Dung hòa hợp lý

(Accommodement raisonnable)


 

Lâm Văn Bé

E-Mail: lamvanbe@khoahoc.net

21 tháng 08 năm 2008

Đôi dòng của tác giả

Viết bài nầy, tác giả muốn trình bày một thực trạng các cuộc tranh luận, tranh chấp thường xuyên về vấn đề di dân ở Canada. Những đòi hỏi chính đáng và không chính đáng của người dân nhập cư, những chống đối và thái độ tiêu cực, hợp lý và không hợp lý của chính phủ và người  dân bản địa đối với dân nhập cư là nguồn gốc của những bất ổn xã hội, kinh tế cho tất cả mọi người dân sống trong cùng một lãnh thổ. Từ một tuần nay, truyền thông ở Montréal không ngày nào không đề cập đến vụ bạo động của một số thanh thiếu niên ở một khu phố có đông dân sắc tộc, đa số là người Haïtiens khi một  người dân da màu 18 tuổi bị cảnh sát bắn chết trong một công viên.

Trong khung cảnh ấy, chúng tôi lại nhận được sáng nay qua internet một bài viết bằng Pháp ngữ : L’Europe se fait islamiser à grands pas  trong đó có trích dẫn nhiều tựa đề từ các tạp chí Le Nouvel Observateur, l’Express, Le Monde, le Figaro, Libération…kê khai những đòi hỏi của người Hồi giáo ở Pháp và Bỉ mà theo tác giả cho  là  phi lý, không phù hợp với văn hóa và tổ chức xã hội Âu châu.

Chuyện dân nhập cư hôm nay  quả tình không phải là chuyện riêng tư của một xứ. Bài viết, tuy đề cập đến vấn đề dung hợp các dị biệt giữa các sắc tộc ở Québec và Canada, nhưng  thiết tưởng mang bản chất phổ quát ở mọi nơi có sự cộng cư giữa người người nhập cư và người bản địa. Mời độc giả thả trôi phản ứng theo các sự kiện và nhìn lại nơi mình đang sống để thẩm định mức độ hạnh phúc hay bạc phúc của kiếp lưu dân của chúng ta. LVB. 15-08-2008

 

Tranh chấp và tranh luận triền miên

Nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc - Qui prend mari prend pays.   

Từ ngàn xưa, Đông Tây đều có lời khuyên bảo giống nhau về cách ứng xử của người mới đến trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Người dâu mới phải tùng phục lề lối của gia đình chồng cũng như người di dân  phải tùng phục luật pháp của quốc gia nhập cư. Tuyệt đối.

 

Nhưng đã qua rồi cái thống trị của chế độ đại gia đình ức hiếp các nàng dâu và cách đối xử bất bình đẳng của các quốc gia mở cửa đón nhận cần lao và chất xám. Người di dân hôm nay không phải là tù binh của thời đế chế, là  lính thợ của thời thuộc địa, và càng không phải là những kẻ thọ ơn mưa móc của các xứ kỹ nghệ cần tài lực và nhân lực để kiến tạo xứ sở của họ. Người dân nhập cư hôm nay không phải là người khách, người làm công được thuê theo mùa. Họ đến với sự chấp thuận của nước chủ, họ sống ở đó đời đời kiếp kiếp như đất nước của họ. Họ thi hành  bổn phận và thụ hưởng quyền lợi như tất cả mọi công dân sống trên cùng một lãnh thổ. Bình đẳng.

 

Nhưng tiếc thay đó là lý luận, ước vọng. Thực tế nhiều khi là thất vọng, ảo vọng. Hãy đứng vào vị trí của người dân, con cháu của bao thế hệ đã sinh sống, lập nghiêp trên một dãy đất mà từ bao nhiêu thế kỷ đã hình thành một nếp sống, một văn hóa thuần nhất, bỗng chốc bị dao động với sự « xâm nhập » của hơn 100 sắc tộc mà từ ngôn ngữ đến hệ thống giá trị có quá nhiều dị biệt. Đành rằng quyền lợi kinh tế tối hậu của quốc gia chủ cần đến sự có mặt của các người nhập cư, nhưng trong tim óc những người dân đất chủ tránh sao được cái tâm trạng  xốn xang, bất bình khi cuộc sống của mình bị xáo trộn. Phải cố gắng chấp nhận mà thôi.

 

Cái tâm trạng hụt hẫng, bất an của  gần phân nửa dân số Québécois mơ ước một ngày được trở thành một quốc gia tự trị đã được khơi dậy thường xuyên  tinh thần quốc gia dân tộc từ năm 1976 bởi một đảng cùng tên mà cái danh xưng «chúng ta» (nous) gom tụ những người  gọi là Québécois gốc (Québécois de souche), nhìn những người dân nhập cư, kể cả những người Anh thoại đã cùng sống chung vói họ từng bao thế kỷ là «chúng nó » (Eux) đã tạo nên những chia rẻ ngấm ngầm giữa các tầng lớp dân chúng cùng sinh hoạt trên một mãnh đất tên gọi là Québec.

 

Dù cho các lãnh tụ của đảng nầy, vì chiến thuật, đôi khi dùng những lời mật ngọt để hy vọng lôi cuốn «chúng nó», nhưng những diễn từ nầy chỉ như gió thoảng mây bay, chúng ta và chúng nó luôn là hai thực thể phân cách như sự  mô tả của Hugh MacLennan trong quyển tiểu thuyết nổi tiếng Les deux solitudes.(thực ra năm 1945, Mac Lennan viết quyển sách nầy để mô tả nỗi cô đơn của hai dân tộc nói tiếng Anh và tiếng Pháp , và người di dân hôm nay được hân hạnh bị xếp  chung hàng ngũ với người nói tiếng Anh dưới mắt của  những người  Québécois Pháp thoại muốn tự trị) .

 

Điểm đặc biệt là người Québécois (cả người Canadiens) tuy hay tranh chấp nhưng lại hiếu hòa và phương thức giải quyết các tranh chấp thường là tranh luận. Mỗi lần có tranh chấp, họ thành lập ủy ban, hội đồng, hội nghị để bàn cải và đẻ ra một số đề nghị. Thời gian qua đi, một số đề nghị được thực hiện, số khác được chồng chất trong các hồ sơ lưu trử, rồi người dân quên đi chuyện cũ, chờ có biến cố mới và ủy ban mới.

Sau hockey, tranh luận và ủy ban cũng là một trò chơi lý thú của chính quyền và người dân xứ nầy.

 

Cái ủy ban mới nhất đã được thành lập cách đây hơn một năm vừa công bố bản phúc trình  đã gây thêm tranh luận sôi nổi trong nhiều giới là Commission de consultation sur les pratiques d’accommodement reliées aux différences  culturelles gọi tắt là Ủy Ban Bouchard-Taylor (Commission Bouchard-Taylor), điều khiển bởi hai giáo sư đại học uy tín, được sự nể trọng của giới trí thức và chính trị trong nước và cả quốc tế là Gérard Bouchard và Charles Taylor.  

 

Bởi lẽ bản phúc trình của nhà sử học và nhà  triết học nầy đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến người nhập cư, nhất  là mối tương quan giữa dân nhập cư và dân đất chủ dưới khía cạnh  dung hòa những dị biệt (accommodements), chúng tôi xin cống hiến quý độc giả một số dữ kiện và đề nghị trong bản phúc trình của Ủy Ban nầy. Với hơn 300 trang của bản phúc trình và vài ngàn trang của 13 thiên khảo cứu của các chuyên gia dùng làm tài liệu tham khảo cho Ủy Ban, chúng tôi không thế nào đọc được tường tận  trong thời gian mươi ngày.

