PHỞ


 

Lẩm Cẩm

E-Mail: lamcam@khoahoc.net

29 tháng 03 năm 2007

            Thú thật với qúy vị, mới chỉ vận “Nhất Dương Chỉ” đánh xong cái tựa của bài hầu chuyện qúy vị kỳ này - Phở - Lẩm Cẩm đã cảm thấy thèm, thèm một cách sôi nổi, thèm một cách cuồng nhiệt món ăn ngon tuyệt vời và trứ danh này của bà con người Việt chúng ta!

            Tại sao Lẩm Cẩm yêu phở một cách nồng nàn y chang chàng thanh niên mới lớn nọ nồng nàn yêu một thanh nữ kia? Lý do thật đơn giản, dễ hiểu: đã mang dòng máu Việt, không nhiều thì ít, mấy ai không thích phở?

Thật tình mà nói, từ hồi nào tới giờ, Lẩm Cẩm chưa bao giờ nghe ai nói ghét phở. Mức độ yêu phở có thể nồng nàn khác nhau tùy từng người, nhưng nếu chúng ta có cơ hội đi một đường lả lướt làm một màn hỏi ý dân, tiếng Anh tiếng u kêu là “survey”, thì Lẩm Cẩm tin chắc kết qủa của cuộc điều nghiên sẽ chỉ rõ tuyệt đại đa số bà con người Việt ta nồng nàn yêu phở!

Vì hiện nay món phở tuyệt cú mèo chẳng còn chỉ là món ăn được bà con người Việt chúng ta độc quyền ưa thích nữa, bằng chứng là hiện nay dân Mỹ, dân Úc, dân Âu Châu, dân Ca-na-điên, dân Nhật... thích ăn phở quá cỡ thợ mộc, cho nên nếu ta mở rộng màn hỏi ý dân về phở cho cả qúy bà con không mang dòng máu Việt tham dự, Lẩm Cẩm cũng tin chắc là kết quả của cái “survey” vẫn không thay đổi. Ở cái xưởng cày ngày ngày Lẩm Cẩm vào vặn bù-loong kiếm cơm, Lẩm Cẩm thấy rõ tất cả các đấng đồng nghiệp của mình đều mê phở tít thò lò sau khi được Lẩm Cẩm dẫn tới tiệm phở ăn thử một lần! Vì quá thích phở, bây giờ các trự này tự động rủ nhau đi húp phở đều đều! Ta có thể nói một cách rất vững bụng rằng dù là Việt, Tây hay Tàu; dù là vàng, trắng, đen hay cà phê sữa, ai ai cũng khoái đớp phở! Thú thật với qúy vị, khi nhìn mấy ông tây, bà đầm da trắng, mũi lõ vào tiệm ăn Việt Nam gọi phở lia chia, rồi sau đó tận tình thưởng thức phở, Lẩm Cẩm thấy nở lỗ mũi, thấy hãnh diện quá!

Vì tự phở là món ăn ngon đã điếu, cho nên Lẩm Cẩm thấy việc ca tụng phở nhiều khi trở nên không cần thiết. Đúng như ông bà ta đã nói cái gì “hữu xạ” thì nó “tự nhiên hương”. Thế nhưng, vì phở tuyệt vời quá, cho nên những bài thơ, bài viết ca tụng phở vẫn xuất hiện khi này khi khác, chỗ này chỗ nọ.

Trong quá khứ và ngay cả hiện tại, nhiều người đã viết về phở, luận về phở. Một trong những bài tùy bút nổi tiếng nhất của Nguyễn Tuân là bài viết về phở. Gần đây, Lẩm Cẩm được đọc những bài viết về phở rất công phu của Người Tân Định, của Đoàn Tiểu Long, của Song Thao... Rất có thể còn có những bài viết khác mà Lẩm Cẩm chưa được đọc. Vì là người yêu trung thành 24/24 của phở (thú thật với qúy vị Lẩm Cẩm có thể dễ dàng bắt chước cụ Doanh Điền Sứ Nguyễn Công Trứ nhà ta mà nói rằng “...ngày ba bữa vỗ bụng phở...”), cho nên Lẩm Cẩm rất thích những bài viết kể trên. Mỗi người viết một cách, mỗi bài có những cái lý thú riêng, đọc thật là sướng!

