Người đàn bà sau khung rào hẹp


 

Lâm Kim Loan

24 tháng 05 năm 2007

 Kiểm lại lần chót túi hành lý cho chuyến đi ngày mai. Còn một khoảng nhỏ vừa đủ cho một quyển sách. Tôi chưa bao giờ háo hức về một chuyến đi xa như lần nầy. Không háo hức sao được? Lần đầu tiên đi thăm Hà Nội. Lại đúng vào dịp Tết. Tôi sẽ được nhìn Hà Nội tận mắt và được xem người ngoài ấy ăn Tết ra sao?

            Hà Nội, một cái tên thật quen. Như Sài gòn. Như Huế. Mà lại nghìn  trùng xa cách đối với tôi. Trước bảy mươi lăm. Cái đất nước hình chữ S, với vỉ tuyến mười bảy là ranh giới của sự thù nghịch, với hai ý thức hệ trái ngược. Thuở nhỏ, từ sách giáo khoa, những danh lam như Chùa Một Cột, Hồ Hoàn Kiếm, Văn Miếu...chỉ mơ hồ trong trí tưởng tượng của tôi. Khi vừa tròn mười tuổi thì cộng sản chiếm miền Nam. Và cho đến nay, gần nửa đời người, Hà Nội vẫn là một nơi quá xa vời đối với tôi. Công việc hằng ngày của tôi tại một xưởng in, chỉ vừa đủ để trang trải áo cơm. Một lần tình cờ tâm tình với ông bạn bắc kỳ năm mươi tư làm cùng sở về ước mơ của tôi. Ông sáng mắt lên bảo:

-Tưởng gì khó, tớ có thể giúp cậu được. Tớ có người cô họ ngoài ấy. Cậu có thể đến ở nhờ. Chỉ cần lo vé tàu hoả và tí tiền tiêu vặt.

 Vâng, chỉ vé xe lửa và tiền chi tiêu dù dè xẻn, nhưng tôi sẽ phải lựa chọn. Hoặc sẽ dùng số tiền dành dụm từ bao năm nay để mua một chiếc xe gắn máy mà tôi đã thèm thuồng từ lâu. Hay sẽ tiếp tục còng lưng trên chiếc xe đạp củ rích thêm vài năm nữa, để thực hiện một lần ra Bắc? Cuối cùng, tôi quyết định gắn bó với chiếc xe đạp "đồ cổ" của tôi. Tôi sẽ đươc đặt chân lên những phố Hàng và sẽ chụp một số ảnh kỷ niệm cho lần đi, có thể là duy nhất trong đời.

            Sau hai ngày một đêm xuyên suốt từ Nam ra Bắc. Cuối cùng tôi đã đến nhà người cô họ của bạn tôi, một căn gác nhỏ ở phố hàng Hành vào chạng vạng tối. Ra ban công hóng mát. Tôi để ý ngay cái ban công bên cạnh, đươc rào tận nóc bằng một loại kẻm ô hình thoi. Một cảm giác ngộp ngạt khó diễn tả. Có cái gì không được bình thường bên trong khung rào đó? Tôi nghĩ vậy, nhưng chưa tiện nói ra thắc mắc của mình. Dù sao tôi cũng là một người khách lạ.

            Tôi đi rảo một vòng hồ Hoàn Kiếm. Cái hồ ở ngay giữa thành phố tạo một nét thơ mộng và một cảm giác thư giản vô cùng. Giữa hồ là tháp Rùa được thắp đèn rất sáng,  ánh đèn chiếu xuống mặt hồ càng làm tăng vẻ tráng lệ của Hà Nội về đêm. Xung quanh hồ là công viên, với hàng liễu rũ là đà mặt nước và lối mòn vòng quanh để du khách hay dân chúng đi bách bộ. Có nhiều người đang ngồi trên ghế đá, từng đôi hay một mình cũng có. Họ chỉ hóng mát, hay đang tận hưởng hương vị tình yêu thoang thoảng qua những cánh tay choàng, những bàn tay nắm. Hoặc một mình, suy tư về đời sống hay đang đối mặt với cô đơn của chính họ? Tôi thả bộ qua các phố Hàng. Hà Nội cũng đông đúc nhưng thua xa Sài Gòn dù là đêm ba mươi Tết...

