Ăn Chơi


 

Lẩm Cẩm

E-Mail: lamcam@khoahoc.net

31 tháng 01 năm 2008

              Từ lâu lắm rồi, ông bà ta từng nói lời đại khái là dù túng đói quanh năm, nhưng đến ba ngày Tết thì người người đều cố làm sao cho được no. Tết nhất mà!

            Đồng áng vất vả tháng ngày, hay lao động hùng hục cả niên để kiếm cơm cho mình và cho cả bầu đoàn thê tử, Tết đến là dịp cho mọi người tạm “quẳng gánh lo đi”, tạm ngưng “tranh thủ” kiếm gạo để mừng chào năm mới, những mong năm mới đến sẽ mang đến cho bà con ta vận hội mới và vận hội mới sẽ giúp đời ta bớt nhọc, thêm vui. Bao giờ thì hy vọng của chúng ta cũng như vậy trong giờ phút “tống cựu nghinh tân”, đá đít năm cũ đi, mở rộng vòng tay ôm choàng lấy năm mới.

            Rồi ông bà ta lại nói:

Tháng Giêng là tháng ăn chơi

Tháng Hai cờ bạc

Tháng Ba hội hè...

 

            Điều này chứng tỏ vào dịp Tết nhất và cả tháng sau ba ngày Tết, ông bà ta nhất định ăn chơi thả dàn. Mà chẳng phải các cụ chỉ ăn chơi cả tháng, các cụ còn ăn chơi một cách điệu nghệ. Trong một bài hát nói do cụ phóng bút, ngài Doanh Điền Sứ Nguyễn Công Trứ nhấn mạnh:

... Chơi cho lịch mới là chơi

Chơi cho đài các cho người biết tay

Tài tình dễ mấy xưa nay...

 

             Nói tới chuyện “chơi cho lịch mới là chơi”, nhiều người nhớ tới vị vua thứ hai của nhà Nguyễn là vua Minh Mạng.  Người ta không nói về chuyện “ăn” của nhà vua  vì vua thì lúc nào ăn mà chả ngon, cần chi phải nói, mà đề cập tới chuyện “chơi” của ngài với nhiều chi tiết lý thú.

            Vua Minh Mạng là con thứ tư của vua Gia Long, huý là Nguyễn Phúc Kiểu, sinh ngày 23 tháng 4 năm Tân Hợi, nhằm ngày 25 tháng 5 năm 1791, được lập làm Thái Tử năm 1815, lên ngôi năm 1820. Vua Minh Mạng trị vì 21 năm, băng hà m1841, hưởng thọ 50 tuổi.

            Theo sử sách, vua Minh Mạng là vị vua có đông con nhất trong các vị vua của nước ta: 78 người con trai và 64 người con gái! Với số con chính thức nhiều như thế này, có thể vua Minh Mạng là vị vua có đông con nhất trong lịch sử nhân loại! Sở dĩ phải nói rõ con số 142 này là số con chính thức của ngài vì đây là con số được ghi lại trên giấy tờ đàng hoàng, còn nếu nhà vua có thêm những người con nào khác mà vì lý do nào đó không ai biết được, thì những người con đó được xếp vào loại “nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ!”

            Để có thể có được nhiều con như vậy thì ngoài việc “vui thú” với hoàng hậu, chắc chắn vua Minh Mạng còn “mây mưa” với không biết bao nhiêu phi, tần, mỹ nữ nữa. Theo nhà giáo Nguyễn Phước Đáng thì 43 bà đã có con với ngài và các bà được phân hạng cao thấp khác nhau rất rõ ràng: thứ nhất là Hậu, thứ nhì là Phi, thứ ba là Tần, thứ tư là Dư và thứ năm là Nhân. Từ hàng Phi trở xuống còn chia thêm thứ bậc và dưới hàng Nhân người ta thấy có 3 bà không được định thứ bậc gì cả.  Danh tính của tất cả qúy bà đó được ghi trong gia phả hoàng tộc như sau:

