|
Khi
xưa, Nguyễn Công Trứ lúc 73 tuổi cưới người vợ lẻ thứ mười.
Trong đêm tân hôn người vợ thỏ thẻ :
Tân nhân dục vấn Lang niên kỷ? Nàng
muốn hỏi anh bao nhiêu tuổi ?
Nguyễn
Công Trứ dí dỏm trả lời :
Ngũ thập niên tiền nhị thập tam -
Năm mươi năm trước mới hăm ba
Tết năm
nay, vợ một người Việt di tản hỏi chồng :
Năm nay
anh bao nhiêu tuổi?
Chàng
trả lời : Ba mươi hai năm trước anh ba mươi lăm.
Cả hai
đồng buột miệng, chúng ta đã già rồi !!
Bao nhiêu tuổi gọi là già
?
Cho đến
nay, đa số các quốc gia kỹ nghệ ấn định 65 tuổi là tuổi già. Một
số nhà lão học (gérontologue), căn cứ vào tình trạng y tế và
sinh hoạt kinh tế của con người lại phân chia thêm trong số
tuổi già có ba cấp bậc : tuổi thứ ba (troisième âge) gồm những
người từ 65 đến 74 tuổi, tuổi thứ tư (quatrième âge) gồm những
người từ 75 đến 84 tuổi và tuổi thứ năm (cinquième âge), những
người từ 85 tuổi trở lên. Đa số người tuổi già thứ ba còn có sức
khoẻ tốt, sinh hoạt kinh tế bán thời nhưng từ tuổi thứ tư những
triệu chứng bịnh tật, ốm yếu xuất hiện và trầm trọng ở tuổi thứ
năm (Helen
Bee. Les âges de la vie. 2è éd. Montréal : ERPI, 2003, p.413)
Cái con
số khắc nghiệt 65 tuổi qui định một cách máy móc như trên thực
ra dựa vào một yếu tố lich sử. Người
ta thường gán ghép tuổi già với tuổi hưu trí. Năm 1889, thủ tướng
Đế Chế Đức là Otto von Bismarck
thiết lập lần đầu tiên chế độ hưu bổng bằng cách ấn định tuổi về
hưu là 65 tuổi
[1]. Cần lưu ý là vào thời nầy rất ít người sống đến
tuổi 65 bởi tuổi thọ trung bình của người Đức lúc ấy chỉ có 37
tuổi. Tuổi về hưu của dân Đức năm 1884 đã được thế giới áp
dụng từ lúc ấy đến nay dù rằng tuổi thọ của người dân càng lúc
càng dài thêm. Để tận dụng tối đa sức lao động của con người,
Bismarck đã đưa tuổi về hưu đến một tuổi mà ít có người dân
Đức còn sống được, trong khi thế giới cận đại, khoa học đã giúp
con người sống lâu hơn và hưởng thụ nhiều hơn. (
[1]:
Theo sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 tại Cộng Hòa Liên
Bang Đức)
Tuổi già hôm nay do đó
không được tính bằng số năm sau ngày sanh, mà bằng số năm
trước ngày tử, tính từ tuổi 65
Theo
Viện Thống Kê Québec, một người dân Québécois 65 tuổi có thể
sống thêm 15,5 năm (nam) hay 20 năm (nữ) nữa. Tuy nhiên,
trong quảng đời « sống thêm » nầy, phân nửa thời gian đầu, người
già có sức khoẻ bình thường, nhưng phân nửa thời gian sau, người
già bắt đầu suy yếu, bất lực nhẹ, và đến những năm cuối cùng
người già bất lực nhiều hay mang nhiều tật bịnh.
Bảng 1 : Tuổi thọ người Québécois sau 65 tuổi
|
Nam |
8,4 năm
3 năm
4,1 năm
|
thêm 15,5 năm sau 65
tuổi |
|
Nữ |
9,5 năm
3,7 năm
6,8 năm |
thêm 20 năm sau 65
tuổi |
Chú thích : trạng thái sức khỏe
|
bình thường
bất lực nhẹ
bất lực
trung bình hay nặng |
( Source :Un portrait de la santé
des Québécois de 65 ans et plus. Québec : Institut national
de santé publique du Québec, 2003, p.2-3).
