|
Từ lâu lắm rồi, ông bà ta từng nói
lời đại khái là dù túng đói quanh năm, nhưng đến ba ngày Tết thì
người người đều cố làm sao cho được no. Tết nhất mà!
Đồng áng vất vả tháng ngày, hay lao động hùng hục cả
niên để kiếm cơm cho mình và cho cả bầu đoàn thê tử, Tết đến là
dịp cho mọi người tạm “quẳng gánh lo đi”, tạm ngưng “tranh thủ”
kiếm gạo để mừng chào năm mới, những mong năm mới đến sẽ mang
đến cho bà con ta vận hội mới và vận hội mới sẽ giúp đời ta bớt
nhọc, thêm vui. Bao giờ thì hy vọng của chúng ta cũng như vậy
trong giờ phút “tống cựu nghinh tân”, đá đít năm cũ đi, mở rộng
vòng tay ôm choàng lấy năm mới.
Rồi ông bà ta lại nói:
Tháng Giêng là tháng ăn chơi
Tháng Hai cờ bạc
Tháng Ba hội hè...
Điều này chứng tỏ vào dịp Tết nhất và cả tháng sau
ba ngày Tết, ông bà ta nhất định ăn chơi thả dàn. Mà chẳng phải
các cụ chỉ ăn chơi cả tháng, các cụ còn ăn chơi một cách điệu
nghệ. Trong một bài hát nói do cụ phóng bút, ngài Doanh Điền Sứ
Nguyễn Công Trứ nhấn mạnh:
... Chơi cho lịch mới là chơi
Chơi cho đài các cho người biết tay
Tài tình dễ mấy xưa nay...
Nói tới chuyện “chơi cho lịch mới là chơi”, nhiều
người nhớ tới vị vua thứ hai của nhà Nguyễn là vua Minh Mạng.
Người ta không nói về chuyện “ăn” của nhà vua vì vua thì lúc
nào ăn mà chả ngon, cần chi phải nói, mà đề cập tới chuyện
“chơi” của ngài với nhiều chi tiết lý thú.
Vua Minh Mạng là con thứ
tư của vua Gia Long, huý là Nguyễn Phúc Kiểu,
sinh ngày 23 tháng
4 năm Tân Hợi, nhằm ngày
25 tháng
5 năm
1791, được lập
làm Thái Tử năm 1815, lên ngôi năm
1820. Vua Minh Mạng trị vì 21 năm,
băng hà năm1841,
hưởng thọ 50 tuổi.
Theo sử sách,
vua Minh Mạng là vị vua có đông con nhất
trong các vị vua của
nước ta:
78 người
con trai và 64 người
con gái! Với
số con chính thức nhiều như thế này,
có thể vua Minh Mạng là vị vua
có đông con nhất trong lịch
sử nhân loại! Sở
dĩ phải nói rõ con số 142 này là số con chính thức của ngài vì
đây là con số được ghi lại trên giấy tờ đàng hoàng, còn nếu nhà
vua có thêm những người con nào khác mà vì lý do nào đó không ai
biết được, thì những người con đó được xếp vào loại “nhằm nhò gì
ba cái lẻ tẻ!”
Để có thể có được nhiều con như vậy thì ngoài việc
“vui thú” với hoàng hậu, chắc chắn vua Minh Mạng còn “mây mưa”
với không biết bao nhiêu phi, tần, mỹ nữ nữa. Theo nhà giáo
Nguyễn Phước Đáng thì 43 bà đã có con với ngài và các bà được
phân hạng cao thấp khác nhau rất rõ ràng: thứ nhất là Hậu, thứ
nhì là Phi, thứ ba là Tần, thứ tư là Dư và thứ năm là Nhân. Từ
hàng Phi trở xuống còn chia thêm thứ bậc và dưới hàng Nhân người
ta thấy có 3 bà không được định thứ bậc gì cả. Danh tính của
tất cả qúy bà đó được ghi trong gia phả hoàng tộc như sau:
1. Hồ
Thị Hoa: Thái Thiên Nhân Hoàng Hậu, huý là Thật, tên thuỵ là
Thuận Đức, sanh ngày 30 tháng 11 năm 1791, mất ngày 28 tháng 6
năm1807 lúc 16 tuổi. Bà được tiến cung năm 15 tuổi. Hoàng hậu
sanh được một hoàng tử, sau nầy nối nghiệp vua cha. Bà cùng một
tuổi với vua, nhưng mất quá sớm, chỉ chăn gối với vua được 1
năm. Theo gia phả, lúc bà Hồ Thị Hoa còn sống thì nhà vua chưa
được lập làm Thái Tử. Đến khi nhà vua lên ngôi, thì bà đã qua
đời được 13 năm. Vì thương quý bà và quyết ý sau này sẽ nhường
ngôi cho con của bà, nên sau khi lên ngôi, vua Minh Mạng truy
phong cho bà làm hoàng hậu . Cho đến khi băng hà, nhà vua không
phong cho bất cứ bà nào khác làm hoàng hậu.