Cũng vì mê phở như mê người yêu, Lẩm Cẩm đã tìm đọc một số bài thơ nói về phở. Dưới đây, Lẩm Cẩm xin trích hầu qúy vị mấy bài thơ về phở. Nếu tính số năm, thì các bài thơ này đã lần lượt xuất hiện trong thời gian 70 năm qua, từ 1937 tới 2006.

Bài thơ về phở đầu tiên Lẩm Cẩm xin trích ở đây là bài thơ của cụ Tú Mỡ. Tú Mỡ viết bài thơ này năm 1937 và cụ đặt cho nó cái tựa đề là “Phở Đức Tụng”:

 

Trong các món ăn quân tử vị

Phở là quà đáng qúy ở trên đời

Một vài xu nào đắt đỏ mấy mươi (*)

Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm, béo, bổ

Này bánh cuốn, này thịt bò

Này nước dùng sao nhánh mỡ

Ngọn rau thơm hành củ thái trên

Nước mắm, hồ tiêu, cùng dấm ớt điểm thêm

Khói nghi ngút đưa lên thơm điếc mũi

Như xúc động tới ruột, gan, tim, phổi

Như dục khơi cái đói của con tì

Dẫu sơn hào hải vị khôn bì

Xơi một bát thường khi chưa thích miệng

Kẻ phú qúy cho chí người bần tiện

Hỏi ai là đã nếm chẳng ưa?

Thầy thông, thầy phán đi sớm về trưa

Điểm tâm phở, ngon ơ và chắc dạ

Cánh thuyền thợ làm ăn vất vả

Phở xơi no cũng đỡ nhọc nhằn

Khách làm thơ, đêm thức viết văn

Được bát phở cũng đỡ băn khoăn óc bí

Bọn đào kép, con nhà ca kỹ

Lấy phở làm đầu vị giải lao

Chúng chị em sớm mận, tối đào

Nhờ có phở cũng đỡ hao nhan sắc

Phở là đại bổ, tốt bằng mười thuốc bắc

Quế, phụ, sâm, nhung chưa chắc đã hơn gì

Phở bổ âm, bổ dương, bổ phế, thận, can, tì...

Bổ cả ngũ tạng, tứ chi, bát mạch

Anh em lao động, đồng tiền không rúc rích

Coi phở là môn thuốc ích vô song

Các bậc vương tôn thường chả phượng, nem công

Chưa nếm phở vẫn còn không đủ món

Đùng khinh phở là món ăn hèn mọn

Đấu xảo thành Ba-lê còn phải đón phở sang

Cùng các món ăn ngoại quốc phô trương

Ngon lại rẻ, phở thường tranh quán giải

Sống trên đời, phở không ăn cũng dại

Lúc buông tay, ắt phải đưa kem

Ai ơi! nếm phở kẻo thèm.

 

(*) Lúc tác giả viết bài thơ về phở này vào năm 1937, tiền rất có giá trị. Tác giả đi trọ học chỉ tốn 60 xu một tháng.

