|
Quá trình
lên men (die Gärung)
Vào thu, các trang trại nhộn nhịp chuẩn bị cho
mùa gặt. Ngoài những luống nho được chọn riêng sản xuất những
loại vang đặc biệt như Spätlese, Trockenbeerenauslese
hoặc Eiswein[1]
còn nằm chờ đến mùa gặt muộn vào khoảng cuối tháng mười hai đến
đầu giêng năm tới, hầu hết nho được gặt và nghiền ngay thành
hèm rượu (Đức: Maisch - Anh: mash). Tùy theo qui trình chế
biến từng loại vang, hèm được ép liền ngay sau đó với
phương pháp:
-
hellgekeltert
(tạm dịch: phương pháp ép trắng) cho ra vang trắng hoặc
vang hồng (Weißeine, Roséweine).
- hoặc rotgekeltert (tạm dịch: phương pháp ép đỏ) cho ra
vang đỏ: được ép sau một thời gian lên men và khi nhiệt độ của
hèm đạt đến chuẩn mức định sẵn. Phương pháp này cho phép màu đỏ
vỏ nho có điều kiện hoà tan vào nước cốt, tạo cho mình vang sau
này mang màu đỏ sậm đúng như nghĩa của danh từ vang đỏ.
Nước cốt nho
(Most) - thành phẩm đạt được - sẽ được chuyển trữ vào
những thùng, thường làm bằng gỗ sồi, hoặc vào những bồn chứa lớn
bằng thép inox. Tại đây nước cốt nho bắt đầu lên men
chuyển mình thành vang. Lên men là một quá trình phản ứng hoá
học tự nhiên: Nấm men thiên nhiên tụ đầy trên vỏ nho, nay tan
lẫn trong nước cốt, được tiếp xúc với đường fructose và
glucose những men rượu này nhanh chóng sinh sản, biến
lượng đường trái cây này thành hơi gaz và cồn. Hơi gaz sẽ theo
lỗ thoát hơi ở nóc thùng bay ra ngoài, để lại trong thùng sau
thời gian ngắn một dung dịch nước cốt nho trong trạng thái vừa
chớm lên men nhưng chưa tròn thành vang được gọi là
Federweißer
[2].
Vang mới
(Neuer
Wein),
một đặc sản tại những vùng trồng vang, là thức uống dân gian rất
ưa chuộng chính là Federweißer được đem bán ngay trong
mùa này. Tùy vụ mùa gặt sớm hay muộn, khi vang mới
đạt hàm lượng cồn đạt trên 1% - 2%, sẽ được bán từ ra đầu tháng
chín cho đến cuối tháng mười, tháng mười một. Thường dùng chung
với bánh củ hành (Zwiebelkuchen, một đặc sản của những vùng vang Đức) hoặc nhâm nhi với hạt dẻ nướng
còn nóng hôi hổi (Maronen). Trữ đầy vị ngọt trái cây,
vang mới rất được các cô các bà ưa chuộng. Ngoài acid
latic ra, vang mới còn chứa nhiều Vitamin B1, B2,
thêm vào đó hàm lượng chất khoáng cùng bã men trợ giúp rất tốt
cho đường ruột và cho dung dịch nầy một màu trắng đục, qua đó có
tên gọi Federweißer.
Không phải đương nhiên mà vang mới
Federweißer còn thường được gọi là Rauscher, Sauser
(tạm dịch: „sương sương“). Với ít hơi gaz gợn tăm tăm
trên đầu lưỡi và vị ngọt ngọt dễ chịu, thoạt nếm vào tựa như
nước sô đa trái cây hoặc như một loại Champagne
[3]
nhẹ, bạn sẽ mềm môi uống mãi. Đôi khi có những mẻ vang mới
chứa hàm lượng cồn đến 11%, hợp cùng với lượng đường khá cao -
một chất xúc tác đắc lực - chất rượu thấm vào máu rất nhanh. Sau
chừng 2, 3 nàng „sương sương“, chưa kịp định thần bạn có
thể đã xỉn hồi nào không hay.