 

Bài viết, do đó, chỉ là tổng hợp những nét chính yếu của bản phúc trình và những bình luận sốt dẻo của một số giới chức sau khi bản phúc trình được công bố để độc giả tường lãm một vấn đề thời sự liên hệ  đến tình trạng dân nhập cư  chúng  ta.

 

Dung hòa hợp lý  những dị biệt

(accommodements raisonnables) 

 

Cho đến giữa thế kỷ XX, luật pháp các quốc gia đã được soạn thảo bởi đại diện của khối dân  đa số để áp dụng cho toàn thể các sắc dân trong nước không phân biệt những dị biệt. Đối với các nhóm thiểu số, họ phải tuân hành triệt để luật lệ của nhóm đa số, đồng hóa với mọi điều kiện chính trị, văn hóa, kinh tế của nhóm đa số.

 

Tuy nhiên, từ những thập niên gần đây, các quốc gia kỹ nghệ Âu Mỹ, vì lý do chính trị và kinh tế, họ phải chấp nhận di dân và sự có mặt của nhiều sắc dân mang nhiều sắc thái khác biệt đòi hỏi người cầm quyền phải áp dụng những biện pháp hòa hợp thích nghi giữa các công dân, để duy trì  an sinh, ổn định xã hội hầu phát triển sự phú cường cho quốc gia.

 

Những danh từ như dung hòa (accommodement) điều chỉnh (ajustement) thỏa hiệp (compromis), hòa hợp (harmonisation), nếu có khác nhau chút ít về mối tương quan giữa hai phe và mức độ hòa giải, đều  nhằm mục đích tái lập một sự quân bình, làm giảm đi hay xóa bỏ  hậu quả của một đạo luật mà nếu áp dụng một cách cứng rắn có thể tạo ra  kỳ thị. Nói khác đi, dung hòa  để tạo sự bình đẳng trong dị biệt.

 

Canada là một trong những quốc gia tiến bộ về tự do dân chủ trên thế giới và người dân được bảo vệ nhân quyền và công quyền bởi nhiều hiến chương,  như Charte canadienne des droits et libertés và  Charte des droits de la personne du Québec (đa số mỗi tỉnh đều có một hiến chương). 

 

Điều 10 của Hiến Chương Québec nêu lên 13 lý do có thể tìm biện pháp hòa giải : đó là những trạng thái  lâm thời (circonstanciel) như  thai sản, hôn nhân; những trạng nhất định (permanent) như giới tính, màu da, tật nguyền; những yếu tố văn hóa, xã hội như tôn giáo, ngôn ngữ…

 

Nếu  hòa giải hợp lý những dị biệt đã trở thành một phương thức xử lý của các cơ quan nhà nước (công sở, cơ quan y tế, giáo dục… ) từ mấy mươi năm nay, phương thức nầy  thực sự bắt nguồn từ một phán quyết của Tòa Án Lao động của tỉnh bang Ontario. Năm 1978, Commission ontarienne des droits de la personne chấp nhận cho một công nhân người Sikh có quyền đội kirpan trong khi làm việc. Nhưng dung hòa hợp lý thực sự trở thành phương thức hành động phổ biến để hòa giải các bất đồng trong một quốc gia đa sắc tộc, đa văn hóa như Canada với vụ kiện O’Malley. Năm 1985, một nữ công nhân của hảng Simpsons-Sears, tín đồ đạo Église universelle de Dieu được Tối Cao Pháp Viện xử thắng kiện khi nữ công nhân nầy kiện chủ nhân kỳ thị tôn giáo, bắt bà ta làm việc ngày thứ bảy, điều mà tôn giáo của bà không cho phép. Lý luận của Tòa án thật đơn giản : sự bình đẳng và công minh (équité) áp dụng cho tất cả mọi công dân : nếu tín đồ Thiên chúa giáo được có những ngày nghỉ tôn giáo thì các tôn giáo khác cũng phải có những ngày nghỉ tôn giáo của họ.

 

Về điểm nầy, nhiều người Québécois đã lớn tiếng phản đối trong các buổi hội thảo với Ủy Ban : «dân nhập cư làm chúng ta thụt lùi với những tôn giáo kỳ lạ của họ». Và khi Ủy Ban, trung thành với nguyên tắc bình đẳng,  đề nghị các cơ sở chấp thuận các ngày nghỉ tôn giáo, Diane de Coucy, chủ tịch Commission des écoles de Montréal phản ứng dứt khoát  là không thể thực hiện được.

 

Thế nào là hợp lý và không hợp lý

Hòa giải hợp lý không phải là vô giới hạn. Tùy trường hợp, dựa vào tinh thần của các hiến chương, các đòi hỏi hòa giải không thể vượt quá những định chuẩn (balise). Ủy ban Bouchard-Taylor phân biệt ba loại định chuẩn : những vi phạm quá đáng (contraintes excessives), những giá trị đạo đức (repères éthiques) và những yếu tố tác động thuận lợi (considérations incitatives).

 

1- Những vi phạm quá đáng 

Để được cứu xét, đòi hỏi hòa giải  không được vi phạm  các hiến chương, không tạo nên những chi phí quá lớn cho cơ quan, không xúc phạm đến quyền lợi kẻ khác. Để dễ hiểu, Ủy Ban đã  căn cứ vào phương pháp áp dụng trong hai lãnh vực  thường xuyên trực diện với những khác biệt văn hóa cần được hòa giải những dị biệt, đó là lãnh vực y tế và giáo dục.

 

* Trung tâm y tế và xã hội Laval  (Centre de santé et de services sociaux de Laval) 

Trong bản phúc trình  (mémoire) gởi cho Uỷ Ban có nêu lên 4 tiêu chuẩn để có thể cứu xét đòi hỏi dung hòa hợp lý như sau :

-  không trái với quyết định về bịnh lý, cách hành nghề và quy chế y khoa;

- không vi phạm các nguyên tắc về an toàn của bịnh nhân ( ngừa truyên nhiểm, tránh nguy cơ…);

 -  không tạo nên những chi phí quá đáng hay gây trở ngại cho cơ cấu tổ chức về phương diện nhân viên, vật liệu,  tài chánh;

 - không vi phạm quyền lợi và tự do của bịnh nhân khác và các người hành nghề.

 

* Các cơ quan giáo dục :

Theo GS Marie McAndrew, chuyên gia về giáo dục đa văn hóa, những đòi hỏi về dung hòa hợp lý trong lãnh vực giáo dục chỉ được cứu xét khi :

- không vi phạm quyền lợi của chính học sinh và các học sinh khác;

- không vi phạm các luật  lệ về giáo dục (thí dụ như Loi sur l’instruction publique) và chế độ sư phạm;

- không tạo nên những chi phí quá đáng.

 

Một thí dụ điển hình mới nhất về sự dung hòa  hợp lý bị bác bỏ vì đòi hỏi gây trở ngại cho cơ cấu tổ chức, tạo thiệt hại quyền lợi cho kẻ khác và cho chính đối tượng.