 

Bài thơ thứ hai về phở mà Lẩm Cẩm trích ở đây xuất hiện tại Sài-Gòn năm 1975, nghiã là nó ra đời 38 năm sau bài “Phở Đức Tụng” của cụ Tú Mỡ. Tác giả bài thơ này là Bếp Sài-Gòn và ông đặt cho bài thơ cái tựa đề là “Quảng Cáo Phở”:

 

Kính cáo cùng nội ngoại chư quân tử:

Có dịp, mời nếm thử “Phở” Bếp tôi

Tay thớt dao, kinh nghiệm đã lâu đời

Xơi một bát là nhớ hoài, nhớ mãi

Phở Bếp tôi chỉ lấy công làm lãi

Rẻ lại ngon, tiếp đãi thật ân cần

Từ vua quan cho đến phó thường dân

“Mắm xốt” hết, Bếp chẳng phân giai cấp

Muốn phở ngon, phải chọn bò béo mập

Bánh chọn sao? sợi bánh thật dẻo, mềm

Mời lại đây! Xơi cho biết một phen

Để thưởng thức: tái, gầu, gân, vè, nạm

Người thanh cảnh: nước lèo trong, chẳng chán

Kẻ phàm phu: mỡ béo nhánh vành môi

Phở Bếp tôi: đầy đủ các rau tươi

Hạt tiêu, ớt, hành, mùi, không hề thiếu (*)

Mùi nước lèo đưa lên thơm điếc mũi (*)

Như dục khơi cái đói của con tì

“Ga-răng-ti” phở ngon ít ai bì

Ăn một bát còn có khi chưa thích khẩu

Phở, đại bổ, chẳng thua gì tam tinh hải cẩu

Dùng phở đều “khứa lão” vẫn phương cương

Các “nhóc nhi”, đang lứa tuổi còn non,

Bếp khuyên: tái “sách” dòn sơi kỹ

Ăn thật nhiều sẽ mở mang ý chí

Sẽ nên danh, rồi thỏa chí bình sinh

Tái “sách” đều làm rạng trí thông minh

Mai sau sẽ hiển vinh và danh giá

Còn qúy bà chẳng may lâm cảnh góa

Bếp khuyên dùng: phở tái, giá, hành chần

Nếu chưa ăn, hãy nếm thử một lần

Chắc chắn sẽ muôn vạn phần nhớ phở

Các thanh niên, tuổi xuân vừa cưới vợ

Bếp khuyên nên ăn phở tái, gầu, gân

Nhớ kêu thêm chút nước béo nếu cần

Sẽ bất chấp dài chân hay ngắn cổ

Còn qúy cô, đang độ hoa vừa nở

Ăn phở đều, hơ hớ tuổi thanh xuân

Trai đương tơ hàng lũ muốn làm thân

Tha hồ kén khách đồng sàng đồng tịch

Phở ăn mãi, càng ăn càng thấy thích

Bổ lại ngon, lợi ích thật vô song

Phở ơi! ngày nhớ đêm mong

Phở khắp thế giới là lòng bếp vui.

 

(*) Hai câu thơ này nhái hai câu thơ của Tú Mỡ trong bài “Phở Đức Tụng”

 

Bài thơ thứ ba Lẩm Cẩm xin giới thiệu tới qúy vị ở đây là do một bạn hiền của

Lẩm Cẩm cư ngụ tại Ottawa, thủ đô miền đất lạnh tình nồng Canada, sáng tác. Đây là một bài thơ vui mang tựa đề “Phở Bò” mà bạn hiền Nguyễn Bá Vinh viết năm 2006:

 

Nơi đây có bán phở bò

Hành xắt dùng loại củ to mới tình

Sợi bánh mềm, thật tinh khiết trắng

Gân dẻo tươi, thượng thặng thịt đùi

Nước lèo, hơi bốc thơm mùi

Nạm, gầu, tái, sách, đầy cười miệng tô

“Ngầu-pín” hầm, dài, to, tươi, tốt

“Lạp-chíu-chương” tương ngọt thơm tho

Xanh xanh trên trốc, nhiều ngò

Đũa ngà xinh xắn khéo so bằng đầu

Hỏi cao lương ở đâu bằng phở

Ăn phở bò, ít mỡ, mịn da

Qúy ông, các mợ, các bà

Phở ăn đều đặn trẻ ra mười phần

Già ăn phở hồi xuân đẹp đẽ

Gái ăn nhiều như thể nàng tiên

Trai ăn thêm bảnh, thắm duyên

Ế ẩm? ăn phở đắt liền, cam đoan

Phở khoái khẩu trăm ngàn người biết

Nổi tiếng xưa, nước Việt thành đô

Người người khen tặng, hoan hô

Năm châu ưa chuộng phở bò Việt Nam.