Vị ngọt
đọng (die Restsüße – der Restzucker)
Khoảng vài
tuần sau, quá trình lên men chấm dứt, những con men đến lúc này
đã hoàn thành nhiệm vụ. Hầu hết thành phần đường trong dung dịch
được men biến đổi thành cồn, và vang trở mình mang vị chát.
- Với loại
nước cốt nho có hàm lượng đường cao (những lứa nho gặt muộn,
trái chín cuối mùa, … Trockenbeeren, Eisbeeren, …)
khi hàm lượng cồn đạt 12% đến 15% dung dịch nước cốt cũng sẽ bảo
hoà, dẫu thành phần đường còn nhiều, vang cũng không lên men
được nữa. Khi đó ta gọi con men đã đuối (erschöpft).
- Với nước
cốt nho có hàm lượng đường thấp hơn, những nhà làm vang vẫn giữ
được phần
fructose
(đường trái cây) đọng lại trong vang bằng cách chận đứng
quá trình lên men với nhiều phương pháp: giảm thấp nhiệt độ
thùng chứa xuống để làm lạnh dung dịch nước cốt, hoặc bồi thêm
lưu huỳnh hoặc thêm cồn vào dung dịch, hoặc gạn bỏ hết men ra.
Hàm lượng đường không lên men còn dư đọng
trong mình vang gọi là Restsüße (tạm dịch: vị ngọt
đọng
[4]),
chủ yếu là đường trái cây fructose bởi phần lớn
glucose đã được biến đổi thành cồn hoặc hơi gaz hoặc thành
những dạng đường bảo hoà không lên men được nữa - Lượng ngọt
đọng rất quan trọng, thành phần này cho vang một vị giác
riêng, hoặc dịu, hoặc ngọt ít, ngọt nhiều - mỗi lứa vang qua đó
mang một tính chất đặc biệt. Tính chất này sẽ được nói đến nhiều
hơn trong phần tới.
Một phương
pháp phổ biến khác được các tay làm vang
xử dụng để
vang giữ được vị ngọt đọng: Họ trữ riêng một phần nước
cốt ép của cùng lứa nho đó, gạn tách hết men để dung dịch không
thể lên men được và còn giữ nguyên vẹn hàm lượng đường - phương
pháp xử dụng Süßreserve (tạm dịch: phương pháp tích
trữ ngọt) -
Trước khi vào
chai
lượng ngọt
tích
trữ Süßreserve này được hoà cùng vào vang, tùy
theo tỷ lệ sẽ cho vang có vị giác chát, dịu hoặc ngọt.
Vị giác
Ta thường thấy trên nhãn chai vang Đức những năm gần đây có
ghi chú dòng chữ diễn đạt vị giác của vang, thí dụ „chát“
(trocken) hoặc „chát dịu“ (halbtrocken), …
những chai vang mang dòng chữ này phải chịu chi phối bởi những
điều luật vang Đức nhất định:
Phẩm chất
vang phân loại theo vị giác
Ø
Vang:
ü
Trocken -
chát:
vang đã hoàn toàn lên men,
chứa hàm lượng đường dư đọng tối đa 9 g/l.
ü
Halbtrocken -
chát dịu:
vang này có thể đạt hàm lượng đường gấp đôi cho đến 18 g/l, có
vị ngọt nhẹ.
ü
Lieblich -
dịu:
vang có hương vị ngọt chứa trên 18 g/l đường, tối đa chỉ đến 45
g/l.
Ø
Đối với vang
sủi tăm, sủi bọt (Sekt, Champagne):
ü
Extra
Brut: Tên gọi khác "Brut de Brut", "Brut
nature", chứa 0 – 6 g/l đường.
ü
Brut:
có hàm lương đường dưới 15 g/l.
