|
Sau biến cố tháng tư năm 1975, người Việt tản mác
khắp bốn phương trời. Từ tiểu bang California với nửa triệu
người tị nạn cho đến tiểu bang Wyoming chỉ với 100 người, từ
thành phố Cabramatta với 13 600 người cho đến Nunavut chỉ với 10
người, bước chân người Việt hiện đang in dấu trên khắp năm châu.
Chỗ nào có người Việt, chỗ đó có chùa, nhà thờ và sách báo tiếng
Việt.
Tuy sống ở hải ngoại đã hơn ba mươi năm, thời
gian tương đối dài, nhưng thực sự chưa đủ để chúng ta hội nhập.
Mặc dù không sống ghetto, chúng ta cũng chưa hòa hợp được trọn
vẹn với nền văn hóa quốc gia mới định cư. Tùy trình độ, tùy nhu
cầu, chúng ta phải hành xử theo quan niệm và tổ chức của xã hội
mới, nhưng chúng ta vẫn chưa chấp nhận được hệ thống giá trị của
xã hội nầy. Hằng ngày, chúng ta đọc sách báo, nghe truyền thanh,
xem truyền hình của xứ nầy, nhưng dù cho có thông thạo ngôn ngữ,
chúng ta vẫn không rung cảm được trọn vẹn như khi chúng ta nghe
một bản nhạc tiếng Việt hay đọc một trang sách tiếng Việt. Ngôn
ngữ, ngoài cái nghĩa còn có âm sắc và hình ảnh. Chúng ta đọc
sinh ngữ bằng chữ nghĩa nhưng chúng ta đọc tiếng mẹ đẻ của chúng
ta bằng tất cả. Dù khen hay chê, sách báo tiếng Việt vẫn là một
nhu cầu để chúng ta sống được với xứ ta trên đất người.
Gần gũi với sách báo và độc giả người bản địa
cũng như nhiều sắc tộc từ 30 năm qua, chúng tôi chưa thấy một
dân tộc nào ham thích đọc sách như người Việt, nếu không kể
người Tàu. Tại thư viện Mile-End của Thành phố Montréal
(Canada), năm 2005, trung bình mỗi quyển sách tiếng Việt được
mượn 5 lần trong một năm (thư viện có gần 10 000 quyển), nhưng
với các quyển sách mới, quyển sách chẳng bao giờ có mặt trên kệ
sách quá một ngày. Tại thư viện Parker Williams (Texas), tỉ lệ
nầy tăng đến 13 lần với một số sách.
Sự kiện người Việt Nam ham đọc sách có thể được
giải thích qua nhiều yếu tố văn hóa và xã hội.
Người Việt Nam, từ căn bản và truyền thống, vốn
trọng chữ nghĩa. Cái thang giá trị sĩ nông công thương mà Nho
giáo đã hun đúc cho bao thế hệ ông cha ta, tuy chẳng còn ứng
dụng từ lâu trong một thế giới kỹ thuật và tư bản, nhưng vẫn còn
lưu lại những dấu vết trong tim óc người Việt. Đọc sách là bước
đầu và bước thang của kẻ sĩ, người học thức. Cái truyền thống
chữ nghĩa ấy, dù trong nghèo khó gian truân vẫn là nhu cầu của
người Việt và chúng ta đã mang theo mớ hành trang ấy trên bước
đường lưu vong. Dù cho có sử dụng nhiều hay ít, mớ hành trang ấy
vẫn là gia bảo giúp chúng ta ổn định tinh thần và vật chất cũng
như gìn giữ được phần nào ngôi nhà Việt Nam, hiểu theo nghĩa hẹp
và nghĩa rộng.
Từ những nhận định trên, bài viết nhằm khảo sát
các thư viện ngoài Việt Nam đã và đang cống hiến cho người Việt
hải ngoại những bộ sách tiếng Việt khả dĩ góp phần vào nhu cầu
đọc sách và nghiên cứu của người Việt. Bài viết dựa vào các số
thống kê, nhưng công việc tra cứu thống kê của hàng trăm thư
viện lớn nhỏ trên thế giới không thể thực hiện được trọn vẹn bởi
khuynh hướng hạn chế phổ biến thống kê của một số thư viện và
bản chất dị biệt của các thống kê bởi lẽ tùy thuộc vào phương
pháp và mục tiêu sử dụng, do đó bài viết chỉ có thể xem như một
tổng quan, một nhận diện những nơi quần cư của người Việt.
