Tuổi già chúng ta


 

Lâm Văn Bé

E-Mail: lamvanbe@khoahoc.net

15 tháng 05 năm 2008

Khi xưa, Nguyễn Công Trứ lúc 73 tuổi cưới người vợ lẻ thứ mười. Trong đêm tân hôn người vợ thỏ thẻ :

                        Tân nhân dục vấn  Lang niên kỷ?  Nàng muốn hỏi anh bao nhiêu tuổi ?

Nguyễn Công Trứ dí dỏm trả lời :

                        Ngũ thập niên tiền nhị thập tam  -    Năm mươi năm trước mới hăm ba

 

Tết năm nay, vợ một người  Việt di tản hỏi chồng :

                      Năm nay anh bao nhiêu tuổi?

Chàng trả lời : Ba mươi hai năm trước anh ba mươi lăm.

Cả hai đồng buột miệng, chúng ta đã già rồi !!

 

Bao nhiêu tuổi gọi là già ?

Cho đến nay, đa số các quốc gia kỹ nghệ ấn định 65 tuổi là tuổi già. Một số nhà lão học (gérontologue), căn cứ vào tình trạng y tế và sinh hoạt kinh tế của con người lại phân chia  thêm trong số tuổi già có ba cấp bậc : tuổi thứ ba (troisième âge) gồm những người từ 65 đến 74 tuổi, tuổi thứ tư (quatrième âge) gồm những người từ 75 đến 84 tuổi và tuổi thứ năm (cinquième âge),  những người từ 85 tuổi trở lên. Đa số người tuổi già thứ ba còn có sức khoẻ tốt, sinh hoạt kinh tế bán thời nhưng từ tuổi thứ tư những triệu chứng bịnh tật, ốm yếu xuất hiện và trầm trọng ở tuổi thứ năm (Helen Bee. Les âges de la vie. 2è éd. Montréal : ERPI, 2003, p.413)

 

Cái con số khắc nghiệt 65 tuổi qui định một cách máy móc  như trên thực ra dựa vào một yếu tố lich sử. Người ta thường gán ghép tuổi già với tuổi hưu trí. Năm 1889, thủ tướng Đế Chế Đức là Otto von Bismarck thiết lập lần đầu tiên chế độ hưu bổng bằng cách ấn định tuổi về hưu là 65 tuổi [1]. Cần lưu ý là  vào thời nầy rất ít người sống đến tuổi 65 bởi tuổi thọ trung bình của người  Đức lúc ấy chỉ có 37 tuổi. Tuổi về hưu của dân Đức năm  1884  đã được thế giới áp dụng  từ lúc ấy đến nay dù rằng tuổi thọ của người dân càng lúc càng dài thêm. Để tận dụng tối đa sức lao động của con người, Bismarck đã đưa tuổi về hưu đến một  tuổi  mà ít có người dân Đức còn sống được, trong khi thế giới cận đại, khoa học đã giúp con người sống lâu hơn và hưởng thụ nhiều hơn. ( [1]: Theo sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 tại Cộng Hòa Liên Bang Đức)

 

Tuổi già hôm nay do đó không được tính  bằng  số năm sau ngày sanh, mà  bằng số năm trước ngày tử, tính từ tuổi 65

Theo Viện Thống Kê Québec, một người dân Québécois 65 tuổi  có thể sống thêm 15,5 năm (nam) hay 20 năm (nữ) nữa. Tuy nhiên, trong quảng đời « sống thêm » nầy, phân nửa thời gian đầu, người già có sức khoẻ bình thường, nhưng phân nửa thời gian sau, người già bắt đầu suy yếu, bất lực nhẹ, và đến những năm cuối cùng người già bất  lực nhiều hay mang nhiều tật bịnh.

 

            Bảng 1 : Tuổi thọ người Québécois sau 65 tuổi

 

Nam

8,4 năm                3 năm                 4,1 năm   

thêm 15,5 năm sau 65 tuổi

Nữ

9,5 năm                3,7 năm              6,8 năm

thêm 20 năm sau 65 tuổi

            Chú thích : trạng thái sức khỏe

        bình thường         bất lực nhẹ            bất lực trung bình hay nặng

            ( Source :Un portrait de la santé des Québécois de 65 ans et plus. Québec : Institut    national de santé publique du Québec, 2003, p.2-3).

 

Một cách cụ thể, chúng ta có thể « ước định » tuổi thọ của chúng ta dựa vào bảng xác xuất sau đây căn cứ vào sự ước lượng của một chuyên viên tài chánh của Banque Nationale dựa vào Statistique Canada.