 

Ngoài bài “Phở Bò” nói về phở nước, bạn hiền Bá Vinh còn gửi cho Lẩm Cẩm

một bài thơ nữa viết về phở xào. Món phở này cũng ngon, cũng độc đáo ra gì và hiện không thấy xuất hiện nhiều trong thực đơn của các tiệm phở ở hải ngoại. Bài thơ mang tựa “Phở Xào”:

 

Đây! phở xào, trường sinh, đại bổ

Món sơn hào bán ở nơi mô?

Sao bằng món phở xào khô

Thịt bò thơm ướp thơm tho bốc mùi.

Hành mươi cọng ngon, vui con mắt

Cá-rốt hồng tươi nhất củ to

Tràn trề dầu mỡ tưới vô

Cọng ngò lún phún điểm tô xanh rì.

Mời qúy khách một khi đã biết

Món phở xào đãi tiệc lúc vui

Già ăn trẻ lại vài mươi

Cô đơn, thưởng thức, yêu đời, lên hương.

Tinh hải cẩu khó dường sánh kịp

Trăm phần trăm tinh khiết xào khô

Thân hình cứng cựa, nở to

Sâm, nhung chưa dễ thấm vô trong người.

Ăn một điã cho đời tươi trẻ

Hiếm hoi? dùng, sanh đẻ nhiều con

Trắng phau, điã lớn nõn nòn

Thần tiên vị thuốc, món ngon: PHỞ XÀO.

 

Cả hai bài thơ về phở nước và phở xào của bạn hiền Bá Vinh đã xuất hiện trong

đặc san Tuổi Thọ của Hội Người Việt Cao Niên Ottawa-Hull, phát hành nhân dịp Tết Đinh Hợi vừa qua.

            Như Lẩm Cẩm đã thưa, hiện nay ít thấy tiệm phở nào ở hải ngoại có bán món phở xào. Cách đây khá lâu, tại thủ phủ Toronto, nơi Lẩm Cẩm ăn dầm nằm dề hơn hai mươi mấy niên qua, có tiệm phở “Bằng” bán món phở xào. Khi đó, lúc nào thèm món này, Lẩm Cẩm lập tức ghé phở Bằng. Tiếc là sau một vài năm hành nghề tại Toronto, chủ nhân phở Bằng đã quyết định đóng cửa chi nhánh Toronto để chỉ tiếp tục bán phở tại thành phố Montreal như trước (phở Bằng ra đời tại Montreal). Lẩm Cẩm không biết hiện có tiệm phở nào bên xứ Cờ Hoa, bên Úc, bên Âu châu bán món phở xào hay không? Có vẻ như phở xào đã thất truyền!

            Việc phở xào thất truyền không chỉ xảy ra tại hải ngoại mà còn xảy ra ngay ở trong nước. Trong bài viết rất hay về phở của ông cách đây đã lâu, Người Tân Định cho biết:

           

“... Từ Nam chí Bắc hiện nay, hình như các món phở xào và phở áp chảo đã thất truyền. Hồi sau năm 1954, Sài Gòn cũng có xuất hiện mấy món này, sau đó thì một thời gian tiệm phở 79 ở đường Võ Tánh, gần Ngã Sáu Sài Gòn cũng có mấy món này, nhưng không phải là tay chuyên môn làm, nên ít khách kêu, rồi dẹp luôn, vì hồi đó người muốn ăn phở xào, phở áp chảo, chỉ là thành phần Bắc Kỳ di cư, tức Bê 54 như gia đình tôi chẳng hạn. Ông bô tôi cũng thích ăn mấy món này, ngoài tiệm không có thì bà bô tôi làm ở nhà cho ổng ăn đỡ vậy...”