Nều như khi xưa, trong cuộc Nam Tiến, hai làng
Minh Hương đầu tiên của người Trung hoa sớm được thiết lập ở
vùng Cù Lao Phố và Cao Lãnh trong việc cộng cư với người Việt,
thì hôm nay, trong cuộc « Tây tiến », những thư viện tiếng Việt
là những địa danh những làng xóm của người Việt trên thế giới.
Phương pháp sưu tầm dữ kiện
Những dữ kiện được thu thập qua hai nguồn liệu :
1-
Những tài liệu chính thức của các giới chức thư viện cung cấp
qua các điện đàm, điện thư, văn thư. Chúng tôi nhận được sự hồi
âm tích cực của khoảng một phần ba số thư chúng tôi gởi đi xin
tài liệu. Những con số thống kê chính thức nầy được ghi chú thêm
tên tác giả khi cần thiết.
2-
Đối với các thư viện mà chúng tôi không có được số thống kê
chính thức, bằng những tài liệu và phương pháp thư viện học,
chúng tôi truy cập các tiêu đề (notice) dựa vào họ của tác giả
để ước định độ lớn của bộ sách. Người Việt Nam xưa có trăm họ,
nhưng sự cộng cư với người Trung hoa, người Miên và người Chàm
đã khiến người Việt Nam ngày nay mang hơn 140 họ.Việc tìm kiếm
sách trên hàng trăm thư mục với 140 tên tác giả như trên là điều
khó thực hiện, do đó chúng tôi thử tìm với 10 họ người Việt phổ
biến nhứt để kiểm nghiệm với một số thư mục xem các tác giả của
10 họ « top ten » nầy chiếm một tỉ lệ nào trong toàn thể bộ
sách, để từ đó dùng tỉ lệ nầy ước định độ lớn của các bộ sách
khác.
Sau khi tra cứu tỉ mỉ thư mục Bulac (Pháp) với
tiêu đề tên tác giả và tựa sách, chúng tôi biết được với 10
họ : Nguyễn, Lê, Trần, Hoàng, Vũ, Phạm, Phan, Ngô, Đặng, Hồ,
thư viện Bulac có 5940 tựa sách (tháng 12/2006). Tra cứu thêm
với 130 họ còn lại, Bulac có 3990 tựa sách. Như vậy, thư viện
Bulac có 9930 tựa sách, trong đó các tác giả mang 10 họ vừa kể
chiếm 60% toàn thể bộ sách.
Tiếp tục tra cứu với Thư viện trung ưong của
thành phố Seattle, chúng tôi có được tỉ lệ 53% và với Thư viện
trung ương của thành phố Ottawa (thủ đô của Canada), tỉ lệ là
62% ( xem bảng 1 và bảng 2).
Từ nhận xét trên, chúng tôi áp dụng một tỉ lệ
trung bình là 60% với tác giả 10 họ Việt Nam phổ biến như trên
để ước định số sách tiếng Việt của một bộ sách.
Phương pháp nầy, phương pháp duy nhất để có thể
phỏng định độ lớn của một bộ sách khi không có thống kê chính
thức và ngay cho có số thống kê chính thức cũng không nhất thiết
chính xác vì những lý do sau đây :
- Cách sắp xếp thư mục của thư viện :
nhiều thư mục kể tất cả tên các tác giả, hay ba tên (theo thể
thức thư viện học) hay chỉ tên một tác giả trong trường hợp các
tác phẩm viết chung bởi nhiều tác giả.
- Mức độ sai lầm của những biên mục viên
(cataloger) Tây phương khi nhầm lẫn họ và tên của người Việt. Để
tránh khó khăn nầy, nhiều thư mục làm bảng dẫn mục (index) cả họ
và tên cho cùng một quyển sách.
- Không thể truy cập được các quyển sách
chỉ làm biên mục theo tựa (trường hợp quá 3 tác giả, theo phương
pháp làm biên mục) hay tác giả là các bút hiệu.
Hậu quả của hai lý do đầu là gia tăng thêm số
sách thực sự có và lý do thứ ba là làm giảm đi số sách của thư
mục.
