Sách tiếng Việt ngoài Việt Nam


 

Lâm Văn Bé

E-Mail: lamvanbe@khoahoc.net

19 tháng 06 năm 2008

 Sau  biến cố tháng tư năm 1975, người Việt tản mác khắp bốn phương trời. Từ tiểu bang California với nửa triệu người tị nạn cho đến tiểu bang Wyoming chỉ với 100 người, từ thành phố Cabramatta với 13 600 người cho đến Nunavut chỉ với 10 người, bước chân người Việt hiện đang in dấu trên khắp năm châu. Chỗ nào có người Việt, chỗ đó có chùa, nhà thờ và sách báo tiếng Việt.

 

Tuy sống ở hải ngoại đã hơn ba mươi năm, thời gian tương đối dài, nhưng thực sự chưa đủ để chúng ta hội nhập. Mặc dù không sống ghetto, chúng ta cũng chưa hòa hợp được trọn vẹn với nền văn hóa quốc gia mới định cư. Tùy trình độ, tùy nhu cầu, chúng ta phải hành xử theo quan niệm và tổ chức của xã hội mới, nhưng chúng ta vẫn chưa chấp nhận được hệ thống giá trị của xã hội nầy. Hằng ngày, chúng ta đọc sách báo, nghe truyền thanh, xem truyền hình của xứ nầy, nhưng dù cho có thông thạo ngôn ngữ, chúng ta vẫn không rung cảm được trọn vẹn như khi chúng ta nghe một  bản nhạc tiếng Việt hay đọc một trang sách tiếng Việt. Ngôn ngữ, ngoài cái nghĩa còn có âm sắc và hình ảnh. Chúng ta đọc sinh ngữ bằng chữ nghĩa nhưng chúng ta đọc tiếng mẹ đẻ của chúng ta bằng tất cả. Dù khen hay chê, sách báo tiếng Việt vẫn là một nhu cầu để chúng ta sống được với xứ ta trên đất người.

 

Gần gũi với sách báo và độc giả người bản địa cũng như  nhiều sắc tộc từ 30 năm qua, chúng tôi chưa thấy một dân tộc nào ham thích đọc sách như người Việt, nếu không kể người Tàu. Tại thư viện Mile-End của Thành phố Montréal (Canada), năm 2005, trung bình mỗi quyển sách tiếng Việt được mượn 5 lần trong một năm (thư viện có gần 10 000 quyển), nhưng với các quyển sách mới, quyển sách chẳng bao giờ  có mặt trên kệ sách quá một ngày. Tại thư viện Parker Williams (Texas), tỉ lệ nầy tăng đến 13 lần với một số sách.

 

Sự kiện người Việt Nam ham đọc sách có thể được giải thích qua nhiều yếu tố văn hóa và xã hội.

Người Việt Nam, từ căn bản và truyền thống, vốn trọng chữ nghĩa. Cái thang giá trị sĩ nông công thương mà Nho giáo đã hun đúc cho bao thế hệ ông cha ta, tuy chẳng còn ứng dụng từ lâu trong một thế giới kỹ thuật và tư bản, nhưng vẫn còn lưu lại những dấu vết trong tim óc người Việt. Đọc sách là bước đầu và bước thang của kẻ sĩ, người học thức. Cái truyền thống chữ nghĩa ấy, dù trong nghèo khó gian truân vẫn là nhu cầu của người Việt và chúng ta đã mang theo mớ hành trang ấy trên bước đường lưu vong. Dù cho có sử dụng nhiều hay ít, mớ hành trang ấy vẫn là gia bảo giúp chúng ta ổn định tinh thần và vật chất cũng như gìn giữ được phần nào ngôi nhà Việt Nam, hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng.