ü
Extra Trocken
(Extra sec, Extra Dry): có hàm lương đường từ 12 đến 20
g/l.
ü
Trocken
(Sec,
Dry): hàm lương đường từ 17 đến 35 g/l.
ü
Halbtrocken
(Demi-sec):
từ 35 đến 50 g/l.
ü
Lieblich
(Doux): trên 50 g/l.
Vang trocken thường thích hợp dùng trong bữa ăn.
Để giúp khách hàng phân biệt và chọn lựa được nhanh chóng các
loại vang, nhãn hiệu của chai đôi khi được in màu khác nhau hoặc
mang những dấu sọc màu tùy thể loại vị giác.
Chắt, gạn (Đức: der Abstich - Pháp: soutirage)
Chắt,
gạn là một công đoạn trong quy trình biến chế rượu vang,
tách lọc vang khỏi bã hèm kết tủa ở đáy thùng: gồm xác men, bã
cùng vỏ nho không hoà tan được và những vẩn chất. Ta phân biệt
hai công đoạn:
- Chắt
lần đầu "Grobhefe" (tạm dịch chắt men thô) ngay
sau quy trình lên men, sau đó vang được giữ nằm yên tĩnh nghỉ
ngơi trong bể chứa qua thời gian mùa đông dài, giai đoạn này
vang phát tiết hương vị.
- Chắt
lần hai "Feinhefe" (chắt men mịn) thường sau cái
lạnh đầu mùa, khi sạn vang (Weinstein) bắt
đầu kết tủa trong thùng. Đến đúng lúc - tùy chủng loại vang và
tùy nhận định của các nhà làm vang - vang được chắt lần
hai để tách lọc những bả men cuối cùng lẫn chung những vẫn chất
thưa mịn còn lắng trong mình vang. Vang được bơm qua một hệ
thống lọc, kể từ thời điểm này mọi phản ứng không được xảy ra
nữa. Mình vang hoàn toàn sạch, trong và sẵn sàng được cho vào
chai cất trữ.
Tại một vài nơi, các vựa vang vẫn còn áp dụng công đoạn chắt gạn
nhiều lần, một phương pháp mà sau này các nhà làm vang càng ngày
càng tránh bớt.
Các chuẩn loại và phẩm hạng vang Đức.
Tùy thuộc màu rượu hoặc phương pháp chế biến vang, điều luật
vang Đức định nghĩa rõ các chuẩn loại và phẩm hạng vang sau đây:
Chuẩn loại:
Vang trắng
(Đức: Weißwein - Anh: white wine): chế biến từ nho
trắng.
Vang đỏ
(Đức: Rotwein - Anh: red wine): từ nho đỏ -
phương pháp ép vang đỏ (rotgekeltert).
Vang hồng
(Rosé): từ nhiều giống nho đỏ, được ép ngay với phương pháp
ép vang trắng (hellgekeltert). Màu vang qua đó không
còn đậm đỏ nữa mà chỉ sáng hồng.
Weißherbst
là một loại Rosé, chỉ được chế biến từ một chủng loại nho với
phẩm hạng ít nhất là QbA (sẽ nhắc đến sau).
Rotling
chế biến từ hỗn hợp nho trắng và nho đỏ thuộc phẩm hạng QbA, có
màu đỏ tươi, sáng lóng lánh. Thí dụ đặc sản vùng Württemberg có
"Schillerwein",
vùng Baden có
"Badisch
Rotgold"
được chế biến từ giống
"Grauburgunder"
(Ruländer - pinot gris) cùng
"Spätburgunder"
(pinot noir).
Vang sủi tăm
(Schaumwein: Sekt, Perlwein) vang thuộc phẩm hạng
Tafelwein hoặc "Qualitätswein" có hơi gaz tự nhiên
hoặc được bơm thêm vào.
