|
Mẹ
hiền, tôi được dạy, phải là người đàn bà thật sự làm mẹ,
nghĩa là tự tay nuôi nấng và chăm sóc con mình từ khi con mới
lọt lòng hãy còn đỏ hỏn. Ôm con vào lòng cho bú. Quen thuộc mùi
bài tiết của con những lúc thay tả. Ru con ngủ à ơ bằng những
câu hò, ca dao đầy tình tự quê hương. Đút cháo mớm cơm. Thức
trắng canh thâu khi con đau ốm. Tập con đi những bước đi chập
chững đầu đời. Dạy con gọi: má, ba, cơm, nước. Dạy con khoanh
tay cúi đầu chào người quen kẻ lạ.Tập cho con tự tin bỏ tả. Chơi
đùa giúp con phát triển năng khiếu tay chân. Dạy con những mẫu
tự i tờ, đọc truyện cho con và hôn gởi con vào giấc ngủ. Chia sẻ
những vui buồn, giải đáp những thắc mắc. Giúp giải quyết những
lo âu đến khi chúng đến tuổi trưởng thành v v và v v… Tôi đã ba
lần rặn đẻ được ba mặt con; mà dường như, mỗi người có một số
phận may rủi riêng hay sao; tôi chưa bao giờ được cái diễm phúc
thưởng thức chức năng mẹ hiền, tình mẫu tử, theo định nghĩa đơn
giản riêng như trên.
Lấy
chồng ngày 12 tháng Tư năm 1975, mười sáu ngày trước ngày miền
Nam Việt Nam sụp đổ. Không biết tại sao lúc đó tôi lại quyết
định lấy chồng? Càng không biết tại sao tôi được hay bị chồng
lấy? Việc nghiêm trọng cho cả đời con gái, vậy mà lý do khiến
tôi đưa tay đưa chân cho ông Tơ bà Nguyệt cột sợi tơ hồng lại mơ
hồ đến thế! Dù đã hai mươi bốn tuổi, dù đang là sinh viên y khoa
thời bấy giờ, đặc biệt là tôi đã học qua khoá “Dự bị hôn nhân”
của ông Hoàng Xuân Việt, tổ chức ở nhà thờ Yên Đỗ nữa chứ! Tôi
nhớ mãi câu ông nói : “ Mua giày dép, chỉ đi một thời gian
rồi bỏ, mà chúng ta còn thử tới thử lui; hôn nhân là chuyện cả
đời mà nhiều người không thử gì cả” . Tôi đã gật gù khoái
chí và đồng ý với câu nói chí lý đó. Vậy mà cuối cùng, chính tôi
cũng là người xem việc chọn lựa guốc dép quan trọng hơn chọn
người phối ngẫu! Mà thật ra tôi có muốn chọn lựa cũng đâu có
được. Chỉ biết là hai bên gia đình cha mẹ quen nhau. Một bên có
con trai, một bên có con gái là kết. Bên có con trai, “tướng
mạo cũng khá bảnh bao, chức Đại úy ở bộ Tổng Tham Mưu, không
phải ra chiến trường, nên con không sợ phải trở thành quả
phụ hay goá phụ” theo lời của ba tôi. Có thể bên đàng trai
cũng thích một cô dâu bác sĩ tương lai cho xứng đôi vừa lứa với
con trai rượu của mình.
Tôi lấy
chồng, dù chỉ biết mặt chồng qua một bửa tiệc cơm thân mật giữa
hai gia đình và thêm vài lần xã giao như người quen sơ.Tôi đã vì
hiếu phụ tình! Nghe như chuyện cải lương, nhưng sự thật là thế!
Tôi còn nhớ ba tôi, mặt hầm hầm, khi tôi run sợ ngỏ ý khước từ
cuộc hôn nhân do cha mẹ hai bên định đoạt nầy. Ông nói: “
Không bằng lòng thằngT., muốn lấy thằng Đ. thì mua cho ba má một
gói trà, một gói mứt, gọi là trả hiếu, rồi ba cho con đi theo nó
luôn, khỏi làm đám cưới đám kiết gì cả ”. Câu nói, mới
thoáng nghe qua, tưởng dễ dàng mà thực ra khó trăm bề! Tưởng bở
là chết cửa tứ! Câu nói là mệnh lệnh của người làm chủ truyền
bảo, chỉ thị xuống kẻ dưới, của người cha trong một gia đình lễ
giáo mà phận làm con phải tuyệt đối râm rấp tuân theo. Thế mới
biết sức mạnh của nền móng Nho Giáo, Khổng Giáo, đã ăn sâu cội
rễ vào sự suy nghĩ, cách hành xử trong gia đình, xã hội Việt Nam
thời ấy, mạnh mẻ đến dường nào! Những câu : “áo mặc sao qua
khỏi đầu”, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, “ con cái có lổ tai,
không có miệng”..vân vân và vân vân…
Thế là tôi xa Đ. “Thôi thế là thôi là thế
nhé!” “ Em đi lấy chồng để khổ cho ai”. Thế là tôi đi lấy
chồng. Thế là có em “ khăn gói theo chồng nhỏ lệ vu quy”.