 

Từ những nhận định trên, bài viết nhằm khảo sát các thư viện ngoài Việt Nam đã và đang cống hiến cho người Việt hải ngoại những bộ sách tiếng Việt khả dĩ góp phần vào nhu cầu đọc sách và nghiên cứu của người Việt. Bài viết dựa vào các số thống kê, nhưng công việc tra cứu thống kê của hàng trăm thư viện lớn nhỏ trên thế giới không thể thực hiện được trọn vẹn bởi  khuynh hướng hạn chế phổ biến thống kê của một số thư viện và bản chất dị biệt của các thống kê bởi lẽ tùy thuộc vào phương pháp và mục tiêu sử dụng, do đó  bài viết chỉ có thể xem như một tổng quan, một nhận diện những nơi quần cư của người Việt.

Nều như khi xưa, trong cuộc Nam Tiến, hai làng Minh Hương đầu tiên của người Trung hoa sớm được thiết lập ở vùng Cù Lao Phố và Cao Lãnh trong  việc cộng cư với người Việt, thì hôm nay, trong cuộc « Tây tiến », những thư viện tiếng Việt là những địa danh những làng xóm của người Việt trên thế giới.

 

Phương pháp sưu tầm dữ kiện

Những dữ kiện được thu thập qua hai nguồn liệu :

1- Những tài liệu chính thức của các giới chức thư viện cung cấp qua các điện đàm, điện thư, văn thư. Chúng tôi  nhận được sự hồi âm tích cực của  khoảng một phần ba số thư chúng tôi gởi đi xin tài liệu. Những con số thống kê chính thức nầy được ghi chú thêm tên  tác giả khi cần thiết.

 

2- Đối với các thư viện  mà chúng tôi không có được số thống kê chính thức, bằng những tài liệu và phương pháp  thư viện học, chúng tôi truy cập các tiêu đề (notice) dựa vào họ của tác giả  để ước định độ lớn của bộ sách. Người Việt Nam  xưa có trăm họ, nhưng  sự cộng cư với  người Trung hoa, người Miên và người Chàm đã khiến  người Việt Nam ngày nay mang  hơn 140 họ.Việc tìm kiếm sách trên hàng trăm thư mục với 140 tên tác giả như trên là điều khó thực hiện, do đó chúng tôi thử tìm với  10 họ người Việt phổ biến nhứt để kiểm nghiệm với một số thư mục xem các tác giả của 10 họ « top ten » nầy chiếm một  tỉ lệ nào trong toàn thể bộ sách, để từ đó dùng tỉ lệ nầy ước định độ lớn của các bộ sách khác.

 

Sau khi tra cứu tỉ mỉ thư mục Bulac (Pháp) với tiêu đề tên tác giả và  tựa sách, chúng tôi biết được với 10 họ : Nguyễn, Lê, Trần, Hoàng, Vũ, Phạm, Phan, Ngô, Đặng, Hồ, thư viện  Bulac có 5940 tựa sách (tháng 12/2006). Tra cứu thêm với  130 họ còn lại, Bulac có 3990 tựa sách. Như vậy, thư viện Bulac có 9930 tựa sách, trong đó các tác giả mang 10 họ vừa kể  chiếm 60% toàn thể bộ sách.

Tiếp tục tra cứu với Thư viện trung ưong của thành phố Seattle, chúng tôi có được tỉ lệ 53% và  với Thư viện trung ương của thành phố Ottawa (thủ đô của Canada), tỉ lệ  là  62% ( xem bảng 1 và bảng 2).

Từ nhận xét trên, chúng tôi áp dụng  một tỉ lệ trung bình là  60%  với tác giả 10 họ Việt Nam phổ biến như trên để ước định số sách tiếng Việt của một bộ sách.

 

Phương pháp nầy, phương pháp duy nhất để có thể phỏng định độ lớn của một bộ sách khi không có thống kê chính thức và ngay cho có số thống kê chính thức cũng không nhất thiết chính xác vì những lý do sau đây :

        - Cách sắp xếp thư mục của thư viện : nhiều thư mục kể tất cả tên  các tác giả, hay ba tên (theo thể thức thư viện học) hay chỉ tên một tác giả trong trường hợp các tác phẩm  viết chung bởi nhiều tác giả.

