy món này, nhưng không phải là tay
chuyên môn làm, nên ít khách kêu, rồi dẹp luôn, vì hồi đó người
muốn ăn phở xào, phở áp chảo, chỉ là thành phần Bắc Kỳ di cư,
tức Bê 54 như gia đình tôi chẳng hạn. Ông bô tôi cũng thích ăn
mấy món này, ngoài tiệm không có thì bà bô tôi làm ở nhà cho ổng
ăn đỡ vậy...”
Có lẽ đã
lâu lắm nhiều người trong bà con ta ở hải ngoại không có dịp ăn
phở xào hay phở áp chảo. Để giúp qúy vị nhớ lại hay biết qua về
hai món này, xin mời qúy vị nghe Người Tân Định kể lại cách làm
phở xào và phở áp chảo của cụ bà thân sinh ra ổng:
“... Phở
áp chảo hay phở xào thì cũng gồm hai thành phần chính là bánh
phở và ‘người lái’. Quan sát bà bô tôi làm thì bánh phở tươi mua
về từng lá, phải xắt to bản, loại bánh rờ vô thấy dẻo và ráo
tay, không dính tay, không thoa dầu (mùi dầu khiến phở bị hôi
dầu). Phở xào thì có xào mềm và xào dòn. Phở áp chảo thì có áp
chảo khô, áp chảo nước. Nếu làm phở xào mềm thì sau khi xắt,
bánh phở được gỡ tơi ra, rắc một tí muối, trộn đều, bỏ bánh vào
chảo dầu thật nóng, tải mỏng ra, đảo nhanh tay cho bánh khỏi
cháy. Khi sợi bánh săn lại thì rắc hành hoa (phần trắng của cọng
hành lá) xắt nhỏ, đổ ra điã, rồi mới xào ‘người lái’ đổ lên.
Bánh phở xào dòn thì phải rắc đều bột năng vào bánh phở, rũ cho
tơi, không sợi nào dính sợi nào, rồi cho vào chảo dầu nóng, lật
qua lật lại cho vỏ dòn thì lấy ra điã ngay, rồi đổ ‘người lái’
lên. Phở áp chảo khô hay áp chảo nước thì cũng theo cách tương
tự, chỉ khác là thời gian áp bánh phở vô chảo lâu hay mau thôi,
áp chảo nước thì áp mau, áp chảo khô thì áp lâu. Áp chảo khô thì
ăn khô, còn áp chảo nước thì vẫn phải chan nước dùng như phở
nước vậy. ‘Người lái’ là thịt bò phi-lê xắt mỏng, to bản, xào
với cần tây, cà-rốt, cà chua, gừng...
Cũng trong
bài viết cách đây gần hai chục năm, khi nói đến việc tái xuất
giang hồ của phở xào và phở áp chảo tại Sài Gòn, Người Tân Định
kể:
“... Gần
đây, với thời ‘bung ra’ và ‘phục hưng’ của phở, thì phở xào và
áp chảo đã thấy xuất hiện ở vài tiệm như phở Bắc Hải ở đường
Nguyễn Du Q. 1, phở Bình ở đường Lý Chính Thắng (Yên Đỗ cũ) Q.
3, phở Dũng ở đường Trường Sơn (đường mới mở ở khu Tân Sơn Nhất,
Tân Bình). Mấy anh già Bê 54 bao năm không được ăn phở xào, phở
áp chảo, rủ nhau đi ăn ở tiệm được nghe đồn ngon nhất, là phở
Bắc Hải Nguyễn Du (phải gọi như vậy để phân biệt với hàng loạt
phở Bắc Hải mọc lên ở một số đường phố khác). Đặc điểm của tiệm
này là đầu bếp và phục vụ (chạy bàn) đều là đàn ông, và bán với
giá hữu nghị, 20 ngàn một điã ăn no. Tôi cũng đã ăn thử, nhưng
tôi vẫn không tìm lại được hương vị phở xào và phở áp chảo ngày
xưa ở Hà Nội nữa, một phần do phở ngày nay biến tấu búa xua,
phần vì chính cái gu của mình có thể đã thay đổi từ hồi nào mà
chính mình cũng khó nhận ra...”.