 

Đầu tháng 6 nầy (tức một tuần sau phúc trình Bouchard-Taylor),Tòa án Nhân Quyền của Québec đã có phán quyết thuận lợi cho một nhà giữ trẻ (CPE=Centre de la petite enfance) khi một phụ huynh Hồi giáo kiện nhà giữ trẻ đã cho hai đứa con của ông ăn thịt không phải là thịt halal (để được xác nhận là thịt halal, con vật phải được giết theo các nghi lễ Hồi giáo). Lập luận của nhà giữ trẻ  là một cơ quan công cộng, trung lập với mọi tôn giáo, không thể phục vụ đặc biệt tín đồ một tôn giáo. Phụ huynh yêu cầu ngày nào buổi ăn chính có thịt thì cho con của ông ăn gấp đôi món khai vị và tráng miệng, điều mà nhà giữ trẻ không chấp nhận vì trái với nguyên tắc dinh duỡng. Phán quyết của Tòa Án thật rõ rệt : «cách thức giáo dục theo tôn giáo cho 2 con trai của ông Khouas đã không tôn trọng quyền lợi của trẻ con khác và cho chính hai con của ông» (La Presse, 3 juin, 2008, p. A10)

 

Tuy mục tiêu tối hậu của phương thức dung hòa dị biệt là xóa bỏ hay giảm thiểu những khó khăn có thể xảy ra  khi có sự đối nghịch giữa các văn hóa, tạo bất an cho người nhóm thiểu số và bất ổn cho xã hội,  nhưng phải hiểu rằng các quyền lợi và tự do cá nhân không tuyệt đối, mà phải bị giới hạn bởi  quyền lợi của kẻ khác và nhất là quyền của tập thể (intérêt collectif).

 

Điều 9.1 của  Charte des libertés et de la personne du Québec xác định rõ : « les libertés et droits fondamentaux s’exercent dans le respect des valeurs démocratiques, de l’ordre public et du bien-être général des citoyens du Québec» .

 

Một số luật lệ căn bản như Luật giáo dục, Luật y tế, Luật lao động, Luật 101 bảo vệ tiếng Pháp là nền tảng của sự ổn định quốc gia không thề nào vi phạm bất cứ vì lý do gì.

Thí dụ : nhân danh tôn giáo để xin biệt lệ không cho tiếp máu, nhân danh tự do học vấn để xin ghi tên cho con học tiểu học hay trung học trường Anh thoại (đối với người dân  Pháp thoại hay di dân mà tiếng mẹ đẻ không là tiếng Anh) là những đòi hỏi vi phạm luật không thể chấp nhận được.

  

2- Những giá trị đạo đức : ngoài nội dung của yêu sách, hình thức và cung cách trong việc tìm kiếm một giải pháp ổn thỏa còn là yếu tố thuận lợi. Tinh thần thỏa hiệp, cởi mở, tương kính, thiện chí, lắng nghe kẻ khác, là những yếu tố cần lưu tâm đến trong việc giải quyết các xung khắc.

Về điểm nầy, Ủy Ban khuyến khích hai bên nên tìm kiếm một thỏa hiệp ôn hòa thay vì nhờ đến luật pháp phân xử. Chúng ta hẳn không quên vụ kiện ồn ào của một phụ  huynh người Sikh chính thống đòi hỏi cho con được quyền đeo kirpan (một biểu tượng của tôn giáo giống như một cây dao găm nhỏ). Phán quyết của Tối cao Pháp Viện chấp nhận quyền nầy đã gây sự phẩn nộ trong dân chúng (91% : Sondage SOM, sept-oct, 2007)).  Quyết định của Tòa Án đã dựa vào những yếu tố khách quan và bình đẳng tôn giáo : tại sao trường học chấp nhận các vật dụng khác, nếu nói nguy hiểm thì vẫn nguy hiểm không kém cái kirpan như compas, kéo, patins, bâton de base-ball…, tuy nhiên Tòa Án cũng ấn định những biện pháp như đeo trong bao đưới quần áo và nhà trường có quyền kiểm soát.

Nhưng không phài ai cũng có thái độ cực đoan như gia đình Multani nầy, bởi lẽ trước đó và sau đó, qua sự thương lượng trong  thiện chí, những yêu sách tương tự đã bị các trường học bác bỏ mà không có tiếng vang nào trên báo chí.

 

3- Những yếu tố tác động  thuận lợi: mục tiêu của yêu sách  cũng góp phần vào quyết  định thuân lợi, thí dụ như nếu sự đòi hỏi hòa giải hợp lý đem lại kết quả là đưa đối tượng thoát khỏi tình trạng cô lập cư trú sắc tộc (ghettoïsation), tình trạng sống bên lề xã hội (marginalisation) hay nói khác đi giúp đối tượng  hội nhâp xã hội dễ dàng hơn thì sẽ có nhiều cơ may đạt được yêu cầu.

Một thí dụ : chấp nhận cho học sinh theo đạo Do Thái, Hồi giáo, Sikh được  mang dấu hiệu tôn giáo trong trường học để các học sinh nầy hội nhập vào các trường công lập nói tiếng Pháp, hội nhập vào xã hội Québec Pháp thoại, thay vì từ chối để các học sinh nầy quay về các trường tư Anh thoại hay các trường tôn giáo của họ.

        

Bối cảnh thành lập Uỷ Ban Bouchard-Taylor

Trong cái không khí chính trị thường trực thiếu thiện cảm của người Québécois chính gốc và đảng Québécois đối với dân nhập cư, trong vòng 15 tháng, từ tháng 3 năm 2006 đến tháng 6 năm 2007, một số biến cố lớn và nhỏ, hư và thực đã khiến báo chí và quần chúng có phản ứng bất lợi, chống đối người nhập cư, nhất là người Do Thái và người Hồi Giáo.

A- Trước tiên, một số đòi hỏi dung hòa tập tục dị biệt của các người nhập cư đã tạo nên một dư luận bất lợi trong lòng dân chúng bỏi lẽ đa số người Québécois nhận định rằng những đòi hỏi của dân nhập cư biểu lộ sự xem thường quốc gia đón nhận họ, nhiều đòi hỏi của các nhóm chính thống(orthodoxe) quá khích, họ muốn thiết lâp một nền văn hóa của họ trên đất nhập cư thay vì họ phải chấp nhận luật lệ của quốc gia đón nhận họ (Rapport, p. 283)

 

Chỉ cần đan kể vài sự việc liên quan đến yêu sách dung hòa hợp lý của một số sắc tộc được báo chí nhắc nhở đến nhiều nhất, tạo bất mãn cho người Québécois có tinh thần quốc gia và ngay cả cho những người dân nhập cư .

            1-  Ngày 2 tháng 3 năm 2006, Tối Cao Pháp Viện bác bỏ phán quyết của Tòa Thượng Thẩm Québec để cho phép Gurbaj Singh Multani, một học sinh người Sikh có quyền đeo kirpan khi đến trường học. Quyết định của Tòa Án tối cao gây ra hoang mang, bất bình và nhiều bình luận gia cũng như dân chúng tỏ ra mất tin tưởng cơ quan tư pháp, cho là Tòa án can thiệp quá đáng vào các đòi hỏi của người di dân, bóp nghẹt dân chủ,và nhân danh quyền tự do tôn giáo đã suy tôn chế độ đa văn hóa (multiculturalisme),chế độ mà Québec không chấp nhận (ở Québec chủ trương chế độ liên văn hóa= interculturalisme, theo đó các văn hóa sắc tộc phát triển chung quanh văn hóa căn bản là văn hóa Québécois) . Dư luận chung đòi hỏi chánh phủ phải áp dụng một chế độ thế tục hóa (laïcisation) tôn giáo như nước Pháp.