Một cách cụ thể, chúng ta có thể « ước định »
tuổi thọ của chúng ta dựa vào bảng xác xuất sau đây căn cứ vào
sự ước lượng của một chuyên viên tài chánh của Banque Nationale
dựa vào Statistique Canada.
Bảng 2 : Sác xuất tuổi thọ
của người Québécois
|
Nam |
Sác
xuất sống đến tuổi nầy
|
|
Tuổi hiện tại |
80 tuổi |
85 tuổi |
90 tuổi |
95 tuổi |
100 tuổi
|
|
60 tuổi |
56% |
39% |
22% |
9% |
2% |
|
65 tuổi |
60% |
41% |
24% |
10% |
3% |
|
70 tuổi |
67% |
46% |
26% |
11% |
3% |
|
Nữ
|
|
|
60 tuổi |
75% |
61% |
44% |
27% |
12% |
|
65 tuổi |
77% |
63% |
46% |
28% |
12% |
|
70 tuổi |
81% |
66% |
48% |
29% |
13% |
Source : Daniel Laverdière. Planification
financière, Banque Nationale-Statistique Canada, citée par La Presse
Affaires, 21 octobre 2007, p. 3
Những bảng thống kê trên, tuy phát xuất từ các cơ quan nghiên
cứu ở Canada, và đối tượng nghiên cứu là người Canadiens, nhưng
bởi lẽ tình trạng y học và đời sống kinh tế xã hội tại các nước
Tây Phương và Bắc Mỹ tương đối giống nhau, những kết quả nầy vẫn
có thể có một giá trị phổ quát tại các quốc gia nầy.
Viết về
tuổi già người Việt, chúng ta không thể không đề cập đến tuổi
già của người dân bản địa, bởi lẽ ngoài đặc tính nhân chủng
riêng biệt của chúng ta, cuộc sống hội nhập đã buộc chúng ta
sống với nền văn hóa và các định chế của quốc gia nầy. Dù muốn,
dù không, tâm tình và tâm tính của chúng ta đã phần nào biến đổi
để thích nghi với môi trường sống mới.
Viết về
tuổi già người Việt, chúng ta cũng không thế nào thấu hiểu hết
các trạng huống của người Việt, bởi lẽ ngoài cái đời sống phong
phú nhưng dị biệt của từng người, lịch sử di dân của chúng ta là
lịch sử của những mãnh đời. Nói đến cái nhận định tổng quát chưa
hẳn đúng với từng hoàn cảnh riêng, và nói đến phương thức chung
có thể chỉ là lời nói gió thoảng mây bay, chẳng ứng dụng gì được
cho mọi trường hợp.
Với
những nhận định trên, bài viết không phải là một nghiên cứu xã
hội khoa học, càng không phải là mô hình cho tuổi già mà chỉ là
góp nhặt đó đây những mẫu tin vắn hay dài để chúng ta cùng tản
mạn về tuổi già của chúng ta.
Những băn khoăn của tuổi già
Một
tuổi già bình an, hạnh phúc là một tuổi già không bị stress. Các
nhà nghiên cứu về lão học nhận định có
ba loại căng thẳng thần kinh
(stress) mà tuổi già thường gặp.
1-
Không như Hồ Xuân Hương khi xưa lúc 40 tuổi đã thảng thốt :
Cái già xồng xộc nó thì theo sau hay như Nguyễn Khuyến lúc
50 tuổi đã than van : Hàm răng chiếc rụng chiếc lung lay,
chúng ta bắt đầu cảm thấy già khi những dấu hiệu sinh học bắt
đầu suy thoái, thường từ tuổi 60. Chúng ta chậm chạp hơn, hay
quên, nghe thấy ít rõ hơn và như Trịnh Công Sơn đã khéo mô tả :
Chợt
một chiều tóc trắng như vôi (Cát
bụi). Biến thoái sinh học trong cơ thể làm chúng ta đôi khi hốt
hoảng khi chúng ta lâm vào một tật bịnh, tuy chúng ta hiểu rằng
y học cận đại và điều kiện an sinh giúp chúng ta trong nhiều
trường hợp thoát khỏi hiểm nguy.