        - Mức độ sai lầm của những biên mục viên (cataloger) Tây phương khi nhầm lẫn họ và tên của người Việt. Để tránh khó khăn nầy, nhiều thư mục làm bảng dẫn mục (index) cả họ và tên  cho cùng một quyển sách.

        - Không thể truy cập được các quyển sách chỉ làm biên mục theo tựa (trường hợp quá 3 tác giả, theo phương pháp làm biên mục) hay tác giả là các bút hiệu.

Hậu quả của hai lý do đầu là gia tăng thêm số sách thực sự có và lý do thứ ba là làm giảm đi số sách của thư mục.

Với những nhận định trên, sai suất của những ước định số thống kê các thư mục có thể đến 10%.

 

Ngoài ra, với sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông  và sự cắt giảm ngân sách của các thư viện, việc thiết lập những số thống kê chuyên biệt không phải là một ưu tiên của nhiều thư viện.

Một giới chức của Thư Viện Library of Congress, thư viện lớn nhứt của thế giới đã hồi âm cho chúng tôi như sau :

« The Library of Congress is very big and complex. The Vietnamese collections at the Library of Congress are under the juridiction of two divisions : the Eastern Law Division and the Asian Division. Thus, to give statistics of  Vietnamese collections at the Library of Congress is an impossible thing to do… » (L.H. Viet Nam and Southeast Asia)

                        Bảng 1 : Thư mục bộ sách tiếng Việt của các Thư viện Bulac (Pháp)

10 họ

«top ten»

 số tựa

 Các họ khác

số tựa

 

 

 

 

Nguyễn

2263

An, Âu, Bạc, Bạch, Bành, Bế, Biện, Bùi

 239

Trần

690

Ca, Cái, Cam, Cao, Cát, Cầm, Cấn, Cù, Chế, Chiêm, Châu, Chu, Chung, Chử, Cung

178

 Lê

648

Danh, Diệp, Doãn, Dư(Dzư), Dương, Đái, Đàm, Đào , Đặng, Đèo, Đinh, Đoàn, Đô, Đỗ, Đồng, Đổng

803

 

 Hoàng    

450

Giang, Giáp, Hà, Hàn, Hoa,  Huỳnh, Hồng, Hùng, Hứa

621

 Vũ

495

Kiên, Kiều, Kiểu, Kim, Kỷ, Kha, Khiêu, Khiếu, Khổng, Khu, Khuất, Khúc, Khương, Khưu

83

 Phạm    

430

La, Lã(Lữ), Lai, Lại, Lâm, Linh, Lộ, Lợi, Lương, Lưu, Lý

141

 Phan

361

Ma, Mã, Mạc, Mai, Mạch,

136

 Ngô

230

Ninh, Ngạc, Nghiêm, Ngụy, Nhan, Nhữ, Nông, Ông

73

 Đặng

198

Phí, Phó, Phù, Phùng, Quách, Quan, Quản, Sơn, Sử

117

 Hồ

175

Tạ, Tăng, Tiêu, Tô, Tôn, Tống, Từ, Tưởng, Thạch, Thái,

Thang, Thành, Thẫm, Thân, Thiều, Thục, Trà, Trang, Triệu,

659

 

 

Trình, Trịnh, Trương, Trưng

 

 

 

Ung, Uông, Uyển, Ưng,

4

 

 

Vạn, Văn, Vi, Viêm, Võ, Vương, Xuân

296

 

 

Viện (tên cơ quan)

640

Tổng số

10 họ

5940

Tổng số :130 họ và tên 1 cơ quan (Viện)

3990

                        Tổng số tựa của thư viện       : 9930 tựa

                        Số tựa của 10 họ  « top ten » : 5940 tựa (tỉ lệ : 60% so với toàn bộ sách)

                       

             Bảng 2 : Thư mục của Thư Viện Trung ương Seattle và Ottawa

Họ

Thư viện Trung ương

Thư viện Trung ương

 