 

            2- Cũng tháng 3 năm 2006, YMCA du Parc đồng ý thay thế 4 cửa kính trong bằng kính đục trong một phòng tập thể dục, theo lời yêu cầu của nhà thờ (synagogue) Do Thái hassidim Yetev Lev (ở  bên cạnh) để cho trẻ con đến nhà thờ không thấy phụ nữ ăn mặc «nhẹ» khi tập thể dục. Dĩ nhiên chi phí thay thế cửa kính này do nhà thờ đài thọ. Với sự phản đối của một số hội viên của YMCA và báo chí cho là cộng đồng Do Thái xâm phạm quyền tiện nghi của người khác, tháng 3, 2007, YMCA phải tái lập lại kính đục.

 

Cũng liên hệ đến người Do Thái hassidim, ngày 18 tháng 11 năm 2006, một bịnh nhân đến CLSC (trung tâm y tế)Sainte-Rose ở Laval đòi được săn sóc ngay trong khi có nhiều bịnh nhân khác đến trước đang chờ, viện dẫn lý do phải trở về nhà trước khi mặt trời lặn theo truyền thống lễ sabbat. Nhân viên CLSC đã chấp nhận sự đòi hỏi nầy. Dĩ nhiên, công luận phẩn nộ trước sự nhượng bộ quá đáng, bất công của trung tâm và bày tỏ ác cảm với nhóm Do Thái nầy.

 

            3- Tháng 3 năm 2007, một nhóm 40 người  Hồi giáo đến viếng cabane à sucre Mont -St-Grégoire được dọn  món ăn không có thịt và sau đó dọn dẹp bàn ghế khu nhà ăn dành cho họ để đọc kinh theo sự thương lượng trước với chủ nhân. Vì lẽ hôm ấy quá đông thực khách, chủ nhân muốn giải tỏa phòng ăn sớm để đón thực khách khác nên mời nhóm Hồi giáo nầy sang phòng khiêu vũ để đọc kinh, lúc ấy chỉ có vài người đang khiêu vũ. Ban giám đốc tắt nhạc khoảng 10 phút trong thời gian ngưởi Hồi Giáo đọc kinh. Một thực khách hiện diện bất mãn gởi tin cho Journal de Montréal. Báo chí ở Montréal và Toronto loan tin, vì để thích nghi người Hồi giáo, thực khách khác không được ăn soupe có thịt và bị trục xuất khỏi phòng khiêu vũ để người Hồi Giáo đọc kinh. Khỏi phải nói sự phẩn nộ của độc giả  không rõ đầu đuôi câu chuyện.

 

            4- Ngày 23 tháng 1 năm 2007, các đài truyền hình thông báo là các học sinh gốc Hồi giáo ở Commission scolaire Marguerite-Bourgeoys được miễn học âm nhạc bởi như vậy là trái với Coran. Thực sự, tại một số trường, âm nhạc không phải là môn học bắt buộc, học sinh có thể chọn môn khác. Đối với các trường mà âm nhạc là môn học bắt buộc, học sinh không thể không học vì trái với chế độ sư phạm, nhưng thay vì học nhạc cụ, học sinh có thể học lý thuyết, thí dụ nghiên cứu về các soạn giả, lịch sử âm nhạc.

 

Cũng trong tháng giêng 2007, một nữ cẩu thủ bóng tròn gốc Hồi giáo nhất quyết mang hijab (foulard islamique) mặc dù đã biết rõ là không được phép. Cầu thủ nói trên bị trục xuất. Các đội banh Hồi giáo phản đối là bị kỳ thị. Sự thực, các hiệp hội bóng tròn không thống nhất luật lệ : nếu ở Ontario và Colombie-Britannique cho phép, nhưng ở Québec thì ngược lại.

 

Chuyện đọc kinh của sinh viên Hồi Giáo ở École de technologie supérieure (ETS) cũng gây ồn ào trên báo chí vào tháng 3 năm 2006.

Bởi lẽ Trường Cao Đẳng nầy đã từ chối một phòng đọc kinh cho sinh viên Hồi giáo trong khuôn viên trường học (một đền Hồi giáo cách đó hai bước), một nhóm sinh viên Hồi giáo kiện ETS trước Commission des droits de la personne et des droits de la jeunesse du Québec và đòi hỏi : a/ dành một phòng đọc kinh riêng biệt; b/công nhận chính thức Hội Sinh viên Hồi Giáo ETS; c/ ETS xin lỗi chính thức vì kỳ thị tôn giáo; d/đền bồi thiệt hại cho mỗi sinh viên 10 000$ (tổng cộng lên đến 1 triệu $). Theo phán quyết của Commission, trường ETS chỉ chấp nhận cho sinh viên đọc kinh ở phòng nào còn trống và nhất định không gở những bảng «cấm rửa chân» mà theo Commission, những bảng cấm nầy không có gì kỳ thị.

 

Qua một số trường hợp trên, những đòi hỏi hợp lý và phi lý đều liên hệ đến người Hồi giáo và Do Thái, hằn sâu thành kiến xấu hay  ác cảm giữa người Québécois và hai nhóm người nầy rồi lan ra cho cả các người di dân sắc tộc.

Theo Forum, journal de l’UdM ngày 28-01-2008, 80% những yêu cầu dung hòa hợp lý liên quan đến tôn giáo và chỉ riêng hồi giáo chiếm 27%.

 

Cuộc thăm dò dư luận của Léger Marketing tháng 1, 2007 cho biết có 50% người Québécois không phân biệt chủng tộc không có thiện cảm với người Á Rập (Magali Simard, p. 92) và 41% người Québécois than phiền là người Do Thái áp đặt tục lệ của họ trên các người khác ( Magali Simard, p.93). Nhưng về phía các người sắc tộc, họ than phiền bị kỳ thị và mũi dùi chỉa vào người Đen (51%), người Á Rập và Hồi Giáo (47%)  (Labelle, p. 79) và người Do Thái cho rằng họ là nạn nhân của các bạo hành trong năm 2006 nhiều hơn 60% so với năm trước (Magali Simard, p. 93).

 

Người Québécois, có thể vì bị khích động bởi một số báo chí hay loan tin giựt gân và các nhà chính trị quá khích cũng không giấu diếm là họ kỷ thị : cuộc thăm dò dư luận của Léger Marketing vào ngày 15 tháng 1 năm 2007 cho biết là 59% người Québécois xác nhận là họ kỳ thị (Simard, p.86)

 

B- Trong cái khung cảnh sôi động ấy, hai biến cố chính trị đưa chuyện dung hòa hợp lý và sự hội nhập của dân nhập cư thành một vấn đề cấp thiết của quốc gia cần giải quyết.

            1- André Drouin, nghị viên của  Hérouxville, một ngôi làng 1300 dân trong vùng Mauricie đã tung ra một « Qui luật của cuộc sống » (Code de vie)  ngày 26 tháng 1 năm 2007 trong đó ông đòi sửa lại Hiến Chương Québec, dân nhập cư phải hội nhập vào xã hội Québec theo các truyền thống văn hóa của Québec. Tuy làng Hérouxville không có dân nhập cư, bản qui luật nầy nói lên sự phẩn nộ của dân chúng trước sự nhượng bộ khó hiểu của công quyền trước những đòi hỏi phi lý của một số sắc tộc, muốn biến quốc gia của khối đa số thành những ghetto các văn hóa ngoại lai.

 

Bản «qui luật Hérouxville» đã đi vòng quanh thế giới, báo động một hiểm họa của những nhóm quá khích tôn giáo làm suy giảm quyền lực quốc gia. Đối với Québec và Canada, một cái làng và một nghị viên vô danh  đã dám nói lên mạnh bạo những điều mà các người cầm quyền, chỉ vì nguyên tắc «ngay thẳng chính trị» (rectitude politique) không dám nói. Người Hồi Giáo và Do Thái bị đưa lên giàn hỏa và tất cả người di dân bị vạ lây.