            Buổi tối về nhà, vừa mở cánh cửa ra lan can định nhìn xuống đường phố. Thình lình tôi nghe một giọng nữ ngâm nga thật êm đềm, vang lên từ phía ban công rào khóa. Những câu thơ tình của Xuân Diệu, Huy Cận . Rời đến giọng ru con miền Bắc... Tiếp theo là tiếng khóc. Tiếng khóc thật nức nở bi ai, lẫn với tiếng nấc nghẹn ngào như thương tiếc cho một mất mát to lớn nào đó vừa mới xảy ra. Tôi nhìn qua, nhưng không thấy được gì ngoài cái bóng tối dày đặc của đêm đen. Mệt mõi sau hai ngày hành trình dài, tôi ngủ thiếp lúc nào không hay...

            Tôi có thói quen dậy sớm. Cái quán cà phê bên kia đường cũng vừa mở cửa. Tôi là người khách đầu tiên trong ngày.

‘Anh uống gì ạ?’. Có lẽ là bà chủ quán, hỏi chào tôi bằng một giọng rất ngọt ngào.

Ông bạn di cư của tôi, giọng không đặc sệt và dễ thương như thế.

-Bác cho tôi một ly cà phê sửa.

Bà nhìn tôi mĩm cười, quay mặt vào trong và gọi lớn:

- Cho một nâu nóng con ơi.

Trời ơi, đặt hàng mà như hát. Tôi mĩm cười thích thú, như một khám phá đầu tiên về giọng Hà Nội chính tông.

Rồi quay sang tôi:

-Anh mới từ Sài Gòn ra à?

Bà nhận ngay ra tôi là người miền Nam, ngay từ giọng nói cho đến cách dùng từ ngữ địa phương.

Tôi mĩm cười gật đầu thay cho câu trả lời. Châm ngay điếu thuốc đầu ngày, rít một hơi dài cho đầy phổi. Có lẽ bà nghĩ tôi không muốn nói nhiều vào ngày đầu năm  nên rút vào trong. Cái bản tính ít nói của tôi từ nhỏ đã được ba tôi kêu án: con lớn lên chắc ế vợ! Tôi lại chỉ cười trừ. Có lẽ vì tôi đã cô đơn từ nhỏ. Mẹ mất sớm, tôi sống một mình với cha trong cảnh cha chiếc con côi. Cha tôi phải lăn lóc với áo cơm từ sáng. Chiếc xe ba bánh là phương tiện mưu sinh. Ngày ngày cha tôi đạp rảo khắp đường lớn ngỏ nhỏ, với tiếng rao ‘ve chai sách báo cũ bán không’. Người ta sẽ bán cân ký cho cha  tôi. Chiều chiều đi học về, việc của tôi là lựa chai xanh keo trắng sắp ra riêng biệt. Sách báo khổ lớn nhỏ sắp ra và cột lại thành từng bó. Cha tôi sẽ đi giao lại cho một nơi mua sỉ nào đó. Vừa xếp sách báo, tôi vừa lật xem cho qua thì giờ nhàn rổi. Vốn liếng chữ nghĩa tôi góp nhặt từ những đống sách báo cũ nầy còn nhiều hơn là tôi học được từ trường. Và từ đó, tôi lớn lên trong môi trường đa từ vô ngôn ấy. Tôi tìm vui từ những câu thơ đoạn văn ngắn dài trong các chồng sách báo cũ, và xem đó như người bạn thuỷ chung như nhất...

             Tôi nhìn ra đường, quan sát dãy phố hàng Hành trước mặt. Nhìn lên căn phố với chiếc ban công rào cao. Một tàng cây ve ra với lá nhỏ li ti xanh mượt, che khuất một phần của căn phố ấy, càng làm khung trời của nó bị thu hẹp hơn. Một người đàn bà tóc dài đứng sau ban công rào kẻm từ bao giờ. Nàng quay mặt ra đường, hai khuỷu tay áp sát hông, hai bàn tay quay những vòng tròn ly tâm đều đặn. Tôi không thấy được ánh nhìn cũa nàng vì nhánh cây che khuất, nhưng nét mặt hình như xấp xỉ ba mươi. Nàng đứng một chổ và quay đều tay. Khoảng năm phút sau, nàng ngưng quay tay, rồi bắt đầu đi tới lui trong khoảng không gian hẹp ấy. Vài phút trôi qua, nàng lại với hai cánh tay quay tròn trong cùng một tư thế cũ. Không còn chối cải gì nữa. Người đàn bà nầy không được bình thường. Cái hàng kẻm rào. Những lời ngâm nga giữa đêm, tiếng khóc, cử động của nàng...cho tôi cái kết luận nầy. Giữa buổi sáng đầu năm tinh sương êm ả, tôi cảm thấy buồn buồn với hình ảnh đang xảy ra trước mắt.