Phẩm hạng:
·
(thấp nhất)
Deutscher Tafelwein (vin de table): tất cả vang từ
những vùng có giấy phép canh tác nho vang. Có hàm lượng cồn trên
8,5 %
·
(trung bình)
Qualitätswein mit bestimmter Anbau (QbA): vang chất
lượng từ những vùng canh tác quy định, vang có mang số kiểm
duyệt. Hương vị đặc thù và phải đạt hàm lượng cồn tối thiểu được
quy định rõ tùy vùng canh tác.
·
(thượng hạng)
ü
Qualitätswein mit Prädikat
("vang chất lượng có phẩm hạng",
Prädikatswein): mỗi mùa nho gặt phải được cơ quan
thẩm quyền kiểm soát, thường là nha canh nông tại địa phương.
Mùi vị và thành phần vang được phân tích và chứng nghiệm. Nước
cốt nho phải đạt được định mức độ Öchsle
[5]
tối thiểu.
ü
Kabinett:
chế biến từ nho mọng chín hoàn toàn.
ü
Spätlese
[6]:
từ những nho mọng chín gặt trễ mùa.
ü
Auslese:
những nho được chọn lọc từ những lứa Spätlese.
ü
Beerenauslese:
những nho chọn lọc từ những lứa quá chín hoặc gần héo khô.
ü
Trockenbeerenauslese:
chọn lọc từ những lứa nho chín gắt trên cành trong trạng thái
khô, héo quắt lại.
ü
Eiswein:
để sản xuất vang phẩm chất này, những luống nho Eisbeeren
chín cây khô héo gặt phải được giữa mùa đông giá lạnh trong
trạng thái đông cứng và nghiền ép tức thì trong nhiệt độ dưới 6
độ Celcius âm. Nước cốt nho phải đạt tối thiểu 125 độ Öchsle.
Đây là một loại vang thượng hảo hạng, qúy hiếm của Đức.
Nên nói thêm, để sản xuất được vang phẩm hạng cao, phải giữ
nho chín đậu cành càng lâu càng tốt. Và vì mỗi giống nho cho
trái chín vào một vụ mùa khác nhau, thí dụ giống "Rivaner"
chín trái khỏang cuối tháng chín, giống Riesling phải đến
cuối tháng mười hoặc mười một. Ngoài ra như đã nói qua trong bài
trước (xem bài Tản mạn về vang xứ Đức [1]), thời
tiết đặc thù và đất đai từng địa phương ảnh hưởng nhiều lên mùa
vụ. Mùa gặt nho qua đó cũng sớm muộn khác biệt tùy vùng canh
tác. Và điều quan trọng nhất và tối hậu vẫn là quyết định của
chính mỗi chủ trang trại hoặc nho nông. Dám chấp nhận rủi ro để
giữ nho chín cành bao lâu? Muốn lứa vang năm nay sẽ đạt vang
phẩm hạng QbA, hay Spätlese, hay Auslese, hay
Trockenbeerenauslese, hay hơn nữa … Bởi tiết đông càng đến gần,
nguy cơ thay đổi thời tiết càng lớn, có thể một cơn lạnh bất
chợt hoặc một cơn bão cuối mùa xảy đến sẽ phá hỏng luống nho.
Công sức trồng trọt nguyên năm trong giây lát tan theo mây khói
và chủ nhân cũng sẽ … trắng tay.
Vài điều cần biết thêm về vang.
Öchsle
[7]-
thước đo trái chín
Trước mùa gặt không lâu, thời gian cuối hè sang thu, là
thời gian các chủ trại cùng nhân viên cơ quan kiểm định tại địa
phương chuẩn bị đi kiểm nghiệm các luống nho, đo lường và thẩm
định độ chín của nho. Hàm lượng đường là chuẩn đo lường độ trái
quả chín, cho ta xác định được tỷ trọng của nước cốt qua đơn vị
độ Öchsle. Với thông số này các nhà làm vang có thể tính
trước được hàm lượng cồn và qua đó chất lượng của lứa vang sắp
đến.