Sức khỏe như vậy là mối
băn khoăn hàng đầu của tuổi già chúng ta.
Sống
lâu và sống bình an là niềm hạnh phúc, nhưng ai cho ta cái diễm
phúc nầy. Tuy tôn giáo và đức tin ủy thác cho định mệnh, nhưng y
học và cách sống của chúng ta chính là những yếu tố giúp chúng
ta sống lâu và sống khỏe. Tuy chúng ta vẫn tin các lý thuyết
trước đây về bản chất di truyền liên hệ đến tuổi thọ và một số
bịnh tật, nhưng những khám phá mới nhất về gènes đã xác quyết
giá trị tương đối của lý thuyết nầy.
James
W. Vaupel. Giám đốc Laboratory of Survival and Longevity thuộc
Viện Nghiên Cứu Max Planck for Demographic Research ở Rostock
(Đức) đã tuyên bố như sau : Chiều cao của con người tùy
thuộc đến 80 - 90% chiều cao của cha mẹ, nhưng tuổi thọ của cha
mẹ chỉ có khoảng 3% ảnh hưởng đến tuổi thọ của chúng ta.
Và ngay
cho những căn bịnh có bản chất di truyền như cancer, tiểu đường,
bác sĩ Paul Lichteinstein và các đồng nghiệp của ông ở
Karolinska Institute ở Stockholm, sau khi phân tích tỉ lệ cancer
trên 44 788 người sinh đôi cho thấy chỉ có cancer vú, prostate
và colorectal là có yếu tố di truyền, nhưng không lắm quan
trọng.
Để
kết luận, con người có thể quyết định được tuổi thọ bằng cách
sống (mode de vie) và hai yếu tố giúp cho tuổi già là sự dinh
dưỡng và thể dục.
(Le
mystère de la longévité, dans Le Devoir, 18 novembre 2006, p.
A1)
Theo
cuộc điều tra y tế năm 2001, người dân ở Québec từ 65 tuổi
mang các tật bịnh sau đây : Huyết áp cao: 37%; Viêm khớp
xương ( Arthrite ou rhumatisme): 35% ; bịnh tim : 20%; tiểu
đường : 13%; bịnh về tuyến giáp (thyroïde) : 12%; bịnh suyễn :
8%; bịnh đường tiểu, viêm phế quản : 7%; dị ứng thực phẩm : 6%;
tăng nhãn áp (glaucome) : 5%; cancer : 4%.
Ngoài
ra, bịnh mất trí nhớ (maladie d’Alzheimer) của người già cao
niên là một vấn đề trọng đại cho xã hội trong những thập niên
sắp đến. Năm 2001, Québec với một dân số 8 triệu người đã có
85 050 người mắc bịnh nầy, và đến năm 2006 tỉ lệ người già bị
mất trí nhớ tăng thêm 8,5% so với 5 năm trước và ước lượng có
độ 300 000 người vào năm 2050.
Tuy
tuổi già của chúng ta mang những tật bịnh như những người dân
bản địa, nhưng các thống kê y tế lại báo động một số tật bịnh
đặc biệt đối với người da vàng để chúng ta sớm phòng bị : đó là
bịnh tiểu đường và cao máu là hai bịnh có thể tạo nên nhiều biến
trạng nguy hiểm
(
Source : Un portrait de la santé des Québécois de 65 ans et
plus. Québec : Institut national de santé publique, 2003, p.9)
So
với người dân bản địa, người già dân nhập cư, nói chung có sức
khỏe kém hơn người già dân bản địa.