 

Có lẽ đã lâu lắm nhiều người trong bà con ta ở hải ngoại không có dịp ăn phở xào hay phở áp chảo. Để giúp qúy vị nhớ lại hay biết qua về hai món này, xin mời qúy vị nghe Người Tân Định kể lại cách làm phở xào và phở áp chảo của cụ bà thân sinh ra ổng:

 

“... Phở áp chảo hay phở xào thì cũng gồm hai thành phần chính là bánh phở và ‘người lái’. Quan sát bà bô tôi làm thì bánh phở tươi mua về từng lá, phải xắt to bản, loại bánh rờ vô thấy dẻo và ráo tay, không dính tay, không thoa dầu (mùi dầu khiến phở bị hôi dầu). Phở xào thì có xào mềm và xào dòn. Phở áp chảo thì có áp chảo khô, áp chảo nước. Nếu làm phở xào mềm thì sau khi xắt, bánh phở được gỡ tơi ra, rắc một tí muối, trộn đều, bỏ bánh vào chảo dầu thật nóng, tải mỏng ra, đảo nhanh tay cho bánh khỏi cháy. Khi sợi bánh săn lại thì rắc hành hoa (phần trắng của cọng hành lá) xắt nhỏ, đổ ra điã, rồi mới xào ‘người lái’ đổ lên. Bánh phở xào dòn thì phải rắc đều bột năng vào bánh phở, rũ cho tơi, không sợi nào dính sợi nào, rồi cho vào chảo dầu nóng, lật qua lật lại cho vỏ dòn thì lấy ra điã ngay, rồi đổ ‘người lái’ lên. Phở áp chảo khô hay áp chảo nước thì cũng theo cách tương tự, chỉ khác là thời gian áp bánh phở vô chảo lâu hay mau thôi, áp chảo nước thì áp mau, áp chảo khô thì áp lâu. Áp chảo khô thì ăn khô, còn áp chảo nước thì vẫn phải chan nước dùng như phở nước vậy. ‘Người lái’ là thịt bò phi-lê xắt mỏng, to bản, xào với cần tây, cà-rốt, cà chua, gừng...

 

Cũng trong bài viết cách đây gần hai chục năm, khi nói đến việc tái xuất giang hồ của phở xào và phở áp chảo tại Sài Gòn, Người Tân Định kể:

 

“... Gần đây, với thời ‘bung ra’ và ‘phục hưng’ của phở, thì phở xào và áp chảo đã thấy xuất hiện ở vài tiệm như phở Bắc Hải ở đường Nguyễn Du Q. 1, phở Bình ở đường Lý Chính Thắng (Yên Đỗ cũ) Q. 3, phở Dũng ở đường Trường Sơn (đường mới mở ở khu Tân Sơn Nhất, Tân Bình). Mấy anh già Bê 54 bao năm không được ăn phở xào, phở áp chảo, rủ nhau đi ăn ở tiệm được nghe đồn ngon nhất, là phở Bắc Hải Nguyễn Du (phải gọi như vậy để phân biệt với hàng loạt phở Bắc Hải mọc lên ở một số đường phố khác). Đặc điểm của tiệm này là đầu bếp và phục vụ (chạy bàn) đều là đàn ông, và bán với giá hữu nghị, 20 ngàn một điã ăn no. Tôi cũng đã ăn thử, nhưng tôi vẫn không tìm lại được hương vị phở xào và phở áp chảo ngày xưa ở Hà Nội nữa, một phần do phở ngày nay biến tấu búa xua, phần vì chính cái gu của mình có thể đã thay đổi từ hồi nào mà chính mình cũng khó nhận ra...”.