Đọc xong
phần tả rõ cách làm cả phở xào mềm lẫn phở xào dòn, cả phở áp
chảo khô lẫn phở áp chảo nước, không biết qúy vị thấy sao, chứ
riêng Lẩm Cẩm thì thấy cơn thèm phở xào và áp chảo dâng cao như
sóng thần! Tưởng tượng trong miệng mình đang nằm chễm chệ miếng
bánh phở xào dòn, cùng với một hay hai lát thịt bò mềm thái mỏng
xào thật tới với cần tây, cà-rốt, cà chua đượm tí vị gừng; rồi
tưởng tượng đang khoan thai nhai và trộn đều tất cả những thứ đó
trong miệng, rồi tưởng tượng tất cả quyện vào nhau thành một hỗn
hợp tinh bột với thịt tươi, với đôi ba loại rau để tiết ra vị
thơm ngon, quyến rũ trong miệng, Lẩm Cẩm thèm rỏ dãi! Cái óc
tưởng tượng nó đang hành hạ Lẩm Cẩm, qúy vị ơi!
Trong cả
mấy bài thơ nói về phở Lẩm Cẩm đã trình qúy vị trong lần thưa
chuyện kỳ này, bài nào cũng ca tụng phở không hết lời. Mà khen
phở như thế là đúng, là chẳng nói quá một ly ông cụ nào. Tuy
nhiên, chỉ có cụ Tú Mỡ nhà ta là đã coi phở như một cái đạo
giống như trà đạo của con cháu Thiên Hoàng nơi xứ Mặt Trời Mọc.
Chẳng cần
đọc hết cả bài thơ, chỉ cần liếc qua tựa đề “Phở Đức Tụng” Tú Mỡ
đặt cho bài thơ, bà con ta thấy ngay cụ đã nâng phở lên một vị
trí “thiêng liêng”. Nếu để ý, người ta thấy là trong các đạo đều
có những bài kinh ngắn, được soạn ra cho những tín đồ thuần
thành tụng hàng ngày. Những bài kinh này được gọi là kinh nhật
tụng. Bây giờ, Tú Mỡ xem bài thơ phở của mình là một bài tụng để
cho “tín đồ” của phở tán dương cái ngon, cái bổ, cái ích lợi của
việc ăn phở, thì chẳng phải cụ đã nâng cấp món ăn tuyệt vời của
dân ta lên hàng một đạo hay sao? Chính vì lý do này, ngày nay ta
chẳng cần thắc mắc, không biết phở có được coi như một cái đạo
như trà ở bên Nhật không? Cách đây 70 năm, cụ Tú Mỡ đã làm giùm
chúng ta việc này rồi.
Vì cái bổ,
cái lợi ích của việc ăn phở, nên cả ba người thơ Tú Mỡ, Bếp Sài
Gòn và Nguyễn Bá Vinh đều chỉ rõ là bất cứ ai ăn phở cũng đều
tốt cả:
-
Cụ Tú Mỡ thì
kể: “Thầy thông, thầy phán đi sớm về trưa”, “Cánh thợ thuyền làm
ăn vất vả”, “Khách làm thơ đêm thức viết văn”, “Bọn đào kép, con
nhà ca kỹ “, “Các bậc vương tôn thường chả phượng, nem công”;
-
Bếp Sài Gòn
thì liệt kê danh sách: “Dùng phở đều ‘khứa lão’ vẫn phương
cương”, “Các ‘nhóc nhi’ đang lứa tuổi còn non”, “Còn qúy bà
chẳng may lâm cảnh góa”, “Các thanh niên, tuổi xuân, vừa cưới
vợ”, “Còn qúy cô, đang độ hoa vừa nở”; và
-
Bá Vinh thì
nhắc khéo: “Già ăn phở hồi xuân đẹp đẽ”, “Gái ăn nhiều như thể
nàng tiên”, “Trai ăn thêm bảnh, thắm duyên”.