2. Ngô
Thị Chính: Hiền phi, nhỏ hơn vua một tuổi, mất sau nhà vua hai
năm. Bà sinh được 5 hoàng tử và 4 công chúa.
3. Phạm
Thị Tuyết: Gia phi, không rõ năm sanh, mất năm 1812 (tức là mất
trước khi nhà vua lên ngôi). Bà sinh được 1 hoàng tử.
4. Trần
Thị Tuyến: Trang tần, cùng một tuổi với vua, mất năm 1852, thọ
61 tuổi.
Bà sinh
được 2 hoàng tử.
5. Trần
Thị Bảo: Thục tần, nhỏ hơn vua 10 tuổi, mất sau vua 10 năm,
hưởng dương 50 tuổi. Bà sinh được 4 hoàng tử và 3 công chúa.
6. Trần
Thị Huân: Huệ tần, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 6
hoàng tử và 9 công chúa.
7. Hồ
Thị Tùy: An tần, nhỏ hơn vua 4 tuổi, mất trước vua 2 năm, thọ 49
tuổi. Bà sinh được 3 hoàng tử và 1 công chúa.
8.
Nguyễn Thị Khuê: Hoà tần, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh
được 4 hoàng tử và 6 hoàng nữ.
9.
Nguyễn Thị Thúy Trúc: Lệ tần, không rõ năm sanh và năm mất. Bà
sinh được 6 hoàng tử và 2 công chúa.
10. Lê
Thị Ái: Tiệp dư, nhỏ hơn vua 8 tuổi, mất sau vua 21 năm, hưởng
thọ 64 tuổi. Bà sinh được 3 hoàng tử và 2 công chúa. Đặc biệt,
việc thăng cấp bậc của bà được thế phả ghi lại một cách chi tiết
như sau: 1813: Cung nhân, 1820: Tài nhân, 1821: Mỹ nhân, 1836:
Tiệp dư. Điều này cho thấy là vua Minh Mạng có thể rất sủng ái
bà. Bà cũng là người biết cư xử và đã để lại gương tốt nên sau
này vua Tự Đức có lời khen: "Lê Tiệp Dư tiên triều tư chất trung
hậu, mọi việc trong cung cư xử hợp lễ".
11.
Nguyễn Thị
Viên: Tiệp
dư, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 2 hoàng tử và 3
công chúa.
12. Lương
Thị Nguyện:
Quý nhân, nhỏ hơn vua 9 tuổi, mất sau vua 30 năm, hưởng thọ 71
tuổi. Bà sinh được 1 hoàng tử và 2 hoàng nữ. Bà
là vị có chữ thọ cao nhất trong tất
cả các bà.
13. Cái
Thị Trinh: Quý nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được
1 hoàng tử và 2 công chúa.
14.
Nguyễn Thị
Trường: Quý
nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 3 hoàng tử và 1
công chúa.
15. Đỗ
Thị Tùng:
Quý nhân, không rõ năm sinh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử.
Điều đáng để ý
về bà Đỗ Thị Tùng
là hai người em gái
của bà là Đỗ Thị Tâm và Đỗ Thị Cương
cũng được tiến cung. Người ta đưa ra
giả thuyết là hoặc cả ba chị em bà đều
là tuyệt sắc giai nhân, hoặc bà Tùng
có tài thuyết phục
nhà vua thật
giỏi.