 

2- Trái bom cuối cùng bùng nổ với những tuyên bố của một ngôi sao chính trị đang lên : Mario Dumont kết án chính phủ Charest cúi mình, cong lưng trước những đòi hỏi gọi là dung hòa hợp lý của người di dân và tập thể Québécois đã lần lần bị đè bẹp.

 

Chính phủ Charest không có chọn lựa nào khác là phải hành động.

Ngày 8 tháng 2 năm 2007, Ủy Ban Bouchard-Taylor được thành lập để duyệt xét các phương thức dung hòa hợp lý đang áp dụng, tìm hiểu sâu rộng vấn đề và đề nghị những giải pháp thích ứng.

 

Nỗi lo ngại và cô đơn của người dân đất chủ và dân nhập cư

Người Québécois tự hào là chủ nhân dãy đất và nền văn hóa mà họ đã xây dựng trong 400 năm qua. Họ tự xưng là người Québécois gốc (Québécois de souche) để phân biệt với các sắc dân đến sau. Danh xưng  nầy thiếu trung thực vì những người đầu tiên khai phá đất nầy còn có người Anh và người thổ dân. Để trả lời sự phản đối nầy, họ tự xưng là Québécois Pháp thoại (Québécois francophone). Nếu Québécois là người dân sống ở Québec thì Québécois francophone còn là những người Haïtien, người Libanais hay người Pháp, bởi lẽ những người nầy là Pháp thoại. Tên gọi dân tộc chủ như vậy đã có tranh cải và hôm nay, danh xưng Québécois de souche, vì  bao hàm ý nghĩa phân chia, đã trở thành một thứ tabou ít người muốn sử dụng.

 

Ủy Ban Bouchard-Taylor đề nghị danh từ Québécois canadiens-français (hay Québécois d’origine canadienne), nhưng những người muốn tự trị, bắt đầu là thủ lãnh Pauline Marois, phản đối ngay. Chuyện cũng dễ hiểu, bởi làm sao họ chấp nhận mang dấu tích Canadien khi mục tiêu tối hậu của họ là vứt bỏ.

 

Đối với những người di dân, dù cho đã đến đây một thế kỷ hay một ngày, dù cho da màu hay da trắng đều được gọi là communautés culturelles, danh xưng mà bộ Di Trú của chính phủ đảng Québécois «sáng chế» vào khoảng đầu thập niên 80. Lúc mới thoạt nghe thật chói tai vì các nhà ngôn ngữ cũng chẳng hiểu gì và nếu phân tách kỹ hơn, danh từ nầy  có nhiều hậu ý tiêu cực (chỉ kể đến yếu tố văn hóa, bỏ qua các yếu tố khác như kinh tế, chính trị, xã hội của các công dân nầy; tạo sự phân cách giữa các sắc tộc; tạo một mô hình là các người nầy không thể là các công dân sinh hoạt độc lập mà phải dựa vào cộng đồng của họ…). Ngoài ra, Canada cũng như Québec sử dụng danh từ minorité visible để chỉ định người da màu (da đen và da vàng), điều mà Liên Hiệp Quốc không chấp nhận. Ủy Ban đề nghị tìm những danh từ khác thích đáng hơn.

 

Những danh xưng kể trên là biểu tượng súc tích cho tâm lý và nỗi cô đơn của người dân đất chủ và dân nhập cư ở Québec

 

1- Người Québécois canadiens-français.

Ủy Ban đã viết : «Khi nào mà đa số người Québécois canadiens-francais còn cảm thấy bất an về sự sống còn của nền văn hóa của họ, họ sẽ bớt mẫn cảm với các vấn đề của người di dân và người sắc tộc» (Rapport, p.208). Bản phúc trích đã ghi nhận có ít nhất bốn nỗi bất an : tiếng Pháp, hệ thống giá trị, tập quán, và căn cước (identité). Dĩ nhiên, mức độ lo sợ và ngờ vực thay đổi theo giai cấp và và lý tưởng chánh trị.

 

            - Lo sợ mất văn hóa và ngôn ngữ Pháp  

Cuộc tranh đấu hàng đầu của người Québécois và các chánh phủ tử nửa thế kỷ nay là bảo vệ tiếng Pháp và văn hóa Québécois. Thật khó mà có một tài liệu chính xác về vấn đề nầy, bởi những thống kê về tình trạng tiếng Pháp  ở Québec có nhiều dị biệt,  ngay cho các  tác giả là chuyên gia nổi tiếng, thường chủ quan, lập luận theo màu sắc chính trị. Thực trạng có lẽ nằm giữa những con số bi quan và lạc quan mà Ủy Ban lượt kê.

 

* Phe bi quan (thường là người theo đảng Québécois)

            + Số người  dân có tiếng mẹ đẻ là tiếng Pháp sụt giảm từ 82% xuống còn 79,6% chỉ trong vòng 15 năm (1991-2006), đáng ngại nhất trong vùng Montréal (từ 55,9% xuống 48,8%)

            + 1/3 dân nhập cư ở Montréal không nói tiếng Pháp mà cũng không học tiếng Pháp, làm việc bằng tiếng Anh. Hơn phân nửa số người nầy đã định cư ở Québec hơn 15 năm.

            + Số học sinh tốt nghiệp trung học tiếng Pháp tiếp tục học CEGEP tiếng Pháp sụt giảm trầm trọng  ( 65% năm 1993 , sụt xuống 60% năm 2006).

 

* Phe lạc quan (thường là người không đảng phái hay đảng Libéral)

            + Số người dân nhập cư nói tiếng Pháp hay song ngữ (Anh-Pháp) tăng lên từ 37,2% (năm 1995) đến 60,4% năm 2007

            + Trong số 5640 xí nghiệp ở Québec có hơn 50 nhân viên, 80% sử dụng tiếng Pháp là ngôn ngữ làm việc (năm 2007). Mười năm trước, tỉ lệ nầy chỉ có 70% .

            + Số sinh viên nhập cư mà tiếng mẹ đẻ không là Anh và Pháp (allophone) gia tăng ở đại học tiếng Pháp (41,9% năm 1986 tăng lên 51,5% năm 2004)

 

Ủy Ban kết luận là tiếng Pháp không bị đe dọa, không nên dùng những biện pháp cứng rắn như đảng Québécois thường đề nghị (bắt buộc các học sinh trung học tiếng Pháp tiếp tục CEGEP tiếng Pháp, buộc các xí nghiệp từ 20 đến 49 nhân viên phài Pháp thoại).

Tuy nhiên, vị trí địa chính trị cùa Québec trong lục địa Bắc Mỹ nói tiếng Anh và nhất là sự toàn cầu hóa khiến Québec luôn sống trong tình trạng căng thẳng ngôn ngữ, đòi hỏi  người dân phải quan tâm và song ngữ hóa.

