Bốn chuyện ba điều về một chuyến đi 


 

Lâm Kim Loan

05 tháng 07 năm 2007

“ Loan mắt nhung” là biệt hiệu do một số bạn bè thương tôi mà đặt cho. “ Người em thời tiết” cũng do một vài bạn bè không biết thương hay ghét, gán cho tôi vì cái tánh khí khó đoán trước của kẻ này: khi vui chợt buồn, khi ồn ào chợt xa vắng, bữa nắng ngày mưa, khi nóng sôi sục đủ chảy lỏng đôi ba chàng yếu bóng vía, lúc thì lạnh lùng như núi đá ngàn năm …

Dù tôi có thất thường mút chỉ cỡ nào đi nữa, thì cũng không thể so sánh được với sự thay đổi quá bất ngờ của thời tiết ở Sydney vào mấy tuần nay. Mới cuối tuần trước, dù gió bấc non đầu Đông lành lạnh đủ để co ro, mặt trời vẫn gởi nắng đến tiểu bang đẹp nhất nước Úc nầy. Nắng vẫy chào cây cỏ núi đồi vùng công viên Quốc Gia, nắng nhẹ nhàng hôn tóc, nắng ngả lên vai, dịu dàng mơn trớn má đào và quấn quít theo những bước chân chim nhí nhảnh của nhóm đi bụi ( bushwalk). Đùng một cái, không biết vì sao, ông Trời đột ngột phùng mang trợn mắt phun gió thổi mưa vào xứ Sydney thân thương của chúng tôi từ thứ Sáu vừa qua. Không phải chỉ mưa rơi gió thoảng, mà mưa rào rào thành lụt, gió mãnh liệt thành bão làm cây gãy cành, nhà xập nóc, dây điện đứt… rất nhiều vùng tối hù tối om vì không có điện, thiên hạ hoảng hốt gọi cứu cấp loạn cả lên. Tội nghiệp! Sydney đang ngây ngất với cái êm ả còn sót lại của cuối Thu, đang vòi vĩnh mặc cả với cái lạnh của đầu Đông… bỗng tơi bời hoa lá với cơn thịnh nộ của đất trời.  Điều đáng nói là khí hậu tàn khốc này lại xảy ra đúng dịp lễ Sinh Nhật của Nữ Hoàng Anh Quốc, dịp cuối tuần mọi người được nghỉ xả hơi thêm vào ngày thứ Hai mà vẫn được trả lương (điều này quan trọng hơn là mừng sinh nhật Nữ Hoàng). Ngày mà nhiều người vẽ kế hoạch đi chơi xa, hẹn với xe buýt, khách sạn và trả tiền cọc từ mấy tháng trước…Trong đó có nhóm Hội Ái Hữu Cựu Nữ Sinh Trưng Vương, đã đâu vào đó, sẵn sàng để lên đường đến Moree  tắm suối nước nóng như dự tính.

 Mong mưa dài dài cho nước Úc đỡ hạn hán là điều ước của nhiều người dân Úc và dân tứ xứ trên thế giới tụ lại nhận nơi nầy làm quê hương, vì cái lợi chung cho nước Úc. Nghĩ đến tình riêng thì rầu ơi là rầu! Tôi chỉ là người định đi chơi ké mà còn rầu sẩu mình, người tổ chức chắc phải rầu thúi ruột! Nhìn mấy lá Palm phần phật với gió lộng mưa tuôn ngoài cửa sổ, tôi điện thoại cho chị Mai, trưởng nhóm tổ chức : “Mình đi hay không với thời tiết rùng rợn này hả chị?”. “ - Chờ ý kiến của đa số và chờ ý kiến của anh tài xế kinh nghiệm..”.  Cuối cùng thì đa số thắng thiểu số. Gió mặc gió, mưa kệ mưa, đa số đã quyết chí… chơi, thì kẻ này phải đành ai sao tui vậy mà bụng “quánh lô tô” tới tấp.

 

Trước khi đi, tôi cứ ngỡ hai mươi mốt người trong nhóm toàn là con cháu của hai bà Trưng. Người ta thường nói “ba người đàn bà họp nhau sẽ thành cái chợ” tôi đinh ninh lần nầy sẽ có bảy cái chợ nhỏ nhóm suốt ba ngày. Vào xe mới biết có ít chợ hơn và có thêm bốn người “canh chợ”, chưa kể anh tài xế Lộc. Xe hai mươi hai chỗ ngồi vừa đủ, nhưng chật chội dù mỗi người đã được chị Hội Trưởng dặn dò là chỉ được mang theo một túi nhỏ hành trang. Không phải người tham dự cãi lời mang hành lý quá  tải, mà chính vì ban tổ chức mang theo rất nhiều “đồ phụ tùng”: nồi niêu soong chảo, gạo, lò ga, mì gói, rau cải, trái cây…gần như đem cả một cái nhà- bếp- sau- khi- đi- chợ lên xe. Trông cảnh nầy làm tôi nhớ đến  truyện “Nhà tôi” của Duyên Anh, nhớ mang máng là ông tả cảnh gia đình ông đi chơi nghỉ mát, chỉ có đôi ba ngày, mà bà xã ông chu đáo mang theo lỉnh kỉnh không sót một thứ nào, đề phòng dự bị cho bất cứ hoàn cảnh bất trắc nào có thể xảy ra trong chuyến đi, thì cũng có đủ “đồ nghề” để xoay sở qua cơn thắt ngặt…