Bảng
3 : Tình trạng sức khỏe của người già nhập cư so với người già
dân bản địa Canada (2003) – tính theo tỉ
lệ
|
|
Già nhập cư |
Già bản địa |
Nhận xét |
|
Những tật bịnh
- Viêm khớp xương
- Đau lưng
- Bịnh tim
- Bịnh tuyến giáp
- Tiểu đường
- Cataracte
|
36,1
19,3
13,1
8,9
15,2
24,9
|
47,8
23,7
20,7
13,9
13,6
20,8
|
Người già nhập cư ít bịnh về xương, đau lưng, bịnh tim,
nhưng bịnh nhiều về tiểu đường và cataracte |
|
Số lần viếng bác sĩ
trong một năm
- 0 lần
- 1-2 lần
- 3-5 lần
- 6-11 lần
- 12 lần và hơn |
6
17,4
35,7
23,7
17,1 |
10
27,6
31,3
18
13,2 |
Số lần viếng bác sĩ
của người già dân nhập cư nhiều hơn dân bản địa tăng gia
theo số lần, như vậy người già dân nhập cư bịnh nhiều và
nặng hơn dân bản địa |
|
Nhận định cá nhân về
tình trạng sức khoẻ
-
Rất tốt/Tốt
- Trung bình
- Kém |
28,1
40,6
31,3 |
38,1
36,8
25,1 |
28% người già nhập cư
nhận định rằng sức khỏe rất tốt so với 38% người già bản
địa, và ngược lại 31% người nhập cư cho là sức khỏe kém
so với 25% dân bản địa |
Source : Portrait des aînés du Canada, p. 312,313
2-
Lợi tức xuống thấp lúc tuổi già nhưng nhu cầu về sức khoẻ và
giải trí trong tuổi về chiều lại gia tăng,
stress về tài chánh là ưu tư thứ
haikhông kém quan trọng so với nỗi ưu tư về sức khỏe.
Khi
chúng ta gặp tai biến hay lúc trà dư tửu hậu, chúng ta hay có
lối nói thời thượng hay triết lý là tiền bạc không đem lại
hạnh phúc, nhưng thực tế, tiền bạc là phương tiện thiết yếu
để đảm bảo một đời sống bình thường, nhứt là vào cuối đời
người.
Trái
với tổ chức xã hội Đông phương theo đó người già trông cậy vào
sự trợ giúp của gia đình, người già tại các quốc gia Tây phương
phải tự túc, nếu không nhờ chánh phủ.
So với
các quốc gia phát triển G8, Canada có chánh sách đãi ngộ người
già tương đối tốt và quân bình bởi lẽ đa số người già sống nhờ
vào quỹ hưu bổng hay trợ cấp của chánh phủ, lợi tức của người
già do đó không cách biệt nhiều lắm.
Các
bảng thống kê sau đây cho chúng ta
một ý niệm về lợi tức của người Québécois 65 tuổi trở lên.
Năm
2001, Lợi tức đồng niên trung bình của người Québécois 65 tuổi
trở lên là 20 558$ (đàn ông : 26 537$, đàn bà ít hơn chỉ có 16
153$). So với các tỉnh bang khác của Canada, lợi tức trung bình
của người già Québécois chỉ bằng các tỉnh bang vùng Atlantique,
thua xa Ontario và các tỉnh miền Tây.
Lợi tức
trung bình người già Québécois gốc Việt ít hơn người già
Québécois pure laine độ 8000$.
Bàng
4 : Lợi tức trung bình đồng niên của người từ 65 tuổi trở lên
theo tỉnh (năm 2001)
|
Tỉnh |
Lợi tức trung bình
đồng niên |
|
Québec |
20 558$ |
|
Vùng Atlantique |
20 542$ |
|
Vùng Tây |
24 512$ |
|
Ontario |
25 190$ |
Năm
2001, 44% người già Québécois sống dưới mức lợi tức tối thiểu (*
xem chú thích), do đó một số
khá lớn người hưởng hưu bổng Canada (pension de la sécurité
de vieillesse=PSV) phải dựa vào phụ trội hưu bổng
(Supplément de revenu garanti = SRG), trong đó có 7% nhận
tiền phụ trội tối đa. Tuổi càng cao, người già càng lệ thuộc
nhiều vào SRG. Ở Québec, thống kê năm 2001 cho biết tỉ lệ người
từ 65-74 tuổi nhận SRG là 44%, gia tăng đến 52% đối với lớp
người từ 75 tuổi trở lên.