 

              Bảng 2 : Sác xuất tuổi thọ của người Québécois

 

 

Nam

 

Sác xuất sống đến tuổi nầy

 

Tuổi hiện tại

80 tuổi

85 tuổi

90 tuổi

95 tuổi

100 tuổi

 

60 tuổi

56%

39%

22%

9%

2%

65 tuổi

60%

41%

24%

10%

3%

70 tuổi

67%

46%

26%

11%

3%

 

Nữ

 

 

60 tuổi

75%

61%

44%

27%

12%

65 tuổi

77%

63%

46%

28%

12%

70 tuổi

81%

66%

48%

29%

13%

            Source : Daniel Laverdière. Planification financière, Banque Nationale-Statistique Canada,  citée par La Presse Affaires, 21 octobre 2007, p. 3

 

Những bảng thống kê trên, tuy phát xuất từ các cơ quan nghiên cứu ở Canada, và  đối tượng nghiên cứu là người Canadiens, nhưng bởi lẽ tình trạng y học và đời sống kinh tế xã hội tại các nước Tây Phương và Bắc Mỹ tương đối giống nhau, những kết quả nầy vẫn có thể có một giá trị phổ quát tại các quốc gia nầy.

 

Viết về tuổi già người Việt, chúng ta không thể không đề cập đến tuổi già của người dân bản địa, bởi lẽ ngoài đặc tính nhân chủng riêng biệt của chúng ta, cuộc sống hội nhập đã buộc chúng ta sống với nền văn hóa và các định chế của quốc gia nầy. Dù muốn, dù không, tâm tình và tâm tính của chúng ta đã phần nào biến đổi để thích nghi với môi trường sống mới.

 

Viết về tuổi già người Việt, chúng ta cũng không thế nào thấu hiểu hết các trạng huống  của người Việt, bởi lẽ ngoài cái đời sống phong phú nhưng dị biệt của từng người, lịch sử di dân của chúng ta là lịch sử của những mãnh đời. Nói đến cái nhận định tổng quát chưa hẳn đúng với từng hoàn cảnh riêng, và nói đến phương thức chung có thể chỉ là lời nói gió thoảng mây bay, chẳng ứng dụng gì được cho mọi  trường hợp.

 

Với những nhận định trên, bài viết không phải là một nghiên cứu xã hội khoa học, càng không phải là mô hình cho tuổi già mà chỉ là góp nhặt đó đây  những  mẫu tin vắn hay dài để chúng ta cùng tản mạn về tuổi già của chúng ta.

 

Những băn khoăn của tuổi già

Một tuổi già bình an, hạnh phúc là một tuổi già không bị stress. Các nhà nghiên cứu về lão học  nhận định có ba loại căng thẳng thần kinh (stress) mà tuổi già thường gặp.

 

1- Không như Hồ Xuân Hương khi xưa lúc 40 tuổi đã thảng thốt : Cái già xồng xộc nó thì theo sau  hay như Nguyễn Khuyến lúc 50 tuổi đã than van : Hàm răng chiếc rụng chiếc lung lay, chúng ta bắt đầu cảm thấy già khi những dấu hiệu sinh học bắt đầu suy thoái, thường từ tuổi 60. Chúng ta chậm chạp hơn, hay quên, nghe thấy ít rõ hơn và  như Trịnh Công Sơn đã khéo mô tả :

Chợt một chiều tóc trắng như vôi  (Cát bụi). Biến thoái sinh học trong cơ thể làm chúng ta đôi khi hốt  hoảng khi chúng ta lâm vào một tật bịnh, tuy chúng ta hiểu rằng y học cận đại và điều kiện an sinh  giúp chúng ta trong nhiều trường hợp thoát khỏi hiểm nguy.

Sức khỏe như vậy là mối băn khoăn hàng đầu của tuổi già chúng ta.

Sống lâu và sống bình an là niềm hạnh phúc, nhưng ai cho ta cái diễm phúc nầy. Tuy tôn giáo và đức tin ủy thác cho định mệnh, nhưng y học và cách sống của chúng ta chính là những yếu tố giúp chúng ta sống lâu và sống khỏe. Tuy chúng ta vẫn tin các lý thuyết  trước đây về  bản chất di truyền liên hệ đến tuổi thọ và một số bịnh tật, nhưng những khám phá mới nhất về gènes đã xác quyết giá trị tương đối của lý thuyết nầy.

 

James W. Vaupel. Giám đốc Laboratory of Survival and Longevity thuộc Viện Nghiên Cứu Max Planck for Demographic Research ở Rostock (Đức) đã tuyên bố như sau : Chiều cao của con người  tùy thuộc đến 80 - 90%  chiều cao của cha mẹ, nhưng tuổi thọ của cha mẹ  chỉ có khoảng 3% ảnh hưởng đến tuổi thọ của chúng ta.

