|
Cách
đây hai tuần, hai mươi chín tháng Tư, con trai tôi mời tôi, chị
và em gái nó, cả hai đều có bạn tình, dự tiệc sinh nhật của vợ
nó, tức con dâu tôi, ở một tiệm ăn Đại Hàn, vùng Strathfield,
Sydney.
Khoảng
tháng Tư, từ nhiều năm nay, tôi thích được một mình trầm mặc.
Tháng Tư 1975 là mấu chốt biến cố của rất nhiều người Việt Nam.
Tình cờ, tháng Tư cũng là mấu chốt của rất nhiều biến cố xảy ra
cho tôi trong nhiều năm khác nhau.
Giữa
tháng Tư 1975, tôi vẫy chào giã từ vùng đất Rạch Giá thân
thương, tạm biệt cha mẹ để theo chồng ở tận Sài Gòn. Trước đó
tôi đã từng xa nhà, lên Sài Gòn trọ học. Tôi đã nhiều lần
lên xuống con đường liên tỉnh lắm ổ gà loang lở trên đường, đã
quen qua lại hai bến phà Mỹ Thuận và Vàm Cống, về thăm quê trong
những dịp nghỉ hè. Sài Gòn, Rạch Giá chỉ cách nhau hơn ba trăm
cây số, mà sao lần nầy, tôi cảm thấy hai nơi xa ơi là xa, xa vời
vợi.
Cuối
tháng Tư 1975, miền Nam sụp đổ. Bao thảm họa chụp lên đầu “ ngụy
quân, ngụy quyền” miền Nam và thân nhân của họ. Cảnh đổi đời đã
được viết bằng mực, bằng máu, bằng nước mắt của rất nhiều người
Việt ở miền Nam, từ những thi văn chuyên nghiệp cho đến các
người ít khi cầm bút. Viết chung cho vận nước, viết riêng cho
những đoài đoạn của chính mình, cho bạn bè, người thân, lối
xóm….
Tháng
Tư 1978, tôi phải làm một quyết định rất lớn: vượt biên! Đầu óc
người đàn bà hai mươi mấy xuân xanh còn hạn hẹp trong những tình
cảm riêng tư, bản thân và gia đình. Ba má tôi làm nghề thủ công,
chụp ảnh, uốn tóc ở một tỉnh nhỏ, nên gia đình tôi không có “nợ
máu” với Việt Cộng. Tôi ra đi là để theo chồng vừa được tạm tha
từ trại học tập. Lúc đó lòng tôi vùng vằng biết bao mối ngổn
ngang. Đi hay ở? Ở hay đi?? Đi thì đi đâu, tới đâu? Làm gì? Tôi
được sinh ra ở xã Minh Lương, Rạch Giá. Ở đó mà tôi chưa từng
biết Hà Tiên, Phú Quốc, những điạ danh chỉ cách Rạch Giá vài
chục cây số đường xe, đường thủy. Tôi chỉ quanh quẩn với những
con đường nhỏ đầy lá me, con đường Duy Tân, nhà tôi ở đó. Hoặc
đi về từ nhà đến trường trung học Nguyễn Trung Trực, áo dài
trắng, xe đạp qua lại chiếc cầu sắt trăm năm. Hay từ nhà đến
chợ ăn điểm tâm mỗi sáng cuối tuần. Thêm những ngày nghỉ hè về
quê nội ở Thoại Sơn, làm quen với cát trắng, núi đồi; về quê
ngoại ở Giòng Đá, làm quen với sông rạch và đời sống đơn giản,
thật thà của dân quê, rặc ròi quê. Lên Sài gòn học, tôi chỉ biết
Sài Gòn, Chợ Lớn và khu Bà Quẹo vì hai chị của tôi ở hai nơi
nầy. Những ngày còn là sinh viên Y khoa, tôi chỉ đi Vũng Tàu một
lần duy nhất với gia đình người chị thứ ba. Đất nước Việt Nam
đối với tôi, thu hẹp lại, loanh quanh chỉ bấy nhiêu đó . Đối với
tôi lúc bấy giờ, đi là vĩnh viễn xa quê hương Việt Nam, là không
bao giờ gặp lại cha mẹ chị em, là chào vĩnh biệt những kỷ niệm
tuổi thơ yêu dấu. Còn như quyết định ở lại, thì tương lai chồng
và gia đình tôi sẽ ra sao với tấm giấy tạm tha của chính quyền
mới khi chồng tôi được phóng thích. Hai chữ “tạm tha” như một
bản án treo lơ lửng, mơ hồ và đầy đe dọa. Tạm tha là có thể bị
bắt lại bất cứ lúc nào. Vẫn là người tù được thả lỏng mà thôi.
Xuất giá tòng phu, phu quyết định vượt biên thì phụ phải tòng
cho trọn đạo. Thế là tôi cùng chồng và đứa con hơn hai tuổi ra
đi. Vượt biên, làm thuyền nhân.
Cũng
tháng Tư, năm 1987, tôi quyết định ly giải cuộc hôn nhân buồn
nhiều hơn vui. Lúc đó tôi hãy còn là một gười đàn bà rất trẻ,
chới với trong tình cảm què quặc, chới với giữa một xứ sở lạ
nhiều hơn quen, làm người mẹ đơn chiếc của ba đứa con tôi.
Tháng Tư, ôi tháng Tư, những ray rứt không nguôi, biết bao điều
tôi muốn quên mà sao vẫn nhớ!