 

Đọc xong phần tả rõ cách làm cả phở xào mềm lẫn phở xào dòn, cả phở áp chảo khô lẫn phở áp chảo nước, không biết qúy vị thấy sao, chứ riêng Lẩm Cẩm thì thấy cơn thèm phở xào và áp chảo dâng cao như sóng thần! Tưởng tượng trong miệng mình đang nằm chễm chệ miếng bánh phở xào dòn, cùng với một hay hai lát thịt bò mềm thái mỏng xào thật tới với cần tây, cà-rốt, cà chua đượm tí vị gừng; rồi tưởng tượng đang khoan thai nhai và trộn đều tất cả những thứ đó trong miệng, rồi tưởng tượng tất cả quyện vào nhau thành một hỗn hợp tinh bột với thịt tươi, với đôi ba loại rau để tiết ra vị thơm ngon, quyến rũ trong miệng, Lẩm Cẩm thèm rỏ dãi! Cái óc tưởng tượng nó đang hành hạ Lẩm Cẩm, qúy vị ơi!

Trong cả mấy bài thơ nói về phở Lẩm Cẩm đã trình qúy vị trong lần thưa chuyện kỳ này, bài nào cũng ca tụng phở không hết lời. Mà khen phở như thế là đúng, là chẳng nói quá một ly ông cụ nào. Tuy nhiên, chỉ có cụ Tú Mỡ nhà ta là đã coi phở như một cái đạo giống như trà đạo của con cháu Thiên Hoàng nơi xứ Mặt Trời Mọc.

Chẳng cần đọc hết cả bài thơ, chỉ cần liếc qua tựa đề “Phở Đức Tụng” Tú Mỡ đặt cho bài thơ, bà con ta thấy ngay cụ đã nâng phở lên một vị trí “thiêng liêng”. Nếu để ý, người ta thấy là trong các đạo đều có những bài kinh ngắn, được soạn ra cho những tín đồ thuần thành tụng hàng ngày. Những bài kinh này được gọi là kinh nhật tụng. Bây giờ, Tú Mỡ xem bài thơ phở của mình là một bài tụng để cho “tín đồ” của phở tán dương cái ngon, cái bổ, cái ích lợi của việc ăn phở, thì chẳng phải cụ đã nâng cấp món ăn tuyệt vời của dân ta lên hàng một đạo hay sao? Chính vì lý do này, ngày nay ta chẳng cần thắc mắc, không biết phở có được coi như một cái đạo như trà ở bên Nhật không? Cách đây 70 năm, cụ Tú Mỡ đã làm giùm chúng ta việc này rồi.

Vì cái bổ, cái lợi ích của việc ăn phở, nên cả ba người thơ Tú Mỡ, Bếp Sài Gòn và Nguyễn Bá Vinh đều chỉ rõ là bất cứ ai ăn phở cũng đều tốt cả:

 

-         Cụ Tú Mỡ thì kể: “Thầy thông, thầy phán đi sớm về trưa”, “Cánh thợ thuyền làm ăn vất vả”, “Khách làm thơ đêm thức viết văn”, “Bọn đào kép, con nhà ca kỹ “, “Các bậc vương tôn thường chả phượng, nem công”;

-         Bếp Sài Gòn thì liệt kê danh sách: “Dùng phở đều ‘khứa lão’ vẫn phương cương”, “Các ‘nhóc nhi’ đang lứa tuổi còn non”, “Còn qúy bà chẳng may lâm cảnh góa”, “Các thanh niên, tuổi xuân, vừa cưới vợ”, “Còn qúy cô, đang độ hoa vừa nở”; và

-         Bá Vinh thì nhắc khéo: “Già ăn phở hồi xuân đẹp đẽ”, “Gái ăn nhiều như thể nàng tiên”, “Trai ăn thêm bảnh, thắm duyên”.