Độ Öchsle: Thí dụ nước cốt có tỷ trọng là 1080 g/l
sẽ có 80 độ Öchsle, sau quá trình lên men hoàn toàn mẻ
vang này sẽ chứa khỏang 80 g cồn tinh chất trong 1 lít vang, có
nghĩa là sẽ đạt khoảng 10% hàm lượng cồn.
Để cho ra được vang phẩm hạng QbA, tùy giống nho và vùng
canh tác, lứa nho phải đạt ít nhất 50 - 60 độ Öchsle.
Prädikatswein đòi hỏi độ Öchsle cao hơn:
|
Prädikatswein |
Độ Öchsle |
|
Kabinett |
từ 73 độ trở lên |
|
Spätlese |
từ 85 độ trở lên |
|
Auslese |
từ 95 độ trở lên |
|
Beerenauslese |
từ 125 độ trở lên |
|
Trockenbeerenauslese |
từ 150 độ trở lên |
Những vang hảo hạng có thể đạt đến 200 độ Öchsle.
Năm
Mặc dầu những giống nho trồng đều được cấy
sinh và chọn lọc cho phù hợp với cấu chất đất đai cùng khí hậu
từng vùng. Nhưng qua thời tiết biến đổi hàng năm, có những năm
nắng gắt có những năm mưa nhiều, tiết đông khi đến sớm khi đến
muộn, những lứa vang mỗi năm vì vậy vẫn mang phẩm chất và cá
tính khác nhau. Vang năm này có thể súc tích chứa đầy vị quả
chát, rồi cũng từ cùng một vùng, cùng một giống nho, lứa vang
năm tới lại mang vị nhè nhẹ ngọt hài hoà. Với dân sành điệu,
những sai biệt tinh vi này rất quan trọng - quan trọng nhất là
đối với các chai vang hảo hạng, qua thông số "năm gặt"
này, bạn biết được rằng chai rượu năm ấy sẽ cho phép cất trữ
được bao lâu - Phải nói thêm rằng với hầu hết các vùng vang bất
cứ ở đâu trên thế giới, những năm mùa có điều kiện cho phép sản
xuất những vang "đại tửu" (Große Weine)
rất hiếm. Ở Đức có thể nhắc đến năm
1971 và năm 1976 làm tiêu biểu, là hai năm cho được mùa vang
tuyệt hảo. Càng hiếm hơn nữa là những năm thí dụ như 1921 và
1953, những lứa vang năm này được tuyên dương là "vang thế
kỷ" (Jahrhundertweine).
"Nhà sản
xuất" hay "chủ vựa"
Trên toàn nước Đức gồm khoảng 90.000
nho nông (Weinbauer) với trang trại lớn nhỏ, nhưng
chỉ 1/4 trong số đó tự chế biến, sản xuất vang và tự vào chai
lấy. Hàng chữ "Vào chai tại nhà sản xuất" (Erzeugerabfüllung)
trên nhãn chai bảo đảm rằng: các khâu trồng trọt, chế biến và
vào chai đều do tự tay hoặc một trang trại hoặc một hợp tác
xã nho nông (Winzergenossenschaft)
đảm trách và hoàn tất. Mới sau này còn có tiêu chuẩn
"Vào chai
tại trang trại"
(Gutsabfüllung), tiêu chuẩn này đòi hỏi thêm những điều
kiện khắt khe hơn: Vang mang định nghĩa này phải được biến ép từ
những diện tích canh tác thuộc quản lý và chăm sóc của trang
trại trên 3 năm, quản lý trang trại phải có trình độ, bằng
chuyên môn, …
Phần lớn những nho nông khác canh tác theo đúng nghĩa
nguyên thủy
"nhà
nông",
chỉ đặt trọng tâm vào công việc trồng trọt nho và ngay sau mùa
gặt bán khoán lứa nho hoặc nước cốt nho thẳng cho các vựa chứa
hoặc nhà sản xuất vang. Tên tuổi các vị này và của trang trại
này dĩ nhiên sẽ không được ghi trên bất cứ nhãn hiệu nào. Trong
trường hợp này, chủ vựa (hoặc nhà sản xuất) sẽ chịu trách nhiệm
các khâu chế biến sản xuất và đảm bảo hoàn toàn cho phẩm chất
vang sau này. Nhãn chai sẽ ghi
"Vào
chai tại vựa (tại hầm) …" (Abfüller Weinkellerei...).