Nhưng, nếu
phải chọn vị nào là người chu đáo nhất trong ba người thơ kể
trên,
Lẩm Cẩm sẽ
chọn cụ Tú Mỡ nhà ta. Lý do là vì cụ không bỏ sót một ai. Xin
đọc lại hai câu trong bài “Phở Đức Tụng”:
“Chúng chị
em sớm mận, tối đào
Nhờ có phở
cũng đỡ hao nhan sắc”
Qua hai câu này, rõ ràng cụ Tú Mỡ không quên để ý,
lo lắng cả cho các chị em ta, những người phải hành nghề bằng
cái vốn Trời cho, và nhắc nhở chị em ăn phở để bồi dưỡng thân
xác!
Trong bốn bài thơ Lẩm Cẩm trích dẫn, chỉ có bài
“Quảng Cáo Phở” của Bếp Sài Gòn là nói rõ tác giả viết bài thơ
này nhằm mục đích quảng cáo cho món phở ngon đã điếu của ông.
Nhưng thật ra, cả ba bài thơ còn lại cũng gián tiếp quảng cáo
cho phở. Lý do: khen phở ngon tuyệt vời và bổ vô song không là
phải quảng cáo cho món ăn độc đáo này thì là cái gì?
Trong bài thơ “Quảng Cáo Phở”, Lẩm Cẩm thích nhất
đoạn ông khuyên học sinh thì nên ăn phở “tái sách” bởi vì:
“Ăn thật
nhiều sẽ mở mang ý chí
Sẽ nên
danh, rồi thoả chí bình sinh”
rồi tới đoạn khuyên qúy bà chẳng may lâm cảnh góa
nên ăn phở “tái, giá” bởi vì:
“Nếu chưa
ăn, hãy nếm thử một lần
Chắc chắn
sẽ muôn vạn phần nhớ phở”
rồi tới đoạn khuyên các cậu vừa cưới vợ nên ăn phở
“tái, gầu, gân” bởi vì phở rất bổ, giúp các cậu:
“Sẽ bất
chấp dài chân hay ngắn cổ”
Cả người thơ Tú Mỡ lẫn Bếp Sài Gòn và Nguyễn Bá Vinh
đã “nhất trí cao” về tác dụng bồi bổ sức lực tuyệt diệu của phở.
Chả thế mà Bếp Sài Gòn thì viết:
“Phở, đại
bổ, chẳng thua gì tam tinh hải cẩu”
còn cụ Tú Mỡ thì hạ bút:
“Phở là
đại bổ, tốt bằng mười thuốc bắc
Quế, phụ,
sâm, nhung, chưa chắc đã hơn gì
Phở bổ âm,
bổ dương, bổ phế, thận, can, tì...
Bổ cả ngũ
tạng, tứ chi, bát mạch.”
và Bá Vinh thì ca tụng:
“Đây, phở
xào, trường sinh, đại bổ”
Phở bồi bổ cho thân xác, giúp qúy cậu, qúy ông có
sức lực sung mãn, từ đó việc “dựng cờ khởi nghiã” không gặp khó
khăn. Vậy thì phải chăng, từ mấy chục năm trước, phở đã là
“Viagra” của các đấng nam nhi nước Việt?
Nếu khi sáng tác bài thơ “Quảng Cáo Phở” vào năm
1975, nghiã là lúc chưa có nhiều người Việt ở nước ngoài như
hiện nay, khi chưa có nhiều tiệm phở tại nhiều nơi trên thế giới
như bây giờ, mà Bếp Sài Gòn bộc lộ ước mơ:
“Phở ơi!
ngày nhớ đêm mong!
Phở khắp
thế giới là lòng Bếp vui”
thì khi viết bài thơ “Phở Bò” năm 2006, khi mà số
người Việt tại hải ngoại đã lên tới con số 3 triệu, và khi các
tiệm phở đã xuất hiện tại nhiều nơi trên toàn cầu, thì bạn hiền
Bá Vinh đã khẳng định cho Bếp Sài Gòn biết là mong ước của Bếp
đã thành hiện thực:
“Người
người khen tặng, hoan hô
Năm châu
ưa chuộng phở bò Việt Nam”
Trở về Trang Chính
|