* Chú thích : Trái với nhiều quốc gia
trên thế giới ấn định ngưỡng nghèo hay lợi tức tối thiểu (seuil
de la pauvreté), Canada thay thế bằng danh từ ngưỡng lợi tức thấp
(seuil de faible revenu) theo đó phân chia tùy theo nơi cư trú
(thôn quê, thành phố đông dân, ít dân bởi lẽ giá đắc
đỏ khác nhau).
Ngưỡng lợi tức thấp
ở Québec (trung bình) năm 2002 sau khi trừ thuế
độc thân (16 tuổi và hơn) : 12 614$,
vợ chồng không con : 17 660$,
vợ chồng 1 con :
21 444$, 2 con : 25 228$, 3 con : 29012$ .
Source : La réalité des aînés québécois, 3è éd., 2007, p. 200
Bảng
5 :Lợi tức đồng niên người Québécois từ 65 tuổi tính theo tỉ
lệ (năm 2001)
|
Lợi tức |
Tỉ lệ |
|
dưới 15 000$ |
44% |
|
từ 15 000 đến 24 999$ |
32% |
|
từ 25 000 đến 34 999$ |
10% |
|
từ 35 000 đến 49 999$ |
8% |
|
trên 50 000$ |
5% |
Bảng
6 : Tỉ lệ người Québécois từ 65 tuổi hưởng phụ trội hưu bổng
SRG (năm 2001)
|
Tuổi |
Tỉ lệ |
Phụ trội trung
bình đồng niên |
|
65- 69 |
34 |
2836$ |
|
70-74 |
44 |
2899$ |
|
75 + |
52 |
3411$ |
Bảng
7 : Các nguồn lợi tức của người Québécois từ 65 tuổi tính theo
tỉ lệ (năm 2001)
|
Lợi tức |
(PSV) |
SRG
|
RRQ |
Quỹ tư |
Tiết kiệm |
Lương |
Lợi tức
khác |
|
dưới 15 000$ |
45 |
20 |
18 |
2 |
5 |
8 |
2 |
|
15 000-24 999$ |
30 |
5 |
30 |
20 |
8 |
2 |
5 |
|
25 000-34 999$ |
18 |
|
22 |
45 |
10 |
2 |
3 |
|
35 000-49 999$ |
10 |
|
20 |
50 |
15 |
2 |
3 |
|
trên 50 000$ |
2 |
|
10 |
50 |
16 |
20 |
2 |
Chú
thích
PSV :
Pension de sécurité de la vieillesse : hưu bổng Canada
SRG :
Supplément du revenu garanti : phụ trội hưu bổng Canada
RRQ :
Régime de rentes du Québec : hưu bổng Québec
(Source : bảng 7-10 : Régie de rentes du Québec.Le revenu des
personnes retraitées )
Theo
các bảng thống kê trên, 75% người Québécois trên 65 tuổi có lợi
tức đồng niên dưới 25 000$. Họ lệ thuộc phần lớn vào các hưu
bổng và trợ cấp của chính phủ, nhất là lớp người có lợi tức
dưới 15 0000$ (85% lợi tức). Với lớp người có lợi tức từ 15 000
đến 25 000$, hưu bổng của Canada và Québec chiếm ngang nhau
trong số 60% lợi tức. Chỉ lớp người có lợi tức cao hơn 25 000
$, các quỹ hưu trí tư của các xí nghiệp, công sở vượt qua các
hưu bổng của chánh phủ. Đặc biệt với lớp người có lợi tức cao
hơn 50 000$, ngoài các quỹ hưu trí tư, còn có tiền lời của các
quỹ tiết kiệm và tiền lương, bởi lẽ đa số lớp người nầy còn tiếp
tục làm việc toàn thời hay bán thời.