Với những nhận định trên, sai suất của những ước
định số thống kê các thư mục có thể đến 10%.
Ngoài ra, với sự bùng nổ của các phương tiện
truyền thông và sự cắt giảm ngân sách của các thư viện, việc
thiết lập những số thống kê chuyên biệt không phải là một ưu
tiên của nhiều thư viện.
Một giới chức của Thư Viện Library of Congress,
thư viện lớn nhứt của thế giới đã hồi âm cho chúng tôi như sau :
« The Library of Congress is very big and
complex. The Vietnamese collections at the Library of Congress
are under the juridiction of two divisions : the Eastern Law
Division and the Asian Division. Thus, to give statistics of
Vietnamese collections at the Library of Congress is an
impossible thing to do… »
(L.H. Viet Nam and Southeast Asia)
Bảng 1 : Thư mục bộ sách tiếng Việt của các Thư viện Bulac
(Pháp)
|
10 họ
«top ten» |
số tựa |
Các họ khác |
số tựa |
|
|
|
|
|
|
Nguyễn |
2263 |
An, Âu, Bạc, Bạch, Bành, Bế, Biện, Bùi |
239 |
|
Trần |
690 |
Ca, Cái, Cam, Cao, Cát, Cầm, Cấn, Cù,
Chế, Chiêm, Châu, Chu, Chung, Chử, Cung |
178 |
|
Lê |
648 |
Danh, Diệp, Doãn, Dư(Dzư), Dương, Đái,
Đàm, Đào , Đặng, Đèo, Đinh, Đoàn, Đô, Đỗ, Đồng, Đổng |
803
|
|
Hoàng |
450 |
Giang, Giáp, Hà, Hàn, Hoa, Huỳnh, Hồng,
Hùng, Hứa |
621 |
|
Vũ |
495 |
Kiên, Kiều, Kiểu, Kim, Kỷ, Kha, Khiêu,
Khiếu, Khổng, Khu, Khuất, Khúc, Khương, Khưu |
83 |
|
Phạm |
430 |
La, Lã(Lữ), Lai, Lại, Lâm, Linh, Lộ, Lợi,
Lương, Lưu, Lý |
141 |
|
Phan |
361 |
Ma, Mã, Mạc, Mai, Mạch,
|
136 |
|
Ngô |
230 |
Ninh, Ngạc, Nghiêm, Ngụy, Nhan, Nhữ,
Nông, Ông |
73 |
|
Đặng |
198 |
Phí, Phó, Phù, Phùng, Quách, Quan, Quản,
Sơn, Sử |
117 |
|
Hồ |
175 |
Tạ, Tăng, Tiêu, Tô, Tôn, Tống, Từ, Tưởng,
Thạch, Thái,
Thang, Thành, Thẫm, Thân, Thiều, Thục,
Trà, Trang, Triệu, |
659 |
|
|
|
Trình, Trịnh, Trương, Trưng |
|
|
|
|
Ung, Uông, Uyển, Ưng, |
4 |
|
|
|
Vạn, Văn, Vi, Viêm, Võ, Vương, Xuân |
296 |
|
|
|
Viện (tên cơ quan) |
640 |
|
Tổng số
10 họ |
5940 |
Tổng số :130 họ và tên 1 cơ quan (Viện) |
3990 |
Tổng số tựa của thư
viện : 9930 tựa
Số tựa của 10 họ « top
ten » : 5940 tựa (tỉ lệ : 60% so với toàn bộ sách)
Bảng 2 :
Thư mục của Thư Viện Trung ương Seattle và Ottawa
|
Họ |
Thư viện Trung ương |
Thư viện Trung ương |
|
|
Seattle |
Ottawa |
|
Nguyễn |
513 tựa |
653 tựa |
|
Trần |
174 |
214 |
|
Lê |
171 |
162 |
|
Hoàng |
157 |
154 |
|
Vũ |
153 |
157 |
|
Phạm |
130 |
98 |
|
Phan |
76 |
62 |
|
Hồ |
71 |
84 |
|
Đặng |
59 |
73 |
|
Ngô |
58 tựa , 70 quyển
1 tựa = 1,2 quyển |
36 tựa, 50 quyển
1 tựa = 1, 4 quyển |
|
Tổng cộng
|
1562 tựa = 1875 quyển |
1 693tựa, 2 370 quyển |
|
Thống kê chính thức của thư viện do giới
chức cung cấp |
3500 quyển
(Tom Horne) |
3822 quyển
( Paul Schwebke) |
|
Tỉ lệ sách của 10 họ so với tổng số sách
của thư viện |
54% |
62% |
Các thư viện tiếng Việt ở Bắc Mỹ
Hoa Kỳ
Thư viện công cộng
Với hơn một triệu người Việt tản mác khắp 50 tiểu
bang Hoa Kỳ, sách tiếng Việt được các thư viện các thành phố
(city public libraries) hay các quận (county public libraries)
phát triển để phục vụ cộng đồng người Việt.