Nên dùng
vang với nhiệt độ nào
|
Loại vang |
Nhiệt độ (Celcius) |
|
Vang trắng thông thường (vin de table trắng) |
7 - 9 độ C |
|
Vang trắng súc tích hơn: Spätlese, Auslese |
10 - 12 độ C |
|
Vang trắng ẩn vị ngọt: phẩm hạng
Trockenbeerenauslese, Eiswein |
12 - 14 độ C |
|
Vang Rosé |
6 - 8 độ C |
|
Vang đỏ thông thường (vin de table đỏ) |
10 - 14 độ C |
|
Vang đỏ chát đậm đà hơn |
14 - 16 độ C |
|
Vang đỏ súc tích, nồng hương vị |
16 - 18 độ C |
|
Vang sủi tăm (Champagne, Sekt) |
5 - 8 độ C |
Thử vang
(Weinprobe, Weindegustation
[8])
Những buổi
thử vang thường được tổ chức bởi các tay chuyên môn về vang,
các tay giám định vang, các nhà nghiên cứu vang, ... những kẻ
yêu vang hoặc thích thưởng thức vang với mục đích cho chính họ
có cơ hội nếm thử, đánh giá vang. Thử vang đồng thời cũng
là dịp tiếp thị, quảng cáo cho việc buôn bán vang. Những đại lý
vang lớn hoặc những cơ sở sản xuất vang cũng thường tổ chức
những buổi thử vang để qua hình thức này đưa sản phẩm
trực tiếp đến tay người tiêu dùng.
Tại những
buổi thử vang chuyên nghiệp, vang được đánh giá theo một
hệ thống thang điểm nhất định. Một trong những hệ thang điểm nổi
bật và quan trọng (có nghĩa là hệ thang điểm này có tiềm sức đưa
vang đạt thành công trên thương trường: bán chạy, giá cao …)
phải nhắc đến hệ thang điểm Parker. Hệ thống thang điểm
này được gọi theo tên của "Robert Parker", gốc Mỹ,
một người bình phẩm và giám định rượu vang nổi tiếng thế giới.
·
Hệ thang điểm Parker, Parker-Points (PP),
đánh giá vang dựa trên hệ thống thang điểm học đường của Mỹ, từ
50 đến 100 điểm, được phân chuẩn như sau:
·
50 - 59 điểm:
từ không chấp nhận được (không thưởng thức được) đến dở.
·
60 - 69 điểm:
dưới trung bình.
·
70 - 79 điểm:
trung bình.
·
80 - 89 điểm:
trên trung bình đến ngon.
·
90 - 95 điểm:
xuất sắc (Đức: hervorragend, Anh: outstanding).
·
96 - 100
điểm: hảo hạng (Đức: außerordentlich, Anh: extraordinary).
Với một dấu
cộng (+) Parker đánh giá những chai vang mà ông tin rằng qua
thời gian cất trữ sẽ phát triển ngon hơn.
Hệ thang
"Parker-Point":
Tiện đây cũng nên nói sơ qua về hệ thang
"Parker-Points": Chọn vang dựa trên thang "PP" nên biết
rằng Parker dĩ nhiên có sở thích riêng, ông chuộng vang đậm đặc
và có nhiều hương quả, không chú ý nhiều vào tính chất thanh
khiết và đa dạng của vang. Parker chú tâm vào vùng Bordeaux
[9]
và mê vang vùng thung lũng bờ nam sông Rhône, từ khu vực
Tain l'Hermitage cho đến Châteauneuf-du-Pape
[10].