 

Tuy không ám chỉ những người Québécois quá khích, Ủy Ban đã rạch ròi : « Tiếng Anh mà chúng ta học hôm nay không phải như thời Durham để chinh phục Bas-Canada [Québéc] mà để chinh phục kiến thức và trao đổi với các dân tộc trên thế giới. Chúng ta phải lưu ý điều nầy, nếu không thì cả một thế hệ trẻ nói tiếng Pháp sẽ phải chịu thiệt thòi nặng nề…»

 

      - Lo sợ mất văn hóa và căn cước (bản sắc)

Người Québécois thế hệ baby-boomers cảm thấy hụt hẫng vì cuộc Cách mạng thầm lặng (Révolution tranquille) những năm 60 đã xóa bỏ phần lớn những truyền thống xưa, đưa họ thoát khỏi quyền lực của Giáo hội, nhưng họ chưa dủ thời gian để tái xây dựng một hệ thống giá trị và văn hóa mới dựa trên căn bản tự trị, mà người nói tiếng Anh là một ám ảnh cần gạt bỏ. Người Québécois ở trong một trạng thái đặc thù : họ đa số trong Québec nhưng thiểu số trong Canada và Bắc Mỹ. Họ oán giận Giáo hội từ bao thế kỷ đã đô hộ tinh thần và niềm tin của họ và trút nỗi oán hận nầy trên những tôn giáo của dân nhập cư, nhất là đối diện với những nhóm quá khích (dưới mắt họ). Họ oán giận người nói tiếng Anh và cả dân nhập cư bởi họ cho là dân nhập cư đồng minh và đồng lỏa chống ý nguyện độc lập của họ. Chính cái tâm trạng bất an, bất bình ấy khiến quan hệ giữa người đa số và người thiểu số như đi trên dây treo, và những đòi hỏi dung hòa hợp lý của dân nhập cư, đa số là thành khẩn, đã bị xem như  khiêu khích.

 

Do đó, Bouchard-Taylor đã kết luận là Québec không có khủng hoảng thực sư về vấn đề sắc tộc mà chỉ là khủng hoảng về nhận thức (crise de perceptions) tác động bởi tâm trạng lo sợ, ngờ vực, mặc cảm (tự tôn và tự ti) giữa nhóm đa số và nhóm thiểu số và một số cơ quan truyền thông thổi phồng hay bóp méo sự thực.

 

Sau đây là một số nhận thức âm ỉ hay công khai trong lòng dân Québécois :

- Về lâu, về dài, dân nhập cư sẽ tràn ngập chúng ta bởi họ sinh đẻ nhiều;

- Dân nhập cư không tôn trọng luật pháp của chúng ta;

- Dân nhập cư không muốn hội nhập vào xã hội chúng ta. Họ muốn tái lập cái xã hội mà họ vừa rời bỏ trên xã hội chúng ta;

- Trái với nền văn hóa của chúng ta, văn hóa của họ chỉ xây dựng trên tôn giáo;

- Chúng ta chỉ nên chọn dân nhập cư biết tiếng Pháp, có học;

- Québec không cần dân nhập cư, họ đến đây để cướp việc làm của chúng ta.

- Đối với người Hồi giáo, người Québécois điểm mặt : Người Hồi giáo dùng những đòi hỏi dung hòa dị biệt để lần lần áp đặt tôn giáo và hệ thống giá trị của họ trên đất nước ta trước sự nhượng bộ khó hiểu, hèn nhát của các chính trị giá và cơ quan tư pháp.

- Trong một cuộc hội thảo giữa Ủy Ban với dân chúng, một người dân đã ví von : Khi chúng ta được mời đến ăn cơm, chúng ta không thể đòi chủ nhà theo sở thích của chúng ta (ám chỉ người Hồi giáo và người Do Thái)

 

Những phản ứng trên xuất phát từ một quan niệm theo đó người Québécois đồng hóa  yếu tố văn hóa với yếu tố luật pháp. Đồng ý là với 80% dân số có văn hóa Québécois với những di sản vật chất và tinh thần lưu truyền qua 400 năm, người Québécois có quyền đòi hỏi chính đáng là người mới đến phải tôn trọng cái di sản của họ, Nhưng tình trạng thâm niên (ancienneté) của nền văn hóa nầy không thể hiểu như độc tôn về phương diện luật pháp. Nói khác đi, nền văn hóa «Québécois canadienne-française» không thể độc chiếm khoảng không gian bản sắc dân tộc Québécois cận đại mà phải hòa hợp với các nền văn hóa khác hiện diện trên lãnh thỗ theo tinh thần liên văn hóa.

 

2- Người dân nhập cư

Một số  đòi hỏi dung hỏa hợp lý, qua cung cách đòi hỏi, đã được một vài cơ quan truyền thông tường thuật thiếu trung thực, đã thay đổi diện mạo tổng quát của người nhập cư. Nói chung, người nhập cư, bởi nhu cầu sinh tồn khi đến đất mới phải cố gắng khắc phục để hội nhập vào xã hội mới, cải thiện đời sống cá nhân và đóng góp vào đời sống tập thể.

Tiếc thay, một vài hành động đơn độc của một số phần tử quá khích, mà ngay trong cộng đồng của những phần tử nầy cũng không chấp nhận đã làm thay đổi hình ảnh thực sự của cộng đồng di dân.

 

Trong một xã hội đa văn hóa, đa sắc tộc, những dị biệt là điều hiển nhiên. Tuy Québec và một số nước Tây Phương phải trực diện với một số vấn đề trọng đại bởi sự hiện diện của di dân, nhưng tình trạng ở Québec khác hẳn và khả quan hơn các quốc gia khác ít nhất bởi bốn lý do :

 

- Tại Québec không có hiện tượng người di dân sống thành ghetto (ghettoïsation) và bên lề xã hội (marginalisation) như tại một số các quốc gia Âu châu. Tại những thành phố lớn của Đức, ngoại ô của Paris,biết bao thanh thiếu niên sắc tộc sống lạc lỏng, mất một phần văn hóa cội nguồn mà không hội nhập được vào xã hội họ đang sống vì chánh sách đối xử kỳ thị với di dân. Họ sống nghèo khổ trong một xã hội trù phú chung quanh, bị khinh rẻ bởi dân bản xứ. Những cuộc bạo động là chuyện thường tình.

 

- Hơn 60% dân nhập cư đến Québec được tuyển chọn theo các khả năng nghề nghiệp chuyên môn mà đa số có trình độ học vấn cao hơn người dân bản địa, trái với di dân ít học tập trung đông đảo trong các thành phố ở Đức, Hòa Lan, Pháp.

 (theo thống kê 2006, tỉ lệ người Québécois sinh ở Canada tốt nghiệp đại học là 14,7%, trong khi đối với dân nhập cư là 27%).

 

- Đa số dân nhập cư ở Québec hội nhập vào đời sống kinh tế và xã hội như người dân bản địa

- Và sau hết, dân nhập cư ở Âu châu phần lớn là công dân những quốc gia cựu thuộc địa : người Ân độ và Pakistanais ở Anh, người Maghrébiens ở Pháp. Ngoài những yếu tố đối xử bất công, họ làm sao quên được những oán hận cũ với chế độ thuộc địa.

 

Tuy những dữ kiện có khả quan, nhưng thực tế đời sống của dân nhập cư vẫn mong manh về tình trạng xã hội và thường phải đối diện với sự kỳ thị.

Đa số dân nhập cư không tìm được việc làm đúng với khả năng. Ủy Ban đã nhận được nhiều hoàn cảnh đau thương : kỹ sư làm tài xế taxi, luật sư làm thơ ký, thẩm phán làm thợ đào đất, giáo sư rửa chén. Ngoải lý do khả năng ngôn ngữ, giá trị văn bằng, yếu tố kỳ thị không kém quan trọng, nhất là đối với dân nhập cư gốc Á-Phi, Trung Đông, Nam Mỹ. Tỉ lệ dân nhập cư  từ 25 đến 54 tuổi  mới đến Québec dưới 5 năm cao gấp 3 lần người bản địa.