 

Nhưng, nếu phải chọn vị nào là người chu đáo nhất trong ba người thơ kể trên,

Lẩm Cẩm sẽ chọn cụ Tú Mỡ nhà ta. Lý do là vì cụ không bỏ sót một ai. Xin đọc lại hai câu trong bài “Phở Đức Tụng”:

 

“Chúng chị em sớm mận, tối đào

Nhờ có phở cũng đỡ hao nhan sắc”

 

            Qua hai câu này, rõ ràng cụ Tú Mỡ không quên để ý, lo lắng cả cho các chị em ta, những người phải hành nghề bằng cái vốn Trời cho, và nhắc nhở chị em ăn phở để bồi dưỡng thân xác!

            Trong bốn bài thơ Lẩm Cẩm trích dẫn, chỉ có bài “Quảng Cáo Phở” của Bếp Sài Gòn là nói rõ tác giả viết bài thơ này nhằm mục đích quảng cáo cho món phở ngon đã điếu của ông. Nhưng thật ra, cả ba bài thơ còn lại cũng gián tiếp quảng cáo cho phở. Lý do: khen phở ngon tuyệt vời và bổ vô song không là phải quảng cáo cho món ăn độc đáo này thì là cái gì?

            Trong bài thơ “Quảng Cáo Phở”, Lẩm Cẩm thích nhất đoạn ông khuyên học sinh thì nên ăn phở “tái sách” bởi vì:

 

“Ăn thật nhiều sẽ mở mang ý chí

Sẽ nên danh, rồi thoả chí bình sinh”

 

            rồi tới đoạn khuyên qúy bà chẳng may lâm cảnh góa nên ăn phở “tái, giá” bởi vì:

 

“Nếu chưa ăn, hãy nếm thử một lần

Chắc chắn sẽ muôn vạn phần nhớ phở”

 

            rồi tới đoạn khuyên các cậu vừa cưới vợ nên ăn phở “tái, gầu, gân” bởi vì phở rất  bổ, giúp các cậu:

 

“Sẽ bất chấp dài chân hay ngắn cổ”

 

            Cả người thơ Tú Mỡ lẫn Bếp Sài Gòn và Nguyễn Bá Vinh đã “nhất trí cao” về tác dụng bồi bổ sức lực tuyệt diệu của phở. Chả thế mà Bếp Sài Gòn thì viết:

 

“Phở, đại bổ, chẳng thua gì tam tinh hải cẩu”

 

            còn cụ Tú Mỡ thì hạ bút:

 

“Phở là đại bổ, tốt bằng mười thuốc bắc

Quế, phụ, sâm, nhung, chưa chắc đã hơn gì

Phở bổ âm, bổ dương, bổ phế, thận, can, tì...

Bổ cả ngũ tạng, tứ chi, bát mạch.”

 

            và Bá Vinh thì ca tụng:

 

“Đây, phở xào, trường sinh, đại bổ”

 

            Phở bồi bổ cho thân xác, giúp qúy cậu, qúy ông có sức lực sung mãn, từ đó việc “dựng cờ khởi nghiã” không gặp khó khăn. Vậy thì phải chăng, từ mấy chục năm trước, phở đã là “Viagra” của các đấng nam nhi nước Việt?

            Nếu khi sáng tác bài thơ “Quảng Cáo Phở” vào năm 1975, nghiã là lúc chưa có nhiều người Việt ở nước ngoài như hiện nay, khi chưa có nhiều tiệm phở tại nhiều nơi trên thế giới như bây giờ, mà Bếp Sài Gòn bộc lộ ước mơ:

 

“Phở ơi! ngày nhớ đêm mong!

Phở khắp thế giới là lòng Bếp vui”

 

            thì khi viết bài thơ “Phở Bò” năm 2006, khi mà số người Việt tại hải ngoại đã lên tới con số 3 triệu, và khi các tiệm phở đã xuất hiện tại nhiều nơi trên toàn cầu, thì bạn hiền Bá Vinh đã khẳng định cho Bếp Sài Gòn biết là mong ước của Bếp đã thành hiện thực:

 

“Người người khen tặng, hoan hô

Năm châu ưa chuộng phở bò Việt Nam”

 

Trở về Trang Chính