 

Thời tiết xấu nên xe không chạy nhanh được. Chợ nhóm đủ mười tiếng trên xe. Từ khai báo lý lịch, chuyện đời tôi đời chị, chuyện cười mặn lạt, cho đến đề tài tình yêu, nghĩa phu thê... đều được khơi ra và mổ xẻ một cách tận tình, rất vui và hữu ích, nhưng cũng có đôi điều đã làm chúng tôi ngậm ngùi không ít, hoặc giúp chúng tôi nhìn lại, đặt lại vấn đề : nên sống như thế nào cho phần đời còn lại của mình?

 

Không biết có phải do quá nhiều người cầu nguyện Chúa, Phật khẩn thiết và thảm thiết hay không mà chiều thứ Bảy hôm đó mưa bắt đầu dứt hạt, gió thoi thóp rồi ngừng hẳn…Xe chúng tôi đến Moree an tòan trên xa lộ, dzung dzăng trong cái quận nhỏ cách Sydney hơn bảy trăm cây số đường trường. Hồ tắm mở cửa từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối. Chúng tôi đến không kịp giờ tắm, chỉ đủ giờ để chia phòng và các chị sửa soạn buổi cơm chiều. Phòng được chia ra. Ba chị vào một phòng ( vừa đủ thành một chợ nhóm riêng). Bốn “người canh chợ” thì mỗi người quản thủ góc chợ riêng của mình.

Sáng Chủ Nhật thức dậy, mặt trời e lệ lấp ló sau mây. Chưa bao giờ tôi thấy mặt trời dễ thương và cần thiết như sáng hôm đó. Tôi chợt nghiệm ra một điều, khi ước vọng đạt được, bỗng điều ấy trở nên quý hóa vô cùng. Ngày lại ngày qua, chúng ta đang hưởng rất nhiều ân sủng của Thượng Đế, bạn bè, người thân, những người liên đới đang phục vụ trong mạng lưới chằng chịt của xã hội, cung cấp rất nhiều điều tối cần mà chúng ta không để ý, hoặc quên mất tiêu.…

 

Trong hồ nước nóng sáng Chủ Nhật hôm ấy đã có rất nhiều chợ nhỏ Việt Nam, vì ngoài nhóm chúng tôi, còn có các nhóm khác, cũng là người Việt từ Sydney lên, từ Queensland xuống. Đa số là phái nữ, có lẽ do thiên hạ đồn nhau là tắm suối nước nóng này thì da dẻ dù bèo nhèo cũng sẽ căng trẻ ra, đau lưng nhức mỏi cỡ nào cũng hết mà không cần đến bác sĩ hoặc thuốc men. Có vài chị đem theo chai không, sau khi tắm xong mang nước về rửa mặt cho trẻ lâu hơn…Hồ nước nóng chỉ để ngâm mình trị bịnh, chỉ được phép đi tới đi lui, chớ không được bơi lội ( ai muốn bơi như lực sĩ điền kinh thì có hồ bơi lớn kế bên nước lạnh hơn để thi thố tài năng). Tôi ghé qua “chợ” này nghe lóm vài chuyện tâm tình, tấp vào “chợ” kia học được một hai bí quyết nấu nướng…

 