Và ngay cho những căn bịnh có bản chất di truyền như cancer, tiểu đường, bác sĩ Paul Lichteinstein và các đồng nghiệp của ông ở Karolinska Institute ở Stockholm, sau khi phân tích tỉ lệ cancer trên 44 788 người sinh đôi cho thấy chỉ có cancer vú, prostate và colorectal là có yếu tố di truyền, nhưng không lắm quan trọng.

Để kết luận, con người có thể quyết định được tuổi thọ bằng cách sống (mode de vie) và hai yếu tố giúp cho  tuổi già là sự dinh dưỡng và thể dục.

(Le mystère de la longévité, dans Le Devoir, 18 novembre 2006, p. A1)

 

Theo cuộc điều tra  y tế năm 2001, người dân ở Québec từ 65 tuổi  mang các tật bịnh sau đây :  Huyết áp cao: 37%; Viêm khớp xương ( Arthrite ou rhumatisme): 35% ; bịnh tim : 20%; tiểu đường : 13%; bịnh về tuyến giáp (thyroïde) : 12%; bịnh suyễn : 8%; bịnh đường tiểu, viêm phế quản : 7%; dị ứng thực phẩm : 6%; tăng nhãn áp (glaucome) : 5%; cancer : 4%.

Ngoài ra, bịnh mất trí nhớ (maladie d’Alzheimer)  của người già cao niên là một vấn đề trọng đại cho xã hội  trong những thập niên sắp đến. Năm 2001, Québec với một dân số 8 triệu người  đã có 85 050 người mắc bịnh nầy, và đến năm 2006 tỉ lệ người già bị mất trí  nhớ tăng thêm 8,5% so với 5 năm trước và ước lượng có độ 300 000 người vào năm 2050.

 

Tuy tuổi già của chúng ta mang những tật bịnh như những người dân bản địa, nhưng các thống kê y tế lại báo động một số tật bịnh đặc biệt đối với người da vàng để chúng ta sớm phòng bị :  đó là bịnh tiểu đường và cao máu là hai bịnh có thể tạo nên nhiều biến trạng nguy hiểm

( Source : Un portrait de la santé des Québécois de 65 ans et plus. Québec : Institut national de santé publique, 2003, p.9)

 

So với người dân bản địa, người già dân nhập cư, nói chung có sức khỏe kém hơn người già dân bản địa.

 

Bảng 3 : Tình trạng sức khỏe của người già nhập cư so với người già dân bản địa Canada (2003) – tính theo tỉ lệ

 

Già nhập cư

Già bản địa

Nhận xét

 

Những tật bịnh

- Viêm khớp xương

- Đau lưng

- Bịnh tim

- Bịnh tuyến giáp

- Tiểu đường

- Cataracte

 

 

 

36,1

19,3

13,1

  8,9

15,2

24,9

 

 

 

 

 

47,8

23,7

20,7

13,9

13,6

20,8

 

 

 

Người già nhập cư ít bịnh về xương, đau lưng, bịnh tim, nhưng bịnh nhiều về tiểu đường và cataracte

Số lần viếng bác sĩ trong một năm

- 0 lần

- 1-2 lần

- 3-5 lần

- 6-11 lần

- 12 lần và hơn

 

 

6

17,4

35,7

23,7

17,1

 

 

10

27,6

31,3

18

13,2

 

Số lần viếng bác sĩ của người già dân nhập cư nhiều hơn dân bản địa tăng gia theo số lần, như vậy người già dân nhập cư bịnh nhiều và nặng hơn dân bản địa

Nhận định cá nhân về tình trạng sức khoẻ

- Rất tốt/Tốt

- Trung bình

- Kém

 

 

28,1

40,6

31,3

 

 

38,1

36,8

25,1

 

28% người già nhập cư nhận định rằng sức khỏe rất tốt so với 38% người già bản địa, và ngược lại 31% người nhập cư cho là sức khỏe kém so với 25% dân bản địa

Source : Portrait des  aînés du Canada, p. 312,313

 

 

2- Lợi tức xuống thấp lúc tuổi già nhưng nhu cầu về sức khoẻ và giải trí trong tuổi về chiều lại gia tăng, stress về tài chánh là  ưu tư thứ haikhông kém quan trọng so với nỗi ưu tư về sức khỏe.