 

1. Hồ Thị Hoa: Thái Thiên Nhân Hoàng Hậu, huý là Thật, tên thuỵ là Thuận Đức, sanh ngày 30 tháng 11 năm 1791, mất ngày 28 tháng 6 năm1807 lúc 16 tuổi. Bà được tiến cung năm 15 tuổi. Hoàng hậu sanh được một hoàng tử, sau nầy nối nghiệp vua cha. Bà cùng một tuổi với vua, nhưng mất quá sớm, chỉ chăn gối với vua được 1 năm. Theo gia phả, lúc bà Hồ Thị Hoa còn sống thì nhà vua chưa được lập làm Thái Tử. Đến khi nhà vua lên ngôi, thì bà đã qua đời được 13 năm. Vì thương quý bà và quyết ý sau này sẽ nhường ngôi cho con của bà, nên sau khi lên ngôi, vua Minh Mạng truy phong cho bà làm hoàng hậu . Cho đến khi băng hà, nhà vua không phong cho bất cứ bà nào khác làm hoàng hậu.  

2. Ngô Thị Chính: Hiền phi, nhỏ hơn vua một tuổi, mất sau nhà vua hai năm. Bà sinh được 5 hoàng tử và 4 công chúa.

3. Phạm Thị Tuyết: Gia phi, không rõ năm sanh, mất năm 1812 (tức là mất trước khi nhà vua lên ngôi). Bà sinh được 1 hoàng tử.

4. Trần Thị Tuyến: Trang tần, cùng một tuổi với vua, mất năm 1852, thọ 61 tuổi.

Bà sinh được 2 hoàng tử.

5. Trần Thị Bảo: Thục tần, nhỏ hơn vua 10 tuổi, mất sau vua 10 năm, hưởng dương 50 tuổi. Bà sinh được 4 hoàng tử và 3 công chúa.

6. Trần Thị Huân: Huệ tần, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 6 hoàng tử và 9 công chúa. 

7. Hồ Thị Tùy: An tần, nhỏ hơn vua 4 tuổi, mất trước vua 2 năm, thọ 49 tuổi. Bà sinh được 3 hoàng tử và 1 công chúa.

8. Nguyễn Thị Khuê: Hoà tần, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 4 hoàng tử và 6 hoàng nữ.

9. Nguyễn Thị Thúy Trúc: Lệ tần, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 6 hoàng tử và 2 công chúa.

10. Lê Thị Ái: Tiệp dư, nhỏ hơn vua 8 tuổi, mất sau vua 21 năm, hưởng thọ 64 tuổi. Bà sinh được 3 hoàng tử và 2 công chúa. Đặc biệt, việc thăng cấp bậc của bà được thế phả ghi lại một cách chi tiết như sau: 1813: Cung nhân, 1820: Tài nhân, 1821: Mỹ nhân, 1836: Tiệp dư.  Điều này cho thấy là vua Minh Mạng có thể rất sủng ái bà. Bà cũng là người biết cư xử và đã để lại gương tốt nên sau này vua Tự Đức có lời khen: "Lê Tiệp Dư tiên triều tư chất trung hậu, mọi việc trong cung cư xử hợp lễ".

11. Nguyễn Thị Viên: Tiệp dư, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 2 hoàng tử và 3 công chúa.

12. Lương Thị Nguyện: Quý nhân, nhỏ hơn vua 9 tuổi, mất sau vua 30 năm, hưởng thọ 71 tuổi. Bà sinh được 1 hoàng tử và 2 hoàng nữ. Bà là vị có chữ thọ cao nhất trong tất cả các bà.

13. Cái Thị Trinh: Quý nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử và 2 công chúa.

14. Nguyễn Thị Trường: Quý nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 3 hoàng tử và 1 công chúa.

15. Đỗ Thị Tùng: Quý nhân, không rõ năm sinh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử. Điều đáng để ý về bà Đỗ Thị Tùng là hai người em gái của bà là Đỗ Thị Tâm và Đỗ Thị Cương cũng được tiến cung. Người ta đưa ra giả thuyết là hoặc cả ba chị em bà đều là tuyệt sắc giai nhân, hoặc bà Tùng có tài thuyết phục nhà vua thật giỏi.

