Tạp ghi:Tháng Tư và tôi


 

Lâm Kim Loan

14 tháng 06 năm 2007

 Cách đây hai tuần, hai mươi chín tháng Tư, con trai tôi mời tôi, chị và em gái nó, cả hai đều có bạn tình, dự tiệc sinh nhật của vợ nó, tức con dâu tôi, ở một tiệm ăn Đại Hàn, vùng Strathfield, Sydney.

 

Khoảng tháng Tư, từ nhiều năm nay, tôi thích được một mình trầm mặc.  Tháng Tư 1975 là mấu chốt biến cố của rất nhiều người Việt Nam. Tình cờ, tháng Tư cũng là mấu chốt của rất nhiều biến cố xảy ra cho tôi trong nhiều năm khác nhau.

 

 Giữa tháng Tư 1975, tôi vẫy chào giã từ vùng đất Rạch Giá thân thương, tạm biệt cha mẹ để theo chồng ở tận Sài Gòn. Trước đó tôi đã từng xa nhà, lên Sài Gòn trọ học. Tôi đã nhiều lần lên xuống con đường liên tỉnh lắm ổ gà loang lở trên đường, đã quen qua lại hai bến phà Mỹ Thuận và Vàm Cống, về thăm quê trong những dịp nghỉ hè. Sài Gòn, Rạch Giá chỉ cách nhau hơn ba trăm cây số, mà sao lần nầy, tôi cảm thấy hai nơi xa ơi là xa, xa vời vợi.

 

 Cuối tháng Tư 1975, miền Nam sụp đổ. Bao thảm họa chụp lên đầu “ ngụy quân, ngụy quyền” miền Nam và thân nhân của họ. Cảnh đổi đời đã được viết bằng mực, bằng máu, bằng nước mắt của rất nhiều người Việt ở miền Nam, từ những thi văn chuyên nghiệp cho đến các người ít khi cầm bút. Viết chung cho vận nước, viết riêng cho những đoài đoạn của chính mình, cho bạn bè, người thân, lối xóm….

 

 Tháng Tư 1978, tôi phải làm một quyết định rất lớn: vượt biên! Đầu óc người đàn bà hai mươi mấy xuân xanh còn hạn hẹp trong những tình cảm riêng tư, bản thân và gia đình. Ba má tôi làm nghề thủ công, chụp ảnh, uốn tóc ở một tỉnh nhỏ, nên gia đình tôi không có “nợ  máu” với Việt Cộng. Tôi ra đi là để theo chồng vừa được tạm tha từ trại học tập. Lúc đó lòng tôi vùng vằng biết bao mối ngổn ngang. Đi hay ở? Ở hay đi?? Đi thì đi đâu, tới đâu? Làm gì? Tôi được sinh ra ở  xã Minh Lương, Rạch Giá. Ở đó mà tôi chưa từng biết Hà Tiên, Phú Quốc, những điạ danh chỉ cách Rạch Giá vài chục cây số đường xe, đường thủy. Tôi chỉ quanh quẩn với những con đường nhỏ đầy lá me, con đường Duy Tân, nhà tôi ở đó. Hoặc đi về từ nhà đến trường trung học Nguyễn Trung Trực, áo dài trắng, xe đạp qua lại chiếc cầu sắt trăm năm.  Hay từ nhà đến chợ ăn điểm tâm mỗi sáng cuối tuần. Thêm những ngày nghỉ hè về quê nội ở Thoại Sơn, làm quen với cát trắng, núi đồi; về quê ngoại ở Giòng Đá, làm quen với sông rạch và đời sống đơn giản, thật thà của dân quê, rặc ròi quê. Lên Sài gòn học, tôi chỉ biết Sài Gòn, Chợ Lớn và khu Bà Quẹo vì hai chị của tôi ở hai nơi nầy. Những ngày còn là sinh viên Y khoa, tôi chỉ đi Vũng Tàu một lần duy nhất với gia đình người chị thứ ba. Đất nước Việt Nam đối với tôi, thu hẹp lại, loanh quanh chỉ bấy nhiêu đó . Đối với tôi lúc bấy giờ, đi là vĩnh viễn xa quê hương Việt Nam, là không bao giờ gặp lại cha mẹ chị em, là chào vĩnh biệt những kỷ niệm tuổi thơ yêu dấu. Còn như quyết định ở lại, thì tương lai chồng và gia đình tôi sẽ ra sao với tấm giấy tạm tha của chính quyền mới khi chồng tôi được phóng thích. Hai chữ “tạm tha” như một bản án treo lơ lửng, mơ hồ và đầy đe dọa. Tạm tha là có thể bị bắt lại bất cứ lúc nào. Vẫn là người tù được thả lỏng mà thôi. Xuất giá tòng phu, phu quyết định vượt biên thì phụ phải tòng cho trọn đạo. Thế là tôi cùng chồng và đứa con hơn hai tuổi  ra đi. Vượt biên, làm thuyền nhân.

 

Cũng tháng Tư, năm 1987, tôi quyết định ly giải cuộc hôn nhân buồn nhiều hơn vui. Lúc đó tôi hãy còn là một gười đàn bà rất trẻ, chới với trong tình cảm què quặc, chới với giữa một xứ sở lạ nhiều hơn quen,  làm người mẹ đơn chiếc của ba đứa con tôi. Tháng Tư, ôi tháng Tư, những ray rứt không nguôi, biết bao điều tôi muốn quên mà sao vẫn nhớ!