Các
bảng thống kê trên là lợi tức của người Québécois có nhiều
nguồn lợi tức khác nhau khi tuổi già. Đối với người « vô sản »
chỉ dựa vào chánh phủ, lợi tức tuy có ít hơn nhưng mức chênh
lệch thực ra không quá lớn so với các lớp người già khác, bởi
ngoài tiền hưu bổng và phụ trội, họ còn được hưởng miễn phí hay
giảm phí một số dịch vụ khác của chính phủ.
Bảng 8 : Hưu bổng và trợ cấp của chính phủ cho người già
Québécois năm 2007
|
Loại hưu bổng |
Người thụ hưởng |
Hưu bổng tối đa mỗi
tháng |
Lợi tức tối đa
đồng niên |
|
Canada-Hưu
bổng
(PSV) |
65 tuổi trở lên
|
497,83 $ (1) |
63 511$
( 2) |
|
Phụ trội Supplément de
Revenu garanti (SRG) (3) |
độc thân |
628,36$ |
15 096$ |
|
|
Hôn phối người đã
hưởng tiền già |
414,96$ |
19 920$ |
|
|
Hôn phối người chưa
hưởng tiền già |
628,36$ |
36 192$ |
|
|
Hôn phối người đã
hưởng trợ cấp |
414,96$ |
36 192$ |
|
Trợ cấp (Allocation ) |
Chú thích 4 |
912,79$ |
27 888$ |
|
Trợ cấp cho người goá
|
Chú thích 5 |
1011,80$ |
20 304$ |
|
Québec
–
Hưu bổng RRQ |
Chú thích 6 |
863,75$ |
|
Chú
thích :
(1)
: đối với
dân nhập cư, phải đến Canada trước ngày 1 tháng 7 năm 1977 mới
được hưởng tối đa. Nếu đến sau ngày nầy, tính theo tỉ lệ số năm
từ lúc định cư đến 65 tuổi chia cho 40 (497,83 X số năm định
cư) :40
(2)
Những người
có lợi tức đồng niên trên 63 511$ sẽ bị giảm bớt hưu bổng dần
dần cho đến 103 101$ thì không được hưởng PSV. Tỉ lệ cắt giảm là
15%.
Thí du một người già có lợi tức là 80 000$ sẽ bị giảm bớt :
(80 000$- 63 511$) X15% = 2473$ (năm) hay 206$ (tháng)
(3)
Điều kiện để
hưởng Supplément de revenu garanti (SRG): người già 65 tuổi có
lợi tức cá nhân hay gia đình thấp
(4)
Điều kiện
để hưởng trợ cấp (Allocation) : người hôn phối từ 60-64 tuổi của
người đã hưởng tiền già và Supplément de revenu garanti.
Người Việt thường gọi nôm na là « ăn theo »
(5)
Cho người
hôn phối từ 60-64 tuổi của người đã hường PSV và SRG tạ thế. Trợ
cấp nầy sẽ chấm dứt khi người thụ hưởng đến 65 tuổi.
(6)
Công nhân có
đóng cho quỹ RRQ ít nhất một năm. Thông thường được hưởng lúc 65
tuổi, số tiền Rentes du Québec bằng 25% tổng số tiền đã đóng cho
quỹ, nhung có thể được huởng lúc 60 tuổi nếu ngưng làm việc
(nhưng bị trừ 6% mỗi năm trên số tiền trên nguyên tắc sẽ lảnh
được lúc 65 tuổi). Thí dụ với tiền hưu là 863$ lảnh lúc 65 tuổi,
nếu lảnh lúc 60 tuổi sẽ bị trừ 30% , chỉ còn 604$ cho đến chết.
|