16. Đỗ Thị Tâm: Quý nhân, em của bà Đỗ Thị Tùng, nhỏ hơn vua 3 tuổi, mất sau vua 22 năm, thọ 59 tuổi. Bà sanh được 5 hoàng tử và 3 công chúa.

17. Lê Thị Lộc; Qúy nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 3 hoàng tử và 2 công chúa.

18. Nguyễn Thị Hạnh: Quý nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 2 hoàng tử và 1 công chúa.

19. Nguyễn Thị Bân: Mỹ nhân, không rõ năm sinh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử và 1 công chúa.

20. Đoàn Thị Thụy: Mỹ nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 công chúa.

21. Đinh Thị Nghiã: Tài nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử và 1 công chúa.

22. Trần Thị Tiền: Tài nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 2 hoàng tử.

23.- Nguyễn Thị Tính: Tài nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử.

24.- Đỗ Thị Cương: Tài nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử và 2 công chúa. Ở đây không biết có sự lầm lộn nào không mà bà Đỗ Thị Cương và bà Nguyễn Thị Bân cùng có chung tên thuỵ là Thục Thận. Bà Đỗ Thị Cương là em của bà Đỗ Thị Tùng như đã nói ở trên.

25. Trần Thị Thanh: Tài nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử.

26. Trần Thị Trúc: Tài nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 2 công chúa.

27. Trần Thị Tiêm: Tài nhân chưa xếp vào giai thứ, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được công chúa.

28. Bùi Thị Sơn: Tài nhân chưa xếp vào giai thứ, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử và 2 công chúa.

29. Lý Thị Cầm: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 công chúa.

30. Cao Thị Diệu: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử.

31. Đặng Thị Yểu Điệu: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 công chúa.

32. Lê Thị Đính: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 công chúa.

33. Trần Thị Mỹ: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 công chúa.

34. Trần Thị Nhã: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 công chúa.

35. Trần Thị Nhạn: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 công chúa.

36. Hồ Thị Thể: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử.

37. Lê Thị Thông: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 công chúa.

38. Nguyễn Thị Xuân: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử và 1 công chúa.

39. Phan Thị Viên: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử.

40. Trần Thị Nghiêm: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 2 hoàng tử và 3 công chúa.

41. Nguyễn Thị Vĩnh: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử.

42. Nguyễn Thị Dược: Cung nhân, không rõ năm sanh và năm mất. Bà sinh được 1 hoàng tử.

43. Lê Thị Tường: trường hợp này hơi đặc biệt ở chỗ bà được phong Cung nhân, nhưng vào năm Minh Mạng thứ 16 (1835) thì cha của bà là Lê Chất bị nghị tội, do đó bà bị phế. Không rõ bà sanh và mất năm nào. Bà Lê Thị Tường sinh được 1 hoàng tử.

 

m lại, vua Minh Mạng có:

- 1 Hoàng hậu

- 2 Phi

- 6 Tần

- 2  Dư

- 28 Nhân (7 Quý nhân, 2 Mỹ nhân, 5 Tài nhân, 2 Tài nhân chưa xếp vào giai thứ và 12 Cung nhân)ba bà không được phong cung nhân, hoặc được phong rồi nhưng sau đó bị phế.

- Tổng số hoàng tử của vua Minh Mạng là 78 vị, trong đó 8 người mất sớm.

- Tổng số công chúa của vua Minh Mạng là 64, trong đó 5 người mất sớm.

- Vua Minh Mạng bắt đầu thú “mây mưa” m 15 tuổi và có con đầu lòng lúc 16 tuổi.