16. Đỗ
Thị Tâm: Quý
nhân, em của bà Đỗ Thị Tùng,
nhỏ hơn vua 3 tuổi, mất sau vua 22 năm, thọ
59 tuổi. Bà
sanh được 5 hoàng tử và 3 công chúa.
17. Lê
Thị Lộc; Qúy
nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 3 hoàng tử và 2
công chúa.
18.
Nguyễn Thị
Hạnh: Quý
nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 2 hoàng tử và 1
công chúa.
19.
Nguyễn Thị
Bân: Mỹ
nhân, không rõ năm sinh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử và 1
công chúa.
20. Đoàn
Thị Thụy: Mỹ
nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 công
chúa.
21.
Đinh Thị Nghiã:
Tài nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà
sinh được 1 hoàng tử và 1 công chúa.
22. Trần
Thị Tiền:
Tài nhân, không
rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 2 hoàng tử.
23.-
Nguyễn Thị
Tính: Tài
nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử.
24.- Đỗ
Thị Cương:
Tài nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử
và 2 công chúa.
Ở đây không
biết có sự lầm lộn nào không mà bà Đỗ Thị Cương và bà Nguyễn Thị
Bân cùng có chung tên thuỵ là Thục Thận. Bà
Đỗ Thị Cương là em của bà Đỗ Thị Tùng như đã
nói ở trên.
25. Trần
Thị Thanh: Tài nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được
1 hoàng tử.
26. Trần
Thị Trúc:
Tài nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 2 công
chúa.
27. Trần
Thị Tiêm:
Tài nhân chưa xếp vào giai thứ, không
rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được công
chúa.
28. Bùi
Thị Sơn: Tài
nhân chưa xếp vào giai thứ, không rõ năm sanh và năm mất. Bà
sinh được 1 hoàng tử và 2 công chúa.
29. Lý
Thị Cầm:
Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 công
chúa.
30. Cao
Thị Diệu:
Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng
tử.
31. Đặng
Thị Yểu Điệu:
Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 công
chúa.
32. Lê
Thị Đính:
Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 công
chúa.
33. Trần
Thị Mỹ: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1
công chúa.
34. Trần
Thị Nhã: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1
công chúa.
35. Trần
Thị Nhạn:
Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 công
chúa.
36. Hồ
Thị Thể: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1
hoàng tử.
37. Lê
Thị Thông:
Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 công
chúa.
38.
Nguyễn Thị
Xuân: Cung
nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử và 1
công chúa.
39.
Phan Thị Viên:
Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà
sinh được 1 hoàng tử.
40. Trần
Thị Nghiêm:
Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 2 hoàng tử
và 3 công chúa.
41.
Nguyễn Thị
Vĩnh: Cung
nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử.
42.
Nguyễn Thị
Dược: Cung
nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử.
43. Lê
Thị Tường:
trường hợp này hơi đặc
biệt ở chỗ
bà được phong Cung nhân, nhưng vào
năm Minh Mạng thứ 16 (1835) thì cha
của bà là Lê Chất bị nghị tội, do đó bà bị phế. Không rõ bà sanh
và mất năm nào.
Bà Lê Thị Tường
sinh được 1 hoàng tử.
Tóm
lại, vua Minh Mạng có:
- 1
Hoàng hậu
- 2 Phi
- 6 Tần
- 2 Dư
- 28
Nhân (7 Quý nhân, 2 Mỹ nhân, 5 Tài
nhân, 2 Tài nhân chưa xếp vào giai thứ và 12 Cung nhân)
và ba bà không được phong cung nhân,
hoặc được phong rồi nhưng sau đó bị phế.
- Tổng
số hoàng tử của vua Minh Mạng là 78 vị, trong đó 8 người mất
sớm.
- Tổng
số công chúa
của vua Minh Mạng
là 64, trong đó 5 người mất
sớm.
- Vua
Minh Mạng bắt đầu thú “mây mưa”
năm
15 tuổi và có con đầu lòng
lúc 16 tuổi.