 

Hôm nay, cũng cuối tháng Tư 2007. Trên đường đến một nhà hàng ở Strathfield, lòng tôi vui như mở hội, vì lâu lắm rồi, tôi chưa được gặp các con tôi cùng một lúc, đặc biệt là các con đều có đôi. Ở Úc và các xứ tây phương, khi con cái trưởng thành, chúng thường quyết định ra riêng để làm người lớn. Nước Úc rộng lớn, từ nơi nầy đến nơi kia thường cách nhau mấy chục cây số lái xe. Nếu phải học hành làm việc ở tiểu bang khác thì khoảng cách vài trăm cây số là thường. Do đó được dịp gặp lại tất cả các con cùng một lượt như đêm nay, tôi cũng xem như một “biến cố” vui. Hai tuần sau là ngày của mẹ, Mother’s Day. Biết ngày đó có đủ con cái về họp mặt vui vẻ hay không? Tôi nhớ năm ngoái, nồi mì vịt tiềm của tôi bị ế vì các con tôi không về được. Chúng tình cờ bận rộn chuyện riêng! Tôi chỉ được mấy bó hoa con tặng, nhưng do người dưng đem đến và vài chiếc hôn gởi từ các tấm thiệp đủ màu. Nghĩ đến điều nầy, tôi muốn đêm nay cũng là đêm Mừng Mẹ, Đêm Của Mẹ. Trước khi đến nhà hàng, tôi ghé vào một trạm xăng Seven Eleven mua một quyển tập học trò và một cây viết. Món quà các con tôi  cho ngày của mẹ sắp tới, sẽ chỉ là những dòng chữ chúng nó viết cho tôi đêm nay, viết vào quyển vở đơn sơ nầy. Tôi không mong gì hơn. Tôi không cần hoa đẹp hay bất cứ món quà vật chất nào. Tôi chỉ mong muốn được nhìn lại dòng chữ của các con tôi bây giờ ra sao. Thời đại máy vi tính, chúng tôi thường liên lạc nhau qua internet hoặc điện thoại. Dường như lần cuối tôi nhìn được nét chữ của con tôi là khi chúng còn ở những năm đầu trung học và những dòng rất ngắn ngủi trong đôi ba tấm thiệp.

 

Các món ăn Đại Hàn lạ miệng, ngắm nhìn các con tíu tít nói cười, chúng đã trưởng thành, thành nhân và thành danh. Tôi vui vì cảm thấy mình đã ít nhiều đóng góp cho xã hội Úc, một cách trả ơn cho người dân Úc đã cứu vớt và cưu mang chúng tôi, những người tỵ nạn Việt Nam sau một chín bảy lăm.

Các món quà sinh nhật được trao cho con dâu tôi, những lời chúc mừng qua lại. Tôi sau chót, trao quà, chúc mừng con dâu, chúc mừng tất cả. Kế đến tôi nói cảm tưởng và ý muốn của tôi. Oh, mummy… Oh dear..Con gái Út: má à…Tôi nói: “các con hãy viết rất thật, không phải viết những lời để má vui. Quà Mother Day năm nay của má như vậy thôi”.  May quá, cuối cùng các con tôi cũng vui vẻ đón quyển vở học trò trong tay tôi . Từng đứa, từng đứa cắm cúi viết, viết ngay trên bàn của một tiệm ăn lạ quắc…Bạn của hai con gái tôi cũng viết đôi dòng kỷ niệm.

 

Về đến nhà, tôi trịnh trọng ngồi vào bàn viết. Hồi hộp, tôi lật từng trang, từng trang một. Tôi ngắm tới ngắm lui nét chữ của từng đứa. Chữ h, chữ g, chữ r của mỗi đứa đều khác nhau. Thư của cả ba đều giống nhau ở giòng sau cuối : “Your little pig”. Ngày xưa tôi thường kể cho chúng nghe chuyện ba heo con  ( Three little pigs). Sau nầy lớn lên, khi đi chơi xa, mỗi lần email về nhà, tôi vẫn gọi ba con tôi là “ba con heo nhỏ của má”, nên chúng quen như thế. Tiếng lòng, tình thương của các con tôi cho tôi, được ghi lên trang giấy. Chúng viết bằng Anh ngữ. Chỉ vài chử như ông ngoại, bà ngoại, má…là chúng viết bằng tiếng Việt. Con gái út cua tôi, đứa giỏi tiếng Việt nhất trong ba đứa, chêm nhiều tiếng Việt trong thư hơn. Bây giờ ba đứa đều thương mẹ. Không như ngày xưa, khi còn nhỏ chúng đã rất mơ hồ về tình mẫu tử. Khi trưởng thành, ra riêng, chúng đã biết thế nào là nợ áo cơm, hiểu vì sao lúc trước mẹ chúng không thể trực tiếp săn sóc mà phải nhờ ông bà ngoại nuôi dùm.. Con dâu, và hai bạn của con tôi, viết rằng chúng đã nhìn thấy tôi qua cá tính và cách hành xử của người bạn tình. Tôi vui vì nghĩ mình đã làm tròn bổn phận người mẹ, làm thêm nhiệm vụ người cha, người công dân tốt cho đất nước Úc, quê hương thứ hai của tôi. Tôi cúi xuống hôn từng trang giấy có nét chữ của các con. Bàn tay chúng đã đặt lên đó, mắt chúng đã nhìn vào đó, và hơn hết, tình cảm chúng trải đầy lên đó. Đối với tôi quyển vở học trò nầy đã thành một kỷ vật. Kỷ vật của mẹ.

 

Đêm đó tôi ngủ rất ngon, với quyển tập học trò có những dòng tâm sự của ba heo con  đặt dưới gối.                                                                                   

   Lâm Kim Loan

                                                                                              ( Tháng Năm 2007 )

 

Trở về Trang Chính