Tiếng nói bà chủ quán bỗng vang lên:

-Cô ấy xinh nhất phố đấy!

Thì ra bà đã theo dỏi ánh nhìn của tôi về hướng người đàn bà bên kia ban công.

-Tội nghiệp, cả chồng và con đều bị chết thảm cùng một lúc, cô ấy chịu không nổi nên   phát điên, hơn bốn năm rồi. Từ đó đến nay, cô chưa bao giờ bước ra khỏi nhà cả. Tôi cũng mất chồng trong chiến tranh, may còn lại cháu nên cũng được an ủi.

 Tôi chỉ buông hai tiếng ‘Vậy à’ gọn lỏn rồi nhờ bà tính tiền. Bà nhìn tôi bằng ánh mắt vừa ngạc nhiên, vừa trách móc khi không thấy tôi tò mò hỏi thêm gì nữa. Có thể bà nghĩ tôi là một gả đàn ông vô tình hay lạnh lùng thượng hạng. Tôi không phân bua hay đính chánh. Tôi không cần nói cho bà biết trong đầu tôi đã có rất nhiều câu hỏi về người thiếu phụ nầy từ tối hôm qua. Tôi bước ra khỏi quán và rảo bước như một kẻ vô tích sự.

            Sáng sớm mồng Một Têt trên đường đã bắt đầu đông người. Họ đi từng tốp ba bốn người, áo quần mới rất chỉnh tề. Nhiều nhà để hé cửa. Đa số đều có cây mía dựng kế bên bàn thờ. Sau nầy tôi mới biết, đó là sự cầu mong và niềm tin về năm mới của người Hà Nội. Mọi việc sẽ ngọt ngào, vươn nhanh và đầy sức sống như mía. Cũng tương tự, người miền Nam chọn những trái cây như mảng cầu, đu đủ chưng trên bàn thờ vào dịp Tết với ước mơ: chỉ cầu cho năm mới được đủ ăn.Ứớc mơ của họ thật đơn giản. Cầu đủ, không cầu dư. Gẩm lại ở xã hội Việt Nam hiện nay, có đủ ăn cũng là một điều hiếm hoi may mắn lắm rồi của đa số dân đen. Cái việc đầu tiên của tôi là thuê một xe gắn máy, mua một bản đồ Hà Nội để bắt đầu cho cuộc săn ảnh tài tử hôm nay. Tôi chọn Phủ Tây Hồ, Văn Miếu, còn dư thì giờ nữa sẽ tính sau...

            Chiều mùng một Tết, tôi về nhà sớm. Đường phố cũng đã thưa người. Chắc mọi người đang quây quần bên mâm cơm gia đình đầu năm? Tôi chào người cô họ tốt bụng của bạn tôi. Bà ở tuổi lục tuần. Tuy có tuổi, nhưng ở bà tỏa ra một phong thái qúy phái và trông rất nghệ sĩ.  Câu chúc mọi điều may mắn nghe thật nhàm. Trong lời chúc đó, tôi thầm chúc bà gặp được tri âm tri kỷ. Một điều mà tôi không biết, bà có thật sự còn cảm thấy cần thiết không? Hay qua bao nhiêu năm, bà đã quen và chọn sống đời góa bụa? Tôi biết sơ chuyện của bà qua ông bạn lắm lời, chứ tôi không dám hở môi hỏi bà một câu hỏi cá nhân nào. Tôi không muốn khơi lại một vết thương, có thể đã một thời mưng mủ nhức nhối dữ dội. Hoặc là loại vết thương đã trở thành mản tính, rêm nhức triền miên và không bao giờ hồi phục trọn vẹn. Đời sống hàng ngày chung quanh tôi rõ ràng là buồn nhiều hơn vui. Sống ở một nước nhược tiểu. Thêm chiến tranh dập vùi cả thế kỷ. Thời hậu chiến cũng chẳng hay ho, may mắn gì hơn được bao nhiêu! Bà chúc tôi lại vài câu, hỏi tôi vài điều về cuộc du xuân hôm nay rồi rút ra nhà sau. Nhờ thế tôi cũng không phải nặn óc để tìm thêm điều gì phải nói.