 

Khi chúng ta gặp tai biến hay lúc trà dư tửu hậu, chúng ta hay có lối nói thời thượng hay triết lý là tiền bạc không đem lại hạnh phúc, nhưng thực tế, tiền bạc là phương tiện thiết yếu  để đảm bảo một  đời sống bình thường, nhứt là vào cuối đời người.

 

Trái với tổ chức xã hội  Đông phương theo đó người già trông cậy vào sự trợ giúp  của gia đình, người già tại các quốc gia Tây phương phải tự túc, nếu không nhờ chánh phủ.

So với các quốc gia phát triển G8, Canada có chánh sách đãi ngộ người già tương đối tốt và quân  bình bởi lẽ đa số người già sống nhờ vào quỹ hưu bổng hay trợ cấp của chánh phủ, lợi tức của người già do đó không cách biệt nhiều lắm.

 

Các bảng thống kê sau đây cho chúng ta một ý niệm về lợi tức của người Québécois 65 tuổi trở lên.

Năm 2001,  Lợi tức đồng niên trung bình của người Québécois 65 tuổi trở lên là 20 558$ (đàn ông : 26 537$, đàn bà ít hơn chỉ có 16 153$). So với các tỉnh bang khác của Canada, lợi tức trung bình của người già Québécois chỉ bằng các tỉnh bang vùng Atlantique, thua xa Ontario và các tỉnh miền Tây.

Lợi tức trung bình người già Québécois gốc Việt ít hơn người già Québécois pure laine độ 8000$.

 

Bàng 4 : Lợi tức trung bình đồng niên của người từ 65 tuổi trở lên theo tỉnh (năm 2001)

Tỉnh

Lợi tức trung bình đồng niên

Québec

20 558$

Vùng Atlantique

20 542$

Vùng Tây

24 512$

Ontario

25 190$

           

 

Năm 2001, 44% người già Québécois sống dưới mức lợi tức tối thiểu (* xem chú thích),  do đó một số khá lớn người hưởng hưu bổng Canada (pension de la sécurité de vieillesse=PSV) phải dựa vào phụ trội hưu bổng (Supplément de revenu garanti = SRG), trong đó có 7% nhận tiền phụ trội tối đa.  Tuổi càng cao, người già càng lệ thuộc nhiều vào SRG. Ở Québec, thống kê năm 2001 cho biết tỉ lệ người từ 65-74 tuổi nhận SRG là 44%, gia tăng đến 52% đối với lớp người từ 75 tuổi trở lên.

 

* Chú thích : Trái với nhiều quốc gia trên thế giới ấn định ngưỡng nghèo hay lợi tức tối thiểu (seuil de la pauvreté), Canada thay thế bằng danh từ ngưỡng lợi tức thấp (seuil de faible revenu) theo đó phân chia tùy theo nơi cư trú (thôn quê, thành phố đông dân, ít dân bởi lẽ giá đắc đỏ khác nhau).

 

 Ngưỡng lợi tức thấp ở Québec (trung bình) năm 2002 sau khi trừ thuế                         

                                               độc thân (16 tuổi và hơn) : 12 614$,

                                               vợ chồng  không con : 17 660$,

                                               vợ chồng 1 con : 21 444$, 2 con : 25 228$, 3 con : 29012$ .

                                   Source : La réalité des aînés québécois, 3è éd., 2007, p. 200

                                  

Bảng 5 :Lợi tức đồng niên người Québécois từ 65 tuổi  tính theo tỉ  lệ (năm 2001)

Lợi tức

Tỉ lệ

dưới 15 000$

44%

từ 15 000 đến 24 999$

32%

từ 25 000 đến 34 999$

10%

từ 35 000 đến 49 999$

  8%

trên 50 000$

  5%

 

Bảng 6 : Tỉ lệ người  Québécois từ 65 tuổi hưởng phụ trội hưu bổng SRG (năm 2001)

Tuổi

Tỉ lệ

Phụ trội trung

bình đồng niên

65- 69

34

2836$

70-74

44

2899$

75 +

52

3411$

 

Bảng 7 : Các nguồn lợi tức của người Québécois từ 65 tuổi tính theo tỉ lệ (năm 2001)

Lợi tức

(PSV)

SRG

 

RRQ

Quỹ tư

Tiết kiệm

 Lương

Lợi  tức

khác

dưới 15 000$

45

20

18

2

5

8

2

15 000-24 999$

30

5

30

20

8

2

5

25 000-34 999$

18

 

22

45

10

2

3

35 000-49 999$

10

 

20

50

15

2

3

trên 50 000$

2

 

10

50

16

20

2

 