- Trong
khoảng thời gian
35 năm (từ khi nhà
vua bắt đầu “mây mưa” năm 15 tuổi tới khi nhà vua băng hà lúc 50
tuổi), nhà
vua đã giao hợp với 43 bà và
sinh ra tổng cộng 142 nguời con! Như
thế, tính trung bình, mỗi năm nhà
vua là tác giả của 4 nhi đồng, nghiã
là cứ 3 tháng là ngài
có một “bê-bi”!
Đây là chưa kể (vì không biết rõ) những “bê-bi” khác mà thân phụ
cũng có thể là nhà vua vì trong cung cấm thì có biết bao nhiêu
là mỹ nữ và ai dám cấm nhà vua “vui vẻ” với những người đẹp
khác!
Vua
Minh Mạng qua đời ở tuổi 50, nghiã
là tương đối trẻ. Không biết việc
“mây mưa” dài
dài của ngài trong suốt 35 năm trời có ảnh hưởng gì tới số tuổi
thọ hơi ngắn này
không?
Việc
vua Minh Mạng có rất
đông con thường
nhắc mọi
người nhớ tới toa thuốc
thần với tác dụng
tiếp sức cho nhà
vua vô cùng
hữu hiệu là toa thuốc Minh Mạng. Để
mô tả tác dụng thần sầu qủy khốc của toa thuốc, bên
dưới
cái
tên “Minh Mạng Thang” thường
có ghi hàng chữ “Nhất dạ lục giao sanh
ngũ tử”, nghiã là chỉ cần uống thuốc
rồi trong một
đêm đi “giao” sáu
lần với sáu
bà thì năm bà sẽ có bầu!
Minh Mạng Thang
(Nhất
Dạ Lục Giao Sanh Ngũ Tử)
Toa
Thuốc của Ngự Y Đời Vua Minh Mạng.
1- Sa
sâm 5 chỉ 12- Độc
hoạt 2 chỉ
2- Câu
kỷ tử 2 - 13- Bạch
thược 3 -
3- Bạch
truật 3 - 14- Trần
bì 3 -
4- Đào
nhân 3 - 15- Khương
hoạt 2 -
5-
Dương qui 3 - 16-
Phục Linh 3 -
6- Mộc
qua 2 - 17- Đại
hồi 2 -
7- Thục
địa 5 - 18- Cam
thảo 3 -
8- Tục
đoan 2 - 19- Đại
táo 3 -
9-
Phòng Phong 3 - 20-
Xuyên khung 3 -
10-
Nhục quế 1 - 21- Đổ
trọng 2 -
11- Tân
giao 2 - 22- Thương
truật 2 -
Cách
ngâm:
Nước
thứ nhất:
Ngâm
trọn thang thuốc với 2 lít rưỡi rượu gạo hoặc nếp 35 độ. Sau 6
ngày đêm, đổ rượu ra lọc sạch. Nấu 3 lượng đường phèn trong 1 xị
nước. Khi đường tan, để nguội rồi pha vào rượu. Pha xong để 3
ngày sau mới uống.
Mỗi
ngày uống 3 lần: Sáng, trưa, chiều. Mỗi lần 1 ly con (uống sec)
Nước
thứ nhì:
Ngâm
theo phương cách trên nhưng chỉ với 2 lít rượu và trong thời
gian lâu tới 30 ngày, rồi pha thêm lượng nước đường phèn như
trên.
Chủ
trị: Bổ thận, bổ thần kinh, khí
huyết gia tăng, tăng cường sinh dục, mạnh gân cốt, hỗ trợ trị
bán thân bất toại. Theo sách xưa, thang thuốc này còn có tác
dụng đặc biệt đối với
bệnh nhân hấp hối vì uống vào có thể sống thêm 36 giờ. Trong
trường hợp này cứ 1 ly rượu chưng thêm 5 chỉ nhân sâm.
Có
người cho biết hồi trước, báo “Sống” của ông Chu Tử, trong số ra
ngày 27 tháng Tư 1968 tại Sài Gòn, cũng đăng
toa thuốc Minh Mạng.