California
California là tiểu bang có sách tiếng Việt nhiều
nhất ngoài Việt Nam. Trong số 166 thư viện trung ương, 602 chi
nhánh, 325 trạm thư viện (library stations) và 1093 thư viện
ngoại ô (library outlets), California có hơn 100 thư viện
công cộng có sách tiếng Việt.
Các thư viện có sách tiếng Việt được tập trung
trong 4 khu vực : khu Los Angeles-Orange Counties, khu Greater
Bay, khu Sacramento- Mother Lode và khu San Diego- Imperial
Counties. Số sách tiếng Việt chỉ có tính cách tượng trưng ở bốn
khu : Riverside-San Bernardino-Inyo Counties; Monterey Bay;
North Bay &Wine County; và Central Valley. Hai khu còn lại San
Luis Obispo-Santa Barbara-Ventura và North State gần như không
có.
Vì lẽ không có thống kê chính thức cho từng khu
vực, chúng tôi áp dụng phương pháp truy cập 10 họ quan trọng như
trên trong thư mục của California Public Library (www.publiclibraries.com/california.htm)
để ước định bộ sách tiếng Việt.
Kết quả cho thấy bộ sách tiếng Việt gồm sách và
các tài liệu thính thị (vidéo, CD, DVD) tại số thư viện trên
ước định khoảng 80 000 quyển sách và các phim ảnh, băng nhạc.
(xem bảng 3 và 4)
Đây là bộ sách thực sự gần gũi với độc giả người
Việt bởi lẽ đa số là sách báo xuất bản ở hải ngoại hay các tác
giả ở miền Nam trước 1975. Một số rất ít tác giả trong nước,
nhưng là loại sách chuyên đề (nấu ăn, nuôi con…) hay sách dịch.
Thư mục nầy dễ truy cập và các chữ Việt đọc được
, không như một số rất lớn các thư mục trên các trang web có
những tiêu đề với những mẫu tự gồm những dấu lạ kỳ, không đọc
được vì chương trình điện toán không thích nghi với chữ Việt
(trường hợp những chữ có dấu đặc biệt Việt Nam hay một mẫu tự có
hai dấu)
Bảng 3 : Số tựa tài liệu (sách, tài liệu thính
thị) tiếng Việt truy cập từ thư mục California Public Libraries theo
10 họ quan trọng
|
Vùng |
Nguyễn |
Lê
|
Trần |
Hoàng |
Vũ |
Phạm |
Phan |
Hồ |
Đặng |
Ngô |
Tổng
số |
|
1 -LA |
2 849 |
1 230 |
1 024 |
934 |
898 |
564 |
323 |
366 |
227 |
218 |
8 633 |
|
2-GB |
2 879 |
1 286 |
1 016 |
1 037 |
1 006 |
524 |
300 |
444 |
221 |
215 |
9 928 |
|
3- SA |
1 252 |
513 |
411 |
360 |
339 |
259 |
120 |
161 |
82 |
80 |
3 577 |
|
4- SD |
859 |
401 |
299 |
381 |
475 |
128 |
72 |
213 |
52 |
59 |
2 939 |
|
5- RS |
253 |
109 |
85 |
63 |
51 |
52 |
32 |
26 |
7 |
12 |
690 |
|
6-MB |
256 |
78 |
90 |
74 |
64 |
47 |
20 |
30 |
15 |
18 |
692 |
|
7-NB |
226 |
72 |
76 |
42 |
41 |
34 |
15 |
34 |
12 |
18 |
570 |
|
8- CV |
| |