Nói đến vấn đề ăn uống, thì đây là lần đầu tiên tôi đi chơi xa mà ban tổ chức tự tay nấu nướng đãi cả nhóm. Ở xứ lạ quê người, trong một chiều đông lạnh lẽo, được thưởng thức các món ăn bò lagu nóng, lẩu thập cẩm bốc hơi, chè đậu nước cốt dừa thì còn gì khoái khẩu hơn. Một chị trong nhóm bị cảm, được thưởng thức món cháo dành riêng cho người bịnh. Ngắm nhìn các chị nhanh nhẹn thoăn thoắt chuẩn bị các món ăn, thi hành chức năng của người nội trợ đảm đang, biểu lộ tình cảm, sự chăm lo thật sự chớ không phải chỉ làm vì bổn phận qua loa. Điều nầy làm tôi chạnh nhớ đến má tôi. Cách nay khá lâu, khi má tôi còn mạnh khoẻ giúp được cơm nước. Có một lần đang ăn cơm trưa với bà, hai mẹ con bàn tới lui các món ăn Việt Nam, tôi nói : “Sao con thèm ăn mắm chưng thịt quá hà má.”  Tôi chỉ muốn cho má tôi biết thế để hôm nào tiện thì má tôi sẽ nấu món đó. Không ngờ buổi cơm chiều hôm ấy, trên bàn là món mắm chưng nóng hổi. Má tôi cho tôi biết là bà đã đón xe buýt đi chợ trong khi tôi xem báo và ngủ quên lúc nào không hay. “Má không muốn đánh thức con dậy chở má đi chợ, để con ngủ thẳng giấc cho khỏe, má nấu liền, con ăn cho đã thèm đi ”. Tôi đã ôm ghì má tôi thật lâu, vừa ăn mà nước mắt tôi rơi lã chã vào chén cơm mắm chưng thịt chiều hôm ấy. Ôi tình mẫu tử! Ôi lòng mẹ! Thay vì xem phim, đọc sách, hoặc gảy đàn các bản nhạc yêu thích, đêm đó tôi đàn bài “Lòng mẹ”, gảy tới lui nhiều lần cho hai má con cùng nghe. Nhìn lại má tôi đã ngon giấc từ lúc nào không hay. Lần đầu tiên trong đời làm con, tôi ru mẹ ngủ. Tôi vẫn tiếp tục đàn, dù đàn nhỏ hơn. Cứ thế tôi đàn,  mà lòng chùng xuống, mà hồn như mê sảng.

 

Trên đường về, mọi người đều thèm ngủ. Chị Sinh ngồi cạnh tôi, thấy tôi đang đọc báo, chị tỉ tê tâm sự: “Chị Loan nhìn kìa,” chị chỉ tay ra cửa sổ xe, “ những cánh đồng lúa mì ở Úc cũng bạt ngàn như những cánh đồng lúa gạo ở Việt Nam, mà sao tôi không thấy thương nó như thương những cánh đồng lúa gạo của quê mình. Không biết có phải vì mình được nuôi lớn bằng lúa gạo không?” Tôi chưa kịp trả lời thì chị trưởng nhóm bắt đầu chương trình kể chuyện vui. Sau đó lại đến màn trao đổi điạ chỉ, số điện thoại, email của nhau để liên lạc và gởi những hình chụp kỷ niệm…

Chị Sinh à, sẵn dịp viết bài về chuyến đi Moree vừa qua, tôi xin trả lời câu hỏi của chị luôn thể. Tôi nghĩ một phần có lẽ đúng như suy nghĩ của chị giữa lúa gạo và lúa mì. Hơn thế nữa, chắc trên những cánh đồng nầy thiếu hình ảnh con trâu, cái cày, nước lấp xấp, thiếu những dáng người với nón lá lom khom cấy mạ non, gặt lúa chín. Cũng như tôi thường hoài niệm về những dòng sông cũ. Ở Úc cũng có nhiều dòng sông rất đẹp, lớn và sạch hơn sông ở miền quê Việt Nam. Nhiều lần tôi lái xe đến vùng Chipping Norton, ngồi bên bờ sông George nhìn hoàng hôn xuống, hoặc ngắm trăng rằm phản chiếu trên mặt sông, tuyệt đẹp và nên thơ vô cùng. Vậy mà tôi vẫn nhớ quay quắt về con sông nhỏ không tên, đục nước cạn lòng, lục bình hoa tím trôi đầy mặt nước ở quê ngoại Giồng Đá.

Sông trước mặt nhà dì Tám của tôi, có chiếc cầu làm bằng thân dừa vắt ngang hai bờ. Cầu ngắn sủn, có bao nhiêu bước đâu, vậy mà hàng xóm thường đứng bên nầy bờ sông, nói vói qua bên kia sông. Không phải nói vài lời, họ nói tràng giang đại hải, cứ đứng vậy mà nói vói cũng đã miệng. Con sông ngày xửa ngày xưa tôi đã tập bơi xuồng với Phèn, Đực, em bà con của tôi.Tắp vào bờ để hái những trái bình bát vàng tươi vị hơi ngọt, mùi ngai ngái. Tôi cũng yêu thương Sydney, quê hương thứ hai, nơi tôi đã sống một thời gian còn dài hơn những ngày tôi sống trên chính quê mẹ. Vậy mà không hiểu tại sao, có những thứ như cánh đồng lúa gạo của chị, dòng sông tuổi thơ của tôi… cứ trăn trở dai dẳng hoài, không nguôi. Có lẽ, sẽ mãi mãi không nguôi.

 

                                                                                              Lâm  Kim  Loan

                                                                                               (Tháng Sáu 2007)

 

Trở về Trang Chính