- Trong khoảng thời gian 35 năm (từ khi nhà vua bắt đầu “mây mưa” năm 15 tuổi tới khi nhà vua băng hà lúc 50 tuổi), nhà vua đã giao hợp với 43 bà và sinh ra tổng cộng 142 nguời con! Như thế, tính trung bình, mỗi năm nhà vua là tác giả của 4 nhi đồng, nghiã là cứ 3 tháng là ngài có một “bê-bi”! Đây là chưa kể (vì không biết rõ) những “bê-bi” khác mà thân phụ cũng có thể là nhà vua vì trong cung cấm thì có biết bao nhiêu là mỹ nữ và ai dám cấm nhà vua “vui vẻ” với những người đẹp khác!

  Vua Minh Mạng qua đời ở tuổi 50, nghiã là tương đối trẻ. Không biết việc “mây mưa” i dài của ngài trong suốt 35 năm trời có ảnh hưởng gì tới số tuổi thọ hơi ngắn y không? 

Việc vua Minh Mạng có rất đông con thường nhắc mọi người nhớ tới toa thuốc thần với tác dụng tiếp sức cho nhà vua cùng hữu hiệu là toa thuốc Minh Mạng. Để mô tả tác dụng thần sầu qủy khốc của toa thuốc, bên dưới i tên “Minh Mạng Thang” thường có ghi hàng chữ “Nhất dạ lục giao sanh ngũ tử”, nghiã là chỉ cần uống thuốc rồi trong một đêm đi “giao” sáu lần với sáu thì năm bà sẽ có bầu!

 

Minh Mạng Thang

(Nhất Dạ Lục Giao Sanh Ngũ Tử)

Toa Thuốc của Ngự Y Đời Vua Minh Mạng.

 

1- Sa sâm                    5 chỉ                            12- Độc hoạt                           2 chỉ

2- Câu kỷ tử                2   -                             13- Bạch thược                       3   -

3- Bạch truật               3   -                             14- Trần bì                              3   -

4- Đào nhân                3   -                             15- Khương hoạt                     2   -

5- Dương qui               3   -                             16- Phục Linh                          3   -

6- Mộc qua                 2   -                             17- Đại hồi                              2   -

7- Thục địa                  5   -                             18- Cam thảo                          3   -

8- Tục đoan                 2   -                             19- Đại táo                              3   -

9- Phòng Phong           3   -                             20- Xuyên khung                     3   -

10- Nhục quế              1   -                             21- Đổ trọng                           2   -

11- Tân giao                2   -                             22- Thương truật                     2   -

 

Cách ngâm:

Nước thứ nhất:

Ngâm trọn thang thuốc với 2 lít rưỡi rượu gạo hoặc nếp 35 độ. Sau 6 ngày đêm, đổ rượu ra lọc sạch. Nấu 3 lượng đường phèn trong 1 xị nước. Khi đường tan, để nguội rồi pha vào rượu. Pha xong để 3 ngày sau mới uống.

Mỗi ngày uống 3 lần: Sáng, trưa, chiều. Mỗi lần 1 ly con (uống sec)

 

Nước thứ nhì:

Ngâm theo phương cách trên nhưng chỉ với 2 lít rượu và trong thời gian lâu tới 30 ngày, rồi pha thêm lượng nước đường phèn như trên.

 

Chủ trị: Bổ thận, bổ thần kinh, khí huyết gia tăng, tăng cường sinh dục, mạnh gân cốt, hỗ trợ trị bán thân bất toại. Theo sách xưa, thang thuốc này còn có tác dụng đặc biệt đối với bệnh nhân hấp hối vì uống vào có thể sống thêm 36 giờ. Trong trường hợp này cứ 1 ly rượu chưng thêm 5 chỉ nhân sâm.