            Bước ra ban công, tôi nhìn ngay qua nhà bên một cách tọc mạch. Gặp ngay hai người đàn bà. Một ngồi, một đứng. Nàng ngồi trên chiếc ghế đẩu, một người đàn bà khá già đang lặng lẽ chải tóc cho nàng. Có lẽ là mẹ nàng. Phải là người mẹ với tình thương tuyệt vời và sự chịu đựng tuyệt hảo, mới có thể tiếp tục nâng niu và chăm sóc đứa con điên của mình ngày lại ngày qua một cách tỉ mỉ đến thế! Nàng gầy ốm với nước da trắng xanh. Đôi mắt đen nháy dưới hàng lông mày hơi rậm, làm nổi bật nét mặt vừa thanh tú vừa thông minh. Khi bắt gặp ánh mắt tôi thì nàng xoay ngang nơi khác. ‘ Vậy nàng không điên à?’ Tôi đánh thót. Nàng vẫn còn vẽ thẹn thùng trước một người đàn ông lạ. Mẹ nàng cũng vừa kịp nhìn thấy tôi. Sự khám phá mới mẻ về tình trạng tâm thần của nàng khiến tôi phấn khởi. Tôi bạo gan làm quen:

Chào bác, chào cô. Chúc bác và cô năm mới mọi sự lành. Hôm nay trời rất đẹp, bác và cô đã đi hái lộc đầu năm chưa?

Cái động lực Muốn- tìm- biết- sự- thật đã làm cho ‘ cóc mở miệng’.

-Cám ơn cậu, chưa ạ. Ngày mai tôi mới đi cơ.

-Cả hai cùng đi chớ?

Người đàn bà đứng tuổi lúng túng nhìn cô gái:

-Chỉ một mình tôi thôi.

Bà quay mặt nơi khác. Có phải để dấu một tiếng thở dài?

Cô gái đứng dậy, tất tả đi vào trong. Sự tò mò muốn tìm hiểu về sự bí ẩn của cô ‘hàng xóm’ làm tôi càng mạnh dạn hơn. Tôi không muốn bỏ lỡ một cơ hội bằng vàng nên bắt đầu gợi chuyện:

-Đây là lần đầu tiên cháu ra Hà Nội. Cháu rất thích phong cảnh hữu tình ở đây.

-Vâng, thưa cậu. Chúc cậu vui.

Rồi bà cũng vội vã lẩn vào trong. Lại là mẫu người kín đáo.

Tôi xuống lầu, bước nhanh qua cái quán đối diện. Hy vọng chỉ có bà chủ quán nhanh nhẩu nầy mới có thể cho tôi thêm nhiều dữ kiện về những nhân vật đằng sau khung rào kia. Đầu năm quán không đông lắm. Cũng may cho tôi. Bà vẫn tiếp đón tôi bằng nụ cười thân thiện. Tôi gọi một gói ba số, một ‘nâu  nóng’ và bắt đầu khơi chuyện...

            Những tiếng gào thét bất kể ngày đêm của Thu Hà, khoảng một năm từ sau ngày chồng và đứa con ba tuổi duy nhất tử nạn trong một tai nạn xe đò. Hai cha con về Thanh Hóa thăm gia đình nội. Lúc đó cô bận đi công tác cho ban thông tin văn hóa. Cái khung rào được giăng cao sau một lần cô nhảy lầu tự tử, may mắn cô chỉ bị gẩy tay. Từ đó cô không bao giờ ra khỏi nhà. Cô thường ca hát hay khóc rấm rức bất kể ngày đêm. Đi tới lui hàng giờ trong khung ban công hẹp với những động tác kỳ lạ...Là những lý do làm mọi người nghĩ cô bị giao động đến trở thành điên loạn. Ngoại trừ tôi, một người khách từ phương xa đến và kết luận là cô không điên. Ánh mắt của cô, sự e lệ lảng tránh ánh nhìn của một người đàn ông lạ, làm tôi quả quyết điều nầy.