Tuy nhiên, nếu đem toa thuốc ấy so với toa thuốc Minh Mạng trên
đây thì toa thuốc xuất hiện trên báo “Sống” còn có thêm 3 vị nữa
là: Cao hổ cốt, 1 chỉ; Cao ly tứ, 3 chỉ và Hồng cúc, 2 chỉ; và
ở cuối toa thấy có ghi một lưu ý cho người dùng là nếu vị đó là
người có máu nóng thì nên bỏ bớt hai vị Nhục quế và Đại hồi, còn
nếu vị đó là người có máu lạnh thì nên thêm vào một vị là Ngưu
tất, 3 chỉ.
Từ hồi
nào tới giờ, người ta chỉ nghe đồn về toa thuốc Minh Mạng thần
sầu qủy khốc, chứ chưa thấy có ai đã từng dùng qua rồi công bố
cho bàn dân thiên hạ biết công hiệu của nó ra sao. Người ta cũng
chẳng biết có phải toa thuốc “lừng danh” này đúng là do Ngự Y
của vua Minh Mạng soạn ra để dâng nhà vua dùng cho “được việc”
hay không, hay đây chỉ là mánh khóe câu khách của mấy ông chủ
tiệm thuốc bắc!
Trở lại
với thành tích có tới 142 người con của vua Minh Mạng, nhà vua
đúng là một vị con Trời biết “chơi cho lịch mới là chơi, chơi
cho đài các, cho người biết tay”! Và quả thật là khó có ai có
thể bì kịp ngài!
Tựa bài ghi là “Ăn Chơi”
thì phải nói tới cả hai chuyện “ăn” và “chơi”. Từ đầu bài, sao
toàn lải nhải về “chơi”, chưa đả động gì tới “ăn”? Vậy, bây giờ
xin chuyển mục.
Hiện nay, ở miền Bắc Mỹ thực phẩm dư thừa này mà bàn
về việc ăn thì chỉ thấy người người lo ăn sao cho không bị mỡ để
khỏi bị béo phì, khỏi bị “cô-lết-tơ-rôn”, khỏi bị nghẽn mạch máu
tim… Rồi thì mọi người lại bảo nhau rằng ăn cá coi chừng bị
“mơ-cu-ri”, ăn thịt heo coi chừng bị heo bệnh, ăn thịt bò coi
chừng bị bò điên… Ôi, sao mới chỉ nghe qua mà cũng đã thấy ớn
lạnh rùng mình, lắc đầu ngao ngán!
Đúng lúc chẳng biết hạ tự viết cái chi chi về chuyện
“ăn”, thì may sao một bạn vàng ghé chơi, kể cho nghe cách nấu
một món ăn tuyệt bổ. Ông bạn mới học được cái “rờ-sét” này và
bảo đảm món ăn không làm hại sức khỏe, không khiến người ăn canh
cánh bên lòng. Công thức nấu món ấy như sau:
-
Lấy 12 tháng trong năm đem rửa sạch mùi
cay đắng, ghen tị, thù oán… rồi để ráo nước.
-
Tuần tự cắt mỗi tháng ra 28, 30 hay 31
phần.
-
Trộn đều với một chút tin yêu, một chút
kiên nhẫn, một chút can đảm, một chút hy vọng.
-
Ướp thêm gia vị: lạc quan, tự tin và hài
hước.
-
Đem ngâm một lúc trong hợp chất lỏng
“Những Điều Tâm Niệm” của mình.
-
Vớt ra, xay nhỏ, cho tất cả vào “Nồi Yêu
Thương” và nấu với lửa “Vui Mừng”.
-
Đem ra ăn với “Nụ Cười” trong chén “Bao
Dung”.
-
Xong, mời uống chén trà “Đạo Đức”, xả bỏ
tâm phiền não, xa lià ý lợi danh, ba nghiệp thường thanh
tịnh, an lạc sớm hiện tiền.
Trước
thềm năm mới, chân thành cầu mong qúy vị thưởng thức được món ăn
lợi lạc này suốt năm Tý.
Trở về Trang Chính
|