Thế là ước mơ lứa đôi với người tôi yêu thuở hoa niên được xếp
vào ngăn kỷ niệm. “Ba năm tình lận đận, hai đứa buồn như
nhau”!!!
Tuần
trăng mật bên gia đình chồng với bao lo âu, trỉu nặng buồn phiền
rồi cũng qua đi. Như con chờ sẵn cha, tôi có thai đứa con đầu
lòng, vài ngày trước khi chồng tôi được lệnh đi học tập. Lệnh
của chính quyền mới ban xuống: cấp sỉ quan trình diện để học
tập, chuẩn bị hành lý thức ăn mười ngày. Nhưng sự thật thì khác
hẳn, hai tuần trôi qua, rồi tháng, rồi năm; chồng tôi, cũng như
bao nhiêu người khác trong chế độ cũ ra đi không biết ngày về!
Sống
với gia đình chồng trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng nầy, tôi vẫn
cố tiếp tục đi học dù lòng hoang mang và rối như tơ. Tương lai
về đâu? Ra sao? Vô cùng mù mịt! Tôi tham gia chương trình dạy y
tế cho khóm phường. Giờ rảnh, tôi ngồi bán nước dừa ở góc phố.
Tình cờ gặp các thầy ghé vào mua nước giải khát, tôi được dịp
chào thầy và tặng thầy ly nước dừa ân nghĩa. Học trò trong xóm
đến uống nước dừa, chúng cũng lễ phép cúi đầu chào cô giáo chứ
không xem như một người bán dạo. Khi cận ngày sinh nở, tôi mang
bụng bầu lủi thủi về quê mẹ như một đưá con gái bị chửa hoang,
dù đám cưới rình rang, lối xóm đều được mời tham dự. Đau bụng
đẻ, không có người để tựa vào, tôi bấu hai tay vào song cửa của
một nhà bảo sanh tư để chịu các cơn đau, “ bấm vô cây
cột, thấy cột mềm xèo”. Thế là con gái đầu lòng ra
đời không có mặt cha vào cuối tháng Hai năm 1976. Hai tuần sau
khi sanh xong, tôi gởi con lại cho người chị nuôi dùm và trở lên
Sài gòn học tiếp. Dì như mẹ. Yên tâm, nhưng tôi không được làm
mẹ cho đứa con đầu của tôi! Thỉnh thoảng tôi về thăm con và gia
đình ba má tôi vào dịp nghỉ hè. Nhìn con, mà tôi có cảm tưởng
như nhìn đứa em út. Sợi dây mẫu tử của chúng tôi thật lỏng lẻo,
đôi ba tuần thăm viếng rồi lại xa nhau vài tháng, Sài Gòn - Rạch
Giá cách nhau hàng 328 cây số đường trường. Không có điện thoại
liên lạc để được nghe con tôi bặp bẹ những tiếng nói đầu đời!
Tháng
Năm 1978, sau khi chồng tôi được giấy tạm tha từ trại cải tạo,
chúng tôi tìm cách vượt biên vì lý do chính trị. Tôi cùng chồng
và đứa con đầu rời Việt Nam trên một chiếc thuyền nhỏ, cùng năm
mươi bốn người khác, trôi dạt đến Mã Lai, được chính quyền Mã
Lai tập trung vào trại Pulo Besar. Sáu tháng ở trại tỵ nạn, tôi
gia nhập ban Y Tế, khám bịnh miển phí cho đồng bào trong trại.