Tỉ lệ người dân nhập cư trong guồng máy công quyền thấp nhất ở Bắc Mỹ. Nếu dân nhập cư chiếm 11,4% dân số Québec, số người làm việc cho chánh phủ chỉ có 3,7%. Số người dân nhập cư trong các cơ quan chính trị, hội đồng quản trị còn ít hơn và trong các cơ quan truyền thông quá hiếm.

 

Về phương diện cư xử bất bình đẳng, mặc dủ trên lý thuyết Québec có những hiến chương ngăn cấm kỳ thị, những chương trình bảo vệ sự bình đẳng trong việc làm…, nhưng việc áp dụng các luật lệ nầy còn lỏng lẻo. Người da màu, người Do Thái, người Á Rập và Hồi Giáo, người Sikh là những đối tượng rõ rệt của sự kỳ thị.

 

Một vài thí dụ trong muôn một .

Một nữ sinh viên Dược khoa hồi giáo, vì đeo foulard đã bị 50 dược phòng từ chối khi xin chỗ thực tập, sau cùng chỉ có một dược phòng của người Á Rập chấp nhận; một nữ sinh viên dân nhập cư, hạng nhất trong lớp ở Đại Học Montréal bị từ chối ở 200 nơi khi đi xin  tập sự, và một kỹ sư đã điều khiển vài trăm nhân viên tại xứ của ông đã gởi đơn đến 250 xí nghiệp ở đây nhưng vẫn không ai gọi….

 

Nếu dân nhập cư bị kỳ thị, và thỉnh thoảng bị cuốn theo những phản ứng buồn vui bất chợt (sautes d’humeur) của người bản địa, người nhập cư, tuy không chính thức nói ra, cũng có một vài thái độ thiếu thiện cảm đối với văn hóa và người Québécois : kỹ luật học đường, thầy trò lỏng lẻo, tình nghĩa, đạo lý gia đình thiếu gắn bó, cá nhân chủ nghĩa, vô tâm …Thái độ «xem thường» nầy cộng với những yêu sách của một thiểu số tín đồ tôn giáo chính thống, tuy chính đáng với họ, nhưng nội dung bất khả thi và cung cách đôi khi cứng rắn dễ bị hiểu lầm như thiếu thiện chí,  đã đào sâu thêm hố ngăn cách, vốn bản chất đã ngăn cách, giữa người dân đất chủ và người dân mới đến.

 

Những yếu tố lo ngại và mặc cảm của người dân đất chủ lẫn dân nhập cư đã khiến hai phía luôn là hai khối cô đơn, và những sự việc vô nghĩa nhiều khi trở thành biến cố. Những đòi hỏi dung hòa  những dị biệt để người di dân có thể sống được với văn hóa, tôn giáo của họ trên đất mới  nhiều khi bị người Québécois xem như một thách đố.

 

Những đề nghị của Ủy Ban

Sau  15 tháng làm việc với 900 bản đóng góp ý kiến (mémoires) của các đoàn thể, cá nhân và  thảo luận với 328 tác giả, 22 buổi hội thảo (forums) cấp địa phương và 4 cấp quốc gia  với sự tham dự của 3423 người đại diện các giới , hổ trợ bởi 13 thiên nghiên cứu về nhiều vấn đề liên hệ bởi các chuyên gia (rapports d’experts), Ủy Ban , ngoài hai ông Gérard Bouchard và Charles Taylor còn có 15 ủy viên gồm đa số là giáo sư đại học.

Ngày 22 tháng 5 năm 2008, Ủy ban đã công bố bản phúc trình trong đó có 37 đề nghị mà chính yếu như sau :

 

- Soạn thảo một «sách trắng» (livre blanc) qui định những nguyên tắc  về một quốc gia thế tục (laïcité).

- Gia tăng cố gắng địa phương hóa dân nhập cư.

- Gia tăng cố gắng hội nhập dân nhập cư vào xã hội Pháp thoại.

- Gia tăng cố gắng giảm bớt tỉ lệ thất nghiệp dân nhập cư, đặc biệt dân da đen.

- Cấm đoán những thẩm phán, biện lý, cảnh sát, người canh gác tù nhân mang dấu hiệu tôn giáo.

- Cho phép giáo chức, công chức và nhân viên y tế mang dấu hiệu tôn giáo.

- Tháo gở Thánh giá ở trụ sở Quốc hội.

- Chấm dứt việc đọc kinh trước các buổi họp của hội đồng thành phố.

- Tăng cường phương tiện cho Commission des droits de la personne và Conseil des relations interculturelles.

-Tăng cường phương tiện để cứu xét các cấp bằng  ngoài  Québec.

-Thành lập Ủy ban điều tra độc lập về cách thức công nhận cấp bằng của các hiệp hội chuyên nghiệp.

- Ban hành sắc luật xác định chủ trương liên văn hóa (interculturalisme) là chủ trương của  quốc gia.

- Phổ biến rộng rãi chương trình dạy luân lý và văn hóa tôn giáo sẽ áp dụng ở trường học kể từ tháng 9 năm 2008.

 

Phản ứng của các giới liên hệ về phúc trình của Ủy Ban

Bản phúc trình của Ủy Ban được chờ đợi từ lâu, không phải chỉ vì «độ nóng» của vấn đề mà còn vì tư cách, kiến thức của hai người điều khiển Ủy Ban mà báo chí và giới trí thức, chính trị nể trọng thường gọi là hai nhà hiền triết.

Dĩ nhiên, phản ứng của các giới cũng khác biệt như sự khác biệt của vấn đề  nghiên cứu, đi từ sự bác bỏ đến sự hoan hô. Chúng tôi xin tóm lược những phản ứng tiêu biểu trong tuần lễ sau ngày công bố bản phúc trình

 

* Thủ hiến Charest (đang cầm quyền)

- Chúng tôi sẽ đặc biệt quan tâm bản phúc trình và đem đến những quyết định.

-Di dân đến Québec không phải là một quyền mà là một đặc ân.  Và đón tiếp người di dân là bổn phận của tất cả người Québécois.

- Ở Québec, chúng ta có hai thực thể. Thứ nhất là về dân số, chúng ta chỉ có 3% người Pháp thoại trên đại lục Bắc Mỹ, chúng ta không có đủ sức mạnh để áp đặt một lối sống theo mình. Thứ hai là về lịch sử, trong ba thế kỷ qua, những cộng đồng tôn giáo, nhất là Thiên chúa giáo đã săn sóc người bịnh và giáo dục con cái chúng ta.

Chính ví thực thể lịch sử nầy, trước khi Ủy Ban công bố bản phúc trình trong đó có đề nghị tháo gở cây thánh giá ở Quốc Hội, Charest đã yêu cầu Quốc Hội biểu quyết lưu giữ cây thánh giá nầy, bởi lẽ, tuy Québec hiện nay là một xã hội thế tục (laïque), nhưng cây thánh giá nầy tượng trưng cho lịch sử 300 năm nên phải giữ biểu tượng nầy.

 

* Pauline Marois (thủ lãnh đảng đối lập, đảng đòi ly khai)

Dĩ nhiên, trung thành với chánh sách tự trị, đảng Québécois cho là bản phúc trình không đề cập đến vấn đề căn bản là giải quyết việc bảo vệ tiếng Pháp, bản sắc người Québécois mà coi trọng việc dung hòa hợp lý văn hóa người sắc tộc. Pierre Curzi, dân biểu nguyên là kịch sĩ  còn  tuyên bố là tiếng Pháp suy yếu sẽ đưa đến thảm trạng , làm tan rả Québec , điều mà các nhà bình luận phản đối. Trong khi đảng Québécois chê bai, phản đối bản phúc trình thì đảng Québec Solidaire (cũng có khuynh hướng tự trị) lại đồng ý với bản phúc trình.