           Seattle

             Ottawa

Nguyễn

513 tựa

653 tựa

Trần

174

214

171

162

Hoàng

157

154

153

157

Phạm

130

98

Phan

 76

62

Hồ

 71

84

Đặng

 59

73

Ngô

 58 tựa , 70  quyển

1 tựa = 1,2 quyển

36 tựa,  50  quyển

1 tựa = 1, 4 quyển

                 Tổng cộng

1562 tựa =  1875 quyển

1 693tựa,  2 370 quyển

Thống kê chính thức của thư viện do giới chức cung cấp

3500 quyển

(Tom Horne)

3822 quyển

( Paul Schwebke)

Tỉ lệ sách của 10 họ so với tổng số sách của thư viện

54%

62%

 

Các thư viện tiếng Việt ở Bắc Mỹ

Hoa Kỳ                                                                                                             

Thư viện công cộng

Với hơn một triệu người Việt tản mác khắp 50 tiểu bang Hoa Kỳ, sách tiếng Việt được các thư viện  các thành phố (city public libraries) hay các quận (county public libraries) phát triển để phục vụ cộng đồng người Việt.

    California

California là tiểu bang có sách tiếng Việt nhiều nhất ngoài Việt Nam. Trong số 166 thư viện trung ương, 602 chi nhánh, 325 trạm thư viện (library stations) và 1093 thư viện ngoại ô (library outlets), California có hơn 100 thư viện công cộng có sách tiếng Việt.

Các thư viện có sách tiếng Việt được tập trung trong 4 khu vực : khu Los Angeles-Orange Counties, khu Greater Bay, khu Sacramento- Mother Lode  và khu San Diego- Imperial Counties. Số sách tiếng Việt chỉ có tính cách tượng trưng ở bốn khu : Riverside-San Bernardino-Inyo Counties; Monterey Bay; North Bay &Wine County; và Central Valley. Hai khu còn lại San Luis Obispo-Santa Barbara-Ventura và North State gần như không có.

 

Vì lẽ không có thống kê chính thức cho từng khu vực, chúng tôi áp dụng phương pháp truy cập 10 họ quan trọng như trên trong thư  mục của California Public Library  (www.publiclibraries.com/california.htm) để ước định bộ sách tiếng Việt.

Kết quả cho thấy bộ sách tiếng Việt gồm sách và các tài liệu thính thị (vidéo, CD, DVD)  tại số thư viện trên ước định khoảng 80 000 quyển sách và các phim ảnh, băng nhạc. (xem bảng 3  và 4)

Đây là bộ sách thực sự gần gũi với độc giả người Việt bởi lẽ đa số là sách báo xuất bản ở hải ngoại hay các tác giả ở miền Nam trước 1975. Một số rất ít tác giả trong nước, nhưng là loại sách chuyên đề (nấu ăn, nuôi con…) hay sách dịch.

 

Thư mục nầy dễ truy cập và  các chữ Việt đọc được , không như một số rất lớn các thư mục trên các trang web có những tiêu đề với những mẫu tự gồm những dấu lạ kỳ, không đọc được vì chương trình điện toán không thích nghi với chữ Việt (trường hợp những chữ có dấu đặc biệt Việt Nam hay một mẫu tự có hai dấu)

 

Bảng 3 : Số tựa tài liệu (sách, tài liệu thính thị) tiếng Việt truy cập từ thư mục California Public Libraries theo 10 họ quan trọng       

Vùng

Nguyễn

 Lê

 

Trần

Hoàng

Phạm

Phan

Hồ

Đặng

Ngô

Tổng

   số

1 -LA

2 849

1 230

1 024

  934

  898

  564

323

 366

227

 218

8 633

2-GB

2 879

1 286

1 016

1 037

1 006

  524

300

 444

221

 215

9 928

3- SA

1 252

   513

   411

   360

   339

  259

120

 161

 82

   80

3 577

4- SD

   859

   401

   299

   381

   475

  128

  72

 213

 52

   59

2 939

5- RS

   253

   109

     85

     63

     51

    52

  32

   26

   7

   12

   690

6-MB

   256

     78

     90

     74

     64

    47

  20

   30

 15

   18

   692

7-NB

   226

     72

     76

     42

     41

    34

  15 

   34

 12 

   18

   570

8- CV