Chồng tôi thường cõng con gái tôi trên lưng, qua lại chỗ tôi làm
việc cho hai mẹ con vẫy tay chào nhau. Đầu năm 1979, gia đình
tôi định cư tại Sydney. Gởi con cho gia đình người bạn mới quen,
chúng tôi vừa đi học Anh ngữ lớp đêm, vừa đi làm việc lao động
ban ngày mới đủ chi phí cho gia đình, để khỏi lãnh tiền trợ cấp
của chính phủ. Chúng tôi muốn tự lực cánh sinh. Đời sống lúc bấy
giờ trên đất Úc không dễ dàng như hiện giờ. Chúng tôi phải đối
phó với biết bao khó khăn trong một xã hội mới, ngôn ngữ, tập
tục mọi thứ đều xa lạ. Không như bây giờ, có cả một cộng đồng
người Việt, vùng Việt Nam, các dịch vụ của chính phủ, sự giúp đở
riêng của riêng Cộng Đồng người Việt, đài phát thanh sắc tộc…
Tôi thi vào và được học lại ngành Y ở Đại Học Y khoa Sydney vào
năm 1981.
Hôn
nhân, nếu được xây đắp bằng tình yêu, có lẽ sẽ bền vững hơn vì
cả hai sẽ dễ dàng tha thứ nhau, sẽ chín bỏ làm mười. Tôi không
có được cái diễm phúc đó! Sự khác biệt quá nhiều về cá tính và
quan điểm sống, cả hai càng lúc càng đồng sàng dị mộng nhiều
hơn. Để cứu vãn tình thế gia đình, tôi nghĩ tôi nên cho ra đời
một đứa con trai. Có con trai, hy vọng chồng tôi sẽ vui thích
hơn, sau khi đã được một cái hĩm. Hơn nữa tôi biết gia đình
chồng tôi quý con trai hơn con gái. Tôi còn nhớ sau ngày sinh bé
Thi, ba chồng tôi viết một lá thư chúc mừng và kèm theo một câu
mà tôi nhớ đời : “ Phải chi con sinh cháu trai thì quí hơn và
ba má sẽ xuống thăm.”. Lần có bầu thứ hai, đêm đó, tôi nói
với chồng: “ Nếu anh muốn có con trai thì ôm em đêm nay”
( bác sĩ mà lị). Thế là thằng con tôi ra đời trong lúc tôi vừa
xong năm thứ tư Y khoa đại học Sydney. Không muốn việc học dở
dang, tôi lại gởi hai đứa con cho chị Tư của tôi, cuối tuần mới
đón về chơi đôi chút. Thế là tôi lại không được làm mẹ cho đứa
con thứ hai của tôi!
Khi
“chén dĩa khua” khá thường xuyên, tôi quyết định dọn vào khu bác
sĩ nội trú ở bịnh viện miền Nam Sydney cho tâm hồn được yên tỉnh
hơn. Một đêm thật yên tỉnh , bỗng có tiếng gỏ cửa phòng và những
lời trần tình thảm thiết. Một phần vì ngại các bạn đồng nghiệp
kế bên nghe thấy, phần động lòng từ tâm, tôi mở cửa cho chồng
tôi vào biện bạch tiếp. Đó cũng là lần tôi giúp nhân số thế giới
gia tăng, con gái út của tôi được thành hình. Không biết phải số
trời hay không mà tôi không bao giờ được hưởng niềm hạnh phúc
cho con bú sữa mẹ. Lần sinh cuối, tôi rất thiết tha cho con bầu
sửa mẹ vì tôi có cơ hội, không phải xa con ngay sau khi sanh như
hai lần trước. Mỗi lần con bé bú, núm vú tôi bị đau như xé thịt
dù không bị sưng hay nhiễm trùng gì cả. Ước mơ thật giản dị mà
cũng khôngthể thự hiện được.
Năm
1987, tôi mở phòng mạch ở khu ngoại ô miền Tây Sydney. Tôi đã
bảo lãnh ba má tôi từ Việt Nam sang Úc được vài tháng trước đó.