 

Có người cho biết hồi trước, báo “Sống” của ông Chu Tử, trong số ra ngày 27 tháng Tư 1968 tại Sài Gòn, cũng đăng toa thuốc Minh Mạng. Tuy nhiên, nếu đem toa thuốc ấy so với toa thuốc Minh Mạng trên đây thì toa thuốc xuất hiện trên báo “Sống” còn có thêm 3 vị nữa là: Cao hổ cốt, 1 chỉ;  Cao ly tứ, 3 chỉ và Hồng cúc, 2 chỉ; và ở cuối toa thấy có ghi một lưu ý cho người dùng là nếu vị đó là người có máu nóng thì nên bỏ bớt hai vị Nhục quế và Đại hồi, còn nếu vị đó là người có máu lạnh thì nên thêm vào một vị là Ngưu tất, 3 chỉ.

Từ hồi nào tới giờ, người ta chỉ nghe đồn về toa thuốc Minh Mạng thần sầu qủy khốc, chứ chưa thấy có ai đã từng dùng qua rồi công bố cho bàn dân thiên hạ biết công hiệu của nó ra sao. Người ta cũng chẳng biết có phải toa thuốc “lừng danh” này đúng là do Ngự Y của vua Minh Mạng soạn ra để dâng nhà vua dùng cho “được việc” hay không, hay đây chỉ là mánh khóe câu khách của mấy ông chủ tiệm thuốc bắc!

Trở lại với thành tích có tới 142 người con của vua Minh Mạng, nhà vua đúng là một vị con Trời biết “chơi cho lịch mới là chơi, chơi cho đài các, cho người biết tay”! Và quả thật là khó có ai có thể bì kịp ngài!

            Tựa bài ghi là “Ăn Chơi” thì phải nói tới cả hai chuyện “ăn” và “chơi”. Từ đầu bài, sao toàn lải nhải về “chơi”, chưa đả động gì tới “ăn”? Vậy, bây giờ xin chuyển mục.

            Hiện nay, ở miền Bắc Mỹ thực phẩm dư thừa này mà bàn về việc ăn thì chỉ thấy người người lo ăn sao cho không bị mỡ để khỏi bị béo phì, khỏi bị “cô-lết-tơ-rôn”, khỏi bị nghẽn mạch máu tim… Rồi thì mọi người lại bảo nhau rằng ăn cá coi chừng bị “mơ-cu-ri”, ăn thịt heo coi chừng bị heo bệnh, ăn thịt bò coi chừng bị bò điên… Ôi, sao mới chỉ nghe qua mà cũng đã thấy ớn lạnh rùng mình, lắc đầu ngao ngán!

            Đúng lúc chẳng biết hạ tự viết cái chi chi về chuyện “ăn”, thì may sao một bạn vàng ghé chơi, kể cho nghe cách nấu một món ăn tuyệt bổ. Ông bạn mới học được cái “rờ-sét” này và bảo đảm món ăn không làm hại sức khỏe, không khiến người ăn canh cánh bên lòng. Công thức nấu món ấy như sau:

 

  1. Lấy 12 tháng trong năm đem rửa sạch mùi cay đắng, ghen tị, thù oán… rồi để ráo nước.
  2. Tuần tự cắt mỗi tháng ra 28, 30 hay 31 phần.
  3. Trộn đều với một chút tin yêu, một chút kiên nhẫn, một chút can đảm, một chút hy vọng.
  4. Ướp thêm gia vị: lạc quan, tự tin và hài hước.
  5. Đem ngâm một lúc trong hợp chất lỏng “Những Điều Tâm Niệm” của mình.
  6. Vớt ra, xay nhỏ, cho tất cả vào “Nồi Yêu Thương” và nấu với lửa “Vui Mừng”.
  7. Đem ra ăn với “Nụ Cười” trong chén “Bao Dung”.
  8. Xong, mời uống chén trà “Đạo Đức”, xả bỏ tâm phiền não, xa lià ý lợi danh, ba nghiệp thường thanh tịnh, an lạc sớm hiện tiền.

 

Trước thềm năm mới, chân thành cầu mong qúy vị thưởng thức được món ăn lợi lạc này suốt năm Tý.      

 

Trở về Trang Chính