Chú thích

PSV : Pension de sécurité de la vieillesse : hưu bổng Canada

SRG : Supplément du revenu garanti : phụ trội  hưu bổng Canada

RRQ : Régime de rentes du Québec : hưu bổng Québec

(Source : bảng 7-10 : Régie de rentes du Québec.Le revenu des personnes retraitées )

 

Theo các bảng thống kê trên, 75% người Québécois trên 65 tuổi có lợi tức đồng niên dưới 25 000$. Họ lệ thuộc phần lớn vào các hưu bổng và  trợ cấp của chính phủ, nhất là lớp người có lợi tức dưới 15 0000$ (85% lợi tức).  Với lớp người có lợi tức từ 15 000 đến 25 000$, hưu bổng của  Canada và Québec  chiếm ngang nhau trong số 60% lợi tức. Chỉ lớp người có lợi tức cao hơn  25 000 $, các quỹ hưu trí tư của các xí nghiệp, công sở vượt qua các hưu bổng  của chánh phủ. Đặc biệt với  lớp người có lợi tức cao hơn 50 000$, ngoài các quỹ hưu trí tư, còn có tiền lời của các quỹ tiết kiệm và tiền lương, bởi lẽ đa số lớp người nầy còn tiếp tục làm việc toàn thời hay bán thời.

 

Các bảng thống kê trên là lợi tức của người Québécois có nhiều nguồn lợi tức khác nhau khi tuổi già. Đối với người « vô sản » chỉ dựa vào chánh phủ, lợi tức tuy có ít hơn nhưng mức chênh lệch thực ra không quá lớn so với các lớp người già khác, bởi ngoài tiền hưu bổng và phụ trội, họ còn được hưởng miễn phí hay giảm phí một số dịch vụ khác của chính phủ.

 

    Bảng 8 : Hưu bổng và trợ cấp của chính phủ cho người già Québécois năm 2007

Loại hưu bổng

Người thụ hưởng

Hưu bổng tối đa mỗi tháng

Lợi tức tối đa

đồng niên

Canada-Hưu bổng

(PSV)

65 tuổi trở lên

497,83 $     (1)

63 511$    

( 2)

Phụ trội Supplément de Revenu garanti (SRG) (3)

độc thân

628,36$

15 096$

 

Hôn phối người đã hưởng tiền già

414,96$

19 920$

 

Hôn phối người chưa hưởng tiền già

628,36$

36 192$

 

Hôn phối người đã hưởng trợ cấp

414,96$

36 192$

Trợ cấp (Allocation )

Chú thích 4

912,79$

27 888$

Trợ cấp cho người goá

Chú thích 5

1011,80$

20 304$

Québec

Hưu bổng RRQ

Chú thích 6

863,75$

 

 

Chú thích :

(1)   : đối với dân nhập cư, phải đến Canada trước ngày 1 tháng 7 năm 1977 mới được hưởng tối đa. Nếu đến sau ngày nầy, tính theo tỉ lệ số năm từ lúc định cư đến 65 tuổi chia cho 40 (497,83 X số năm định cư) :40

(2)   Những người có lợi tức đồng niên trên 63 511$ sẽ bị giảm bớt hưu bổng dần dần cho đến 103 101$ thì không được hưởng PSV. Tỉ lệ cắt giảm là 15%.

      Thí du một người già có lợi tức là 80 000$ sẽ bị giảm bớt :

      (80 000$- 63 511$) X15% = 2473$ (năm) hay 206$ (tháng)

(3)   Điều kiện để hưởng Supplément de revenu garanti (SRG): người già 65 tuổi có lợi tức cá nhân hay gia đình thấp

(4)    Điều kiện để hưởng trợ cấp (Allocation) : người hôn phối từ 60-64 tuổi của người đã hưởng tiền già Supplément de revenu garanti. Người Việt thường gọi nôm na là « ăn theo »

(5)   Cho người hôn phối từ 60-64 tuổi của người đã hường PSV và SRG tạ thế. Trợ cấp nầy sẽ chấm dứt khi người thụ hưởng đến 65 tuổi.

(6)   Công nhân có đóng cho quỹ RRQ ít nhất một năm. Thông thường được hưởng lúc 65 tuổi, số tiền Rentes du Québec bằng 25% tổng số tiền đã đóng cho quỹ, nhung có thể được huởng lúc 60 tuổi nếu ngưng làm việc (nhưng bị trừ 6% mỗi năm trên số tiền trên nguyên tắc sẽ lảnh được lúc 65 tuổi). Thí dụ với tiền hưu là 863$ lảnh lúc 65 tuổi, nếu lảnh lúc 60 tuổi  sẽ bị trừ 30% , chỉ còn 604$ cho đến chết.