            Sáng mùng hai Tết trời bỗng trở lạnh bất ngờ. Tôi ngồi ăn sáng với bác Huy, cô người bạn. Bánh chưng, dưa hành, giò thủ... đầy hương vị ngày Tết. Hơn ba mươi tuổi, lần đầu, bao quanh ý nghĩ tôi lá bốn người đàn bà ‘hàng xóm bất đắc dỉ’ với bốn mảnh đởi nhiều rủi hơn may, xuất hiện cùng một lúc. Bác Huy; Thu Hà; mẹ cô, bà Hạnh; và bà chủ quán tên Mai. Bác Huy bắt đầu hé chút đời tư của bác: chồng và đứa con trai duy nhất của bác bị chết trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Bác được cấp dưỡng theo diện gia đình liệt sĩ. Đưá con gái theo chồng vào Nam làm công chức cho một công sở; hai năm về thăm bác một lần. Năm ngoái họ đã về. Bác cảm ơn sự có mặt của tôi, đã làm cho bác phần nào bớt cãm thấy cô đơn trong những ngày đầu năm. Bà Hạnh thì chồng chết đã lâu, ông mất trong cuộc chiến chống Pháp và cô con gái duy nhất không may lại bị điên. Chiến tranh đã cướp đi biết bao sinh mạng vô tội. Để lại những thân xác cùng những tâm tình què quặt. Người chết kẻ sống. Những thương tiếc không nguôi. Những con người hiền lành vô tội đó, bỗng một ngày, bị cột dính vào những mắt xích định mệnh, quay lăn theo số phận của đất nước. Cái số phận bi thảm được quyết định bởi quyền lực nào đó. Thứ quyền lực đủ tối thượng để có thể xô hàng loạt tuổi trẻ mắt nai vào cuộc chiến dằng dai khốc liệt. Vào tử địa...Một cái tội tày trời mà lâu lắm, hoặc có thể không bao giờ bị đem ra xử án để đền tội. Tôi chào bác Huy và lang thang ra đường.

 Sáng nay Hà nội có mưa phùn. Loại mưa nhỏ hạt như sương, lất phất đủ ướt đường nhưng không đủ ướt mặt ướt vai. Tôi ngửa mặt hưởng cái cảm giác lành lạnh vương vải trên mặt một cách thích thú. Tôi nghĩ đến ba tôi. Không biết giờ nầy ông đang làm gì? Bàn thờ của mẹ tôi chắc vẫn được ông trưng bày thịnh soạn dù bao nhiêu cái Tết đã qua.Tôi nhớ mỗi chiều về, trước khi hai cha con lên mâm cơm, ông đều đến gần bàn thờ mẹ tôi và thì thầm đôi lời gì đó. Tôi chợt nghiệm ra một điều: có những người cố tình gắn chặt phần đời còn lại của họ với quá khứ đầy ấp kỷ niệm. Họ chỉ còn ăn, thở, và đi bên lề của cuộc sống đời thường. Và cứ như thế họ khép kín, thu mình trong một lớp vỏ rào rất biệt lập, gần như lập dị. Có lẽ phải cần một biến cố tình cảm to lớn khác, mới có thể đem họ ra khỏi lớp vỏ rào kiên cố đó. Điều nầy đang xảy ra nhan nhản cho những người chung quanh tôi. Với ý nghĩ nầy tôi rảo bước về nhà...

            Chưa bao giờ tôi hối hả như hôm nay. Phóng từng hai bậc thang lên lầu nhà bác Huy, ra ban công, mong gặp được Thu Hà. Cũng may Hà đang ngồi trên ghế bên lầu nàng. Tôi nhanh miệng vì sợ cô lại trốn mất:

-Cô Thu Hà, tôi xin phép được nói chuyện với cô’. Tôi lập lại ‘Tôi rất muốn nói chuyện với cô một chút, cô Thu Hà.

Tôi lập lại tên cô một cách cố tình.

Cô gái trố mắt nhìn tôi, rồi quay sang nơi khác. Một khoảng yên lặng. Cô xoay lại và hỏi bằng một giọng nhát gừng:

-Sao anh biết tên tôi?

Tôi mừng khấp khởi, không trả lời thẳng.

-Tên cô cho tôi hình dung mùa thu đầy màu sắc của một Hà Nội nên thơ.

-Vâng, tôi thích nhất mùa Thu với lá vàng và gió heo may. Mà sao anh biết tên tôi? Cô thắc mắc hỏi lại.

Tôi nói tránh:

-Có một bài hát về mùa thu rất tượng hình. Em nghe không mùa thu,lá thu rơi xào xạc, con nai vàng ngơ ngác,đạp trên lá vàng khô.

-Vâng, tôi nhớ rõ lắm chứ. Bài tiếng thu của Lưu Trọng Lư.

Tôi nhủ thầm: vậy là trí nhớ cô ta còn tốt hơn mình nữa.