Hôm
nay, cũng cuối tháng Tư 2007. Trên đường đến một nhà hàng ở
Strathfield, lòng tôi vui như mở hội, vì lâu lắm rồi, tôi chưa
được gặp các con tôi cùng một lúc, đặc biệt là các con đều có
đôi. Ở Úc và các xứ tây phương, khi con cái trưởng thành, chúng
thường quyết định ra riêng để làm người lớn. Nước Úc rộng lớn,
từ nơi nầy đến nơi kia thường cách nhau mấy chục cây số lái xe.
Nếu phải học hành làm việc ở tiểu bang khác thì khoảng cách vài
trăm cây số là thường. Do đó được dịp gặp lại tất cả các con
cùng một lượt như đêm nay, tôi cũng xem như một “biến cố” vui.
Hai tuần sau là ngày của mẹ, Mother’s Day. Biết ngày đó có đủ
con cái về họp mặt vui vẻ hay không? Tôi nhớ năm ngoái, nồi mì
vịt tiềm của tôi bị ế vì các con tôi không về được. Chúng tình
cờ bận rộn chuyện riêng! Tôi chỉ được mấy bó hoa con tặng, nhưng
do người dưng đem đến và vài chiếc hôn gởi từ các tấm thiệp đủ
màu. Nghĩ đến điều nầy, tôi muốn đêm nay cũng là đêm Mừng Mẹ,
Đêm Của Mẹ. Trước khi đến nhà hàng, tôi ghé vào một trạm xăng
Seven Eleven mua một quyển tập học trò và một cây viết. Món quà
các con tôi cho ngày của mẹ sắp tới, sẽ chỉ là những dòng chữ
chúng nó viết cho tôi đêm nay, viết vào quyển vở đơn sơ nầy. Tôi
không mong gì hơn. Tôi không cần hoa đẹp hay bất cứ món quà vật
chất nào. Tôi chỉ mong muốn được nhìn lại dòng chữ của các con
tôi bây giờ ra sao. Thời đại máy vi tính, chúng tôi thường liên
lạc nhau qua internet hoặc điện thoại. Dường như lần cuối tôi
nhìn được nét chữ của con tôi là khi chúng còn ở những năm đầu
trung học và những dòng rất ngắn ngủi trong đôi ba tấm thiệp.
Các món
ăn Đại Hàn lạ miệng, ngắm nhìn các con tíu tít nói cười, chúng
đã trưởng thành, thành nhân và thành danh. Tôi vui vì cảm thấy
mình đã ít nhiều đóng góp cho xã hội Úc, một cách trả ơn cho
người dân Úc đã cứu vớt và cưu mang chúng tôi, những người tỵ
nạn Việt Nam sau một chín bảy lăm.
Các món
quà sinh nhật được trao cho con dâu tôi, những lời chúc mừng qua
lại. Tôi sau chót, trao quà, chúc mừng con dâu, chúc mừng tất
cả. Kế đến tôi nói cảm tưởng và ý muốn của tôi. Oh, mummy… Oh
dear..Con gái Út: má à…Tôi nói: “các con hãy viết rất thật,
không phải viết những lời để má vui. Quà Mother Day năm nay của
má như vậy thôi”. May quá, cuối cùng các con tôi cũng vui vẻ
đón quyển vở học trò trong tay tôi . Từng đứa, từng đứa cắm cúi
viết, viết ngay trên bàn của một tiệm ăn lạ quắc…Bạn của hai con
gái tôi cũng viết đôi dòng kỷ niệm.
Về đến
nhà, tôi trịnh trọng ngồi vào bàn viết. Hồi hộp, tôi lật từng
trang, từng trang một. Tôi ngắm tới ngắm lui nét chữ của từng
đứa. Chữ h, chữ g, chữ r của mỗi đứa đều khác nhau. Thư của cả
ba đều giống nhau ở giòng sau cuối : “Your little pig”. Ngày xưa
tôi thường kể cho chúng nghe chuyện ba heo con ( Three little
pigs). Sau nầy lớn lên, khi đi chơi xa, mỗi lần email về nhà,
tôi vẫn gọi ba con tôi là “ba con heo nhỏ của má”, nên
chúng quen như thế. Tiếng lòng, tình thương của các con tôi cho
tôi, được ghi lên trang giấy. Chúng viết bằng Anh ngữ. Chỉ vài
chử như ông ngoại, bà ngoại, má…là chúng viết bằng tiếng Việt.
Con gái út cua tôi, đứa giỏi tiếng Việt nhất trong ba đứa, chêm
nhiều tiếng Việt trong thư hơn. Bây giờ ba đứa đều thương mẹ.
Không như ngày xưa, khi còn nhỏ chúng đã rất mơ hồ về tình mẫu
tử. Khi trưởng thành, ra riêng, chúng đã biết thế nào là nợ áo
cơm, hiểu vì sao lúc trước mẹ chúng không thể trực tiếp săn sóc
mà phải nhờ ông bà ngoại nuôi dùm.. Con dâu, và hai bạn của con
tôi, viết rằng chúng đã nhìn thấy tôi qua cá tính và cách hành
xử của người bạn tình. Tôi vui vì nghĩ mình đã làm tròn bổn phận
người mẹ, làm thêm nhiệm vụ người cha, người công dân tốt cho
đất nước Úc, quê hương thứ hai của tôi. Tôi cúi xuống hôn từng
trang giấy có nét chữ của các con. Bàn tay chúng đã đặt lên đó,
mắt chúng đã nhìn vào đó, và hơn hết, tình cảm chúng trải đầy
lên đó. Đối với tôi quyển vở học trò nầy đã thành một kỷ vật. Kỷ
vật của mẹ.
Đêm đó
tôi ngủ rất ngon, với quyển tập học trò có những dòng tâm sự của
ba heo con đặt dưới gối.
Lâm Kim Loan
( Tháng Năm 2007 )
Trở về Trang Chính
|