Bấy giờ tôi đã là mẹ đơn chiếc của ba đứa con. Tôi làm việc mút
chỉ bảy ngày một tuần. Lúc đó chỉ có hai bác sĩ nữ Việt lo cho
cả mấy ngàn phụ nữ Việt ở Sydney. Sáng sớm tôi ra phòng mạch để
lo những ca tiểu giải phẩu, chiều tối phải đi khám bịnh tại nhà
cho những bịnh nhân không thiếu phương tiện xe cộ. Người Việt
mình lúc bấy giờ có rất ít người nói được tiếng Anh, và đa số
còn nghèo. Tôi làm việc như xả thân. Hai đưá con gái tôi, tóc
luôn được cắt ngắn, áo thun quần dài hoặc quần đùi cho gọn. Chỉ
khi mặc đồng phục là chúng trông giống con gái mà thôi. Tôi
không có thì giờ để chưng diện cho con. Hơn nữa tôi nghĩ bề
ngoài không quan trọng, miển sao các con tôi được chăm sóc tình
cảm, tinh thần và học hành tốt là đủ rồi. Ông ngoại có nhiệm vụ
đưa rước các cháu đi học ở một trường địa phương. Ba cháu đều đi
học gần nhà cho tiện, vì không ai khác trong gia đình có thể lái
xe đưa đón các cháu ở những trường chọn lọc dù tôi có đủ tài
chánh để làm chuyện nầy. Tối mịt, tôi về đến nhà thì các con tôi
đã được bà ngoại cho ăn uống và đi ngủ. Tôi yên tâm khi nghĩ ông
bà thương cháu hơn cả con ruột. Ngoài việc phòng mạch với bịnh
nhân, tôi bắt đầu tham gia vào cộng đồng người Việt với những
công tác văn hoá, văn nghệ, từ thiện…cảm thấy mình có trách
nhiệm đóng góp và giúp phát triển một cộng đồng di dân còn non
trẻ của người Việt tại Úc Châu. Tôi càng bận rộn hơn với bao
việc không tên.
Một lần ngồi chơi với con gái Út, tôi hỏi :
“ Con có thương má không?” Nó trả lời : “ Con thương
bà ngoại”. Tôi cố hỏi thêm: “Con cũng thương má phải
không?”Nó lập lại: “Con thương bà ngoại”. Choáng
váng, tôi xoay qua hỏi gằn con trai tôi : “ Má muốn biết
con có thương má không?” Nó ngập ngừng hồi lâu rồi trả
lời rất thành thật : “Để con suy nghĩ ” !!!! Tội nghiệp
các con tôi, không có cha lo cơm áo cho gia đình, mẹ phải
gánh gồng mọi thứ. Tuổi thơ đầu óc non nớt, đâu biết gì đến sự
cực khổ của mẹ vì mưu sinh. Chúng chỉ thương yêu người ngày đêm
bên cạnh chúng thì cũng là chuyện rất tự nhiên mà thôi. Tình mẫu
tử không còn rõ nét trong lòng chúng! Và cứ thế, đàn con tôi
quanh quẩn với ông bà ngoại, lớn lên theo thời gian.
Từ vài năm nay tôi làm việc ít lại vì phải lo
cho ba mẹ già đau ốm. Tôi có nhiều thì giờ hơn, mong được gần
con cái thì các con tôi đã trưởng thành, có đời sống và nhu cầu
riêng. Chúng không còn ở gần bên mẹ nữa! Hơn ba mươi năm, vì
hoàn cảnh giao thời, đơn chiếc làm trụ cột cho gia đình, đóng
góp đôi điều cho xã hội, dân tộc…Tôi đã bỏ mất một chức năng vô
cùng thiêng liêng: Chức năng làm mẹ hiền. Các con tiô và tôi đều
thiếu vắng tình mẫu tử.
Thỉnh thoảng, nhìn những cặp vợ chồng dẫn con
đi chơi trong công viên, bãi biển, các dịp hội hè. Nhìn các đứa
trẻ được mặc quần áo tươm tất, được cột tóc, thắt nơ.. Nhớ đến
ba đứa con tôi, không cha và giống như không mẹ, tôi chảy nước
mắt. Tội nghiệp con thật nhiều mà cũng tội nghiệp chính mình
không ít.
Khoảng thời gian gần đây, có phong trào gởi
con về Việt Nam cho thân nhân nuôi hộ, để cha mẹ rảnh tay, cả
hai cùng đi làm hầu tậu đươc nhà cửa, xe cộ, vật chất…Tôi đâm ra
lo sợ dùm cho họ. Rồi đây, một ngày nào đó, sẽ có những người
cảm thấy ray rứt như tôi.
Tôi
muốn nhắn nhủ với các đôi vợ chồng trẻ : Hãy ráng lèo lái hạnh
phúc gia đình để con cái được đầy đủ cha và mẹ. Hạnh phúc tìm
được đã khó, giữ gìn hạnh phúc được toàn vẹn càng khó hơn. Hởi
các bạn trẻ! Các bạn hãy tìm thời gian để được gần con khi chúng
còn nhỏ, tạo cơ hội để làm một người mẹ đúng nghĩa. Đừng
như tôi, thỉnh thoảng phải tự hỏi mình: Tôi thực sự có tình mẫu
tử hay không?
Lâm kim
Loan
Tháng Tư, 2007
Trở về Trang Chính
|