Chợt nhớ tới những cử động lạ kỳ của Thu Hà vào mỗi sáng. Tôi kiểm lại:

-Buổi sáng cô quay vòng tay rất đều và đẹp, cô chỉ tôi với.

Cô đổi sắc buồn:

-Tôi nghĩ điều đó không hợp với anh đâu.

-Chỉ là cách quay tay thôi mà. Tôi chống chế.

Hà nhìn thẳng khoảng không trước mặt một cách nghiêm trọng:

-Hai vòng tròn đó tượng trưng cho chồng và con tôi. Tôi bắt đầu một ngày bằng sự có mặt của họ bên cạnh tôi.

Tôi cảm thấy rởn óc. Thì ra là thế. Tôi tự nhủ, và cảm thấy mình hố to. Tôi tìm cách đổi đề tài:

-Cô có từng vào Nam chưa? Tôi có thể kể rất nhiều điều về miền Nam cho cô biết.

Hà do dự một hồi rồi gật đầu:

-Chưa bao giờ. Anh kể thử xem.

Và cứ thế tôi tạo sự tò mò, kích thích óc hiếu kỳ của Thu Hà về miền Nam của tôi. Từ cảnh miền Tây sông nước ruộng lúa trù phú. Đến những câu hò tình tự dân quê. Rồi chuyện cổ tích Nam Bộ... Cứ thế tôi bắt đầu kể... rồi ngưng nửa chừng như chuyện một ngàn lẻ một đêm.

            Ngày hai lần, sau buổi cơm. Thu Hà chờ sẳn ngoài ban công, mong nghe tiếp những câu chuyện dí dỏm mà tôi luôn bỏ dở nửa chừng một cách cố ý, và hẹn kể tiếp vào lần tới. Tôi đã không còn bỏ nhiều thì giờ đi tham  quan hay săn ảnh nữa. Tôi cố nhớ lại những mẫu chuyện trong đống sách báo cũ ngày xưa. Đêm đêm tiếng khóc của Hà thưa dần.Thỉnh thoảng, thay vào đó là tiếng cười khúc khích. Có thể cô nhớ lại những mẫu chuyện tiếu lâm tôi đã kể trong ngày.

            Ngày mai là ngày cuối tôi ở Hà Nội. Một tuần trôi qua thật nhanh. Bác Huy, cô Mai đều biết những gì tôi cố giúp Thu Hà. Họ rất vui và tán đồng. Bác Hạnh, mẹ Hà cũng nhìn tôi bằng cặp mắt đầy biết ơn. Chiều hôm đó, tôi sửa soạn hành lý và ra ban công để từ biệt Hà. Mắt Hà buồn xa thẳm. Hà có vẻ ngập ngừng một chút rồi nói:

-Tối nay anh có muốn đi dạo bờ hồ với Hà không?

Một đề nghị làm tôi vừa mừng rở vừa chới với. Tôi gật đầu lia lịa không cần suy nghĩ. Như một phép mầu, người đàn bà nầy đã tự cởi trói mình ra khỏi khung lầu hẹp. Đã bước ra khỏi sự thương tiếc lâu dài để có thể bắt đầu bình thường hóa phần đời còn lại của mình.

            Đã hơn một tuần trở lại làm việc sau một chuyến du lịch kỳ thú. Lòng tôi vẫn còn lâng lâng rộn ràng. Tôi có cảm giác như mình vẫn còn ở Hà Nội. Tôi hình dung cái lưới rào của nhà Hà đã được cuốn bỏ. Gương mặt Hà rạng rở ra sao với mỗi sáng tự gương lược và đi xuống phố cùng mẹ. Những người của phố hàng Hành như tươi hẳn ra và ai cũng xúm lại chào nàng... Vâng, Thu Hà đã kể cho tôi nghe như thế trong lá thư đầu tay  nàng gởi cho tôi. Tôi phóng xe xuống đường như mọi khi. Hôm nay chiếc xe củ kỷ của tôi như có thêm thần lực. Nó chạy phăng phăng như một chiếc xe gắn máy mới. Ghé bưu điện để gởi lá thư đầu tiên cho Thu Hà, Tôi nghĩ đến chuyện tiếp tục dành dụm. Không phải để mua một chiếc xe gắn máy mới, mà chắc chắn sẽ là một chuyến thăm Hà Nội thứ hai. Tôi biết, có ai đang chờ tôi ở ngoài ấy.

 

                                                                                              Lâm Kim Loan

 

Trở về Trang Chính