 

* Hội St-Jean Baptiste (Société St-Jean-Baptiste) : Chúng tôi là người Québécois, không phải là người Québécois français-canadien. Phúc trình phản động !

* Các nghiệp đoàn : Ủng hộ (FTQ), ủng hộ một phần (CSN), chống đối (CSQ)

* Fédération des commissions scolaires : không chấp nhận trường học có nơi dành để đọc kinh.

* Guy Rocher : đồng nghiệp với 2 tác giả, được xem như «tổ sư » ngành xã hội học của Québec : Ủy Ban đã sai lầm khi cứu xét vần đề của người di dân cùng mức độ với người Québécois, và càng sai lầm hơn khi gọi người Québécois francais-canadien [Guy Rocher thuộc phe các nhà xã hội học và trí thức đòi tự trị ]

* Alain Dubuc: bình luận gia báo  La Presse

Đảng Québécois vẫn tiếp tục bi đát hóa vấn đề tiếng Pháp, chẳng những không đồng ý những phân tích thông minh của Ủy Ban mà còn phóng đại nỗi lo âu của người Québécois… Làm như vậy, Pauline Marois đã phản bội lại di sản của René Levesque…

* Những đoàn thể dân nhập cư

Sự góp ý rất khiêm tốn, dè dặ , nhóm Hồi giáo và Do Thái bình luận lửng lơ.

 

Kết luận

Để kết luận, chúng tôi mạo muội trình bày một vài quan điểm riêng tư sau khi đọc khối tài liệu quan trọng nầy và những bình luận ghi nhận được.

Với 307 trang của bản phúc trình và phí tổn 3,7 triệu, nhiều nhà bình luận cho là quá đắc.  Nhiều tài liệu nghiên cứu, tuy uyên bác, cập nhật hóa, nhưng chỉ có công dụng sư phạm, và những giải pháp bất khả thi, nửa vời, hoặc làm vừa lòng mọi người hoặc chẳng làm vừa lòng ai. Nhiều sự kiện đã nói đi nói lại nhắc thêm chẳng ích lợi gì.

Mặt khác, nhiều trí thức cấp tiến, không thiên vị, nhiều đoàn thể ưu tư đến vận mệnh đất nước đã hoan nghinh  sự thành khẩn và  sáng suốt của Ủy Ban, đã tận tụy hoàn tất một công trình vừa tế nhị vừa khó khăn.

Do đó, thẩm định đắc hay rẻ, hữu ích hay vô ích là  theo mục tiêu sử dụng và thế đứng của người nhận định.

Nếu thành lập Ủy Ban chỉ để ru ngủ người chống đối, tạo cảm tưởng là Ủy ban sẽ là thứ đủa thần giải quyết vấn đề, để rồi bản báo cáo sau đó sẽ bị nằm im trong các  đống hồ sơ, số tiền chi tiêu quả là phù phiếm.

Tuy nhiên, nếu Québec trên đà tuột dốc, như Ủy Ban đã báo động, và nếu xem bản báo cáo như  là một thứ Sách trắng (Livre blanc) để những cơ quan và cá nhân liên hệ đến vấn đề, ý thức trách nhiệm và  bổn phận, dựa theo phân tích và đề nghị của Ủy Ban để sáng suốt nhìn vấn đề nghiêm trọng trước mặt, thành khẩn đóng góp kiến thức và ý chí để xóa bỏ dị biệt, xây dựng một Québec hòa hợp và phú cường, thì trong trường hợp nầy, bản phúc trình Bouchard-Taylor và 13 thiên  khảo cứu hổ trợ cho phúc trình là một khối tài liệu quý già, mà theo thiển ý, 50 năm sau bản phúc trình Parent (Rapport Parent, 1962) đề nghị cải tổ giáo dục, đưa nền giáo dục Québec ra khỏi bóng tối  của Giáo Hội, bản phúc trình nầy  là một tài liệu lịch sử về vấn đề di dân, và hi vọng sẽ đưa Québec đến một xã hội thuận hòa hơn.

Cùng trong nhận định nầy, Lysiane Gagnon, bình luận gia của nhật báo La Presse, sau khi phân tích  một số điểm nghịch lý trong bản phúc trình đã kết luận : « Dù sao, tôi cũng đồng ý với quan niệm triết học của phúc trình bao hàm tinh thần rộng lượng, cởi mở và nhất là bản tóm lược của phúc trình chất chứa nhiều dữ kiện hữu ích, nhiều phân tích đúng đắn, nên in ra để phổ biến rộng rãi cho các trường Trung học và CEGEP…» (La presse, 27 mai 2008).

Chúng tôi tự hỏi, chính tinh thần rộng lượng và cởi mở của Ủy Ban dành cho dân nhập cư phải chăng chỉ là quan điểm của những nhà hiền triết và bản phúc trình nầy sẽ đi được bao xa khi nhìn lại tương quan quyền lực giữa 80% dân Québécois de souche và 20% dân communautés culturelles !

 

Chỉ cần nghe hai phản ứng của hai chủ tịch các hiệp hội nghề nghiệp mà Ủy Ban chỉ trích đã áp dụng các  biện pháp kỳ thị các chuyên viên tốt nghiệp ở nước ngoài.

 

- Bác sĩ Yves Lamontagne, chủ tịch Hội đồng y sĩ của Québec : « Nhiều người cho là bịnh nhân ở mọi nơi giống nhau, bác sĩ cũng giống nhau. Không đúng như vậy….Các bác sĩ được đào tạo ở các nơi khác không có cùng một kiến thức như chúng ta đòi hỏi con em chúng ta khi vô đại học. Tôi đã trả lời cho Pauline Marois là : nếu bà không muốn là ngành y tế ở đây có hai vận tốc thì tôi cũng không muốn là bác sĩ ở đây có hai trình độ»

- Zaki Ghavitian, chủ tịch Hiệp hội kỹ sư : Nhiệm vụ của chúng tôi là quy chế hóa việc hành nghề. Khi người khác đến đây phải thi bằng lái xe để được lái xe thì muốn hành nghề kỹ sư phải  thi lại bằng kỹ sư» (La Presse, 7 juin 2008)

* * *

Sự thực thường nằm ở cả mọi phía, và con người hôm nay luôn trực diện với những dị biệt. Dung hòa hợp lý những dị biệt quả tình là một thách đố của thời đại.

 

Montréal  tháng 06 - 2008

Lâm văn Bé

 

Tài liệu tham khảo

- Fonder l’avenir : Le temps de conciliation/ Gérard Bouchard, Charles Taylor. - Québec : Commission de consultation sur les pratiques d’accommodement reliées aux différences culturelles, 2008. - 307p.

 

- Girard Magali. Résumé des résultats de sondage portant sur la perception des Québécois relativement aux accommodements    raisonnables. -Montréal, 2008.  -55p.

 

- Micheline Labelle. Les dimensions d’intégration des immigrants. Montréal, 2008. – 145p.

 

- Pierre Bosset. Réflexion sur la portée des limites de l’obligation d’accommodements raisonnables en matière religieuse. – Montréal : Commission des droits de la personne, 2005.

 

- Statistique Canada. Recensement 2006.

 

- La Presse, 23 Mai, 27 mai, 3 juin, 7 juin 2008.

  

Trở về Trang Chính