Đặc biệt
những chai vang đầu mùa đạt được 100 PP sẽ nhanh chóng vọt giá
lên đến đỉnh trần. Tuy vậy, vẫn có không ít dân sành điệu (dĩ
nhiên với túi đầy tiền) chỉ chuyên lùng kiếm mua cho bằng được
những vang hạng điểm này. Điển hình có thể lấy vài loại Bordeaux
thuộc hàng 100 PP với giá tương đối "mềm" làm thí dụ:
ü
chai "1986er Léoville las Cases", chai "1982er Pichon
Comtesse de Lalande" hoặc chai "1990 Montrose". Khổ
chủ các nàng vang này phải chi ít nhất không dưới 300 Euro cho
mỗi chai.
Những chai vang 100 PP từ những vùng khác phải nói ngon không
thua gì mà giá cả lại hợp túi tiền hơn.
Những thí dụ nêu lên sau đây cho thấy rõ thêm một điều rằng
hệ thang Parker có ảnh hưởng rất mạnh lên thị trường vang:
ü
Khi danh mục vang Bordeaux 2003 được công bố, chai "Montrose
2003" đạt tiêu chuẩn mức thang 96-100, nghĩa là sẽ có triển
vọng chiếm đến điểm 100 PP một thời gian sau. Ngay lập tức trong
ngày hôm đó tại thị trường vang Thụy sĩ, giá chai này nhảy từ 40
Euro lên gấp đôi và đến chiều cuối ngày ngừng lại tại giá 145
Euro?
ü
Trước đây không lâu, chai "1986er Lèoville las Cases"
được nâng từ 98+ PP lên tròn 100 PP. Chỉ vài phút sau thị trường
vang trên mạng (internet) Đức, giá chai này vọt từ 120 Euro lên
hơn 180 Euro?
ü
Những chai "Premier Crus" vùng Bordeaux nổi tiếng cũng
không thoát khỏi số phận trên. Sau khi vang mùa gặt 2000 được
chấm điểm với thang hạng xuất sắc, giá những chai này tăng vọt
đến mức trước nay chưa bao giờ có. Qua năm 2002, khi mẻ vang
được chuyển thùng, Parker từ chối nếm thử lứa này. Giá vang
Bordeaux "Premier Crus" năm đó tức khắc chui tọt
ngay xuống mức giá xưa.
Trong giới sành vang rất nhiều người, gồm dân buôn vang hoặc
khách thưởng thức hoặc các nhà trồng trọt sản xuất vang cũng có,
đánh một dấu hỏi lớn về tính khách quan của thang điểm Parker.
Một số cho rằng Parker hơi rộng rãi trong việc cho điểm, nhất là
với mức điểm 100 PP. Qua những buổi thử vang, đặc biệt
chỉ với vang có thang điểm 100 PP, số người này xác định:
ü
Phẩm chất những chai "100 PP" chẳng chai nào giống chai nào,
ü
Và chẳng chai vang "100 PP" nào cũng có vị ngon đều như nhau.
Có một số đông không chấp nhận hệ thang Parker. Một vài nhà
trồng trọt sản xuất vang tuyên bố họ không để bị lệ thuộc vào
quan điểm của Parker. Đối với họ, với khả năng chuyên môn cùng
kinh nghiệm của mình, tùy thuộc mỗi vụ mùa, họ vẫn cho ra được
những mẻ vang đạt phẩm chất cao.
Số người không đồng ý với cách thức cho điểm của Parker chọn
những hệ thang điểm của một vài chuyên gia giám định vang khác.
Những hệ thống này đánh giá vang với khuôn điểm 20 hoặc bằng sao
điểm (*):
·
René Gabriel (tài liệu
"Weinwisser", tạm dịch "Người sành vang"):
điểm từ 10/20 đến 20/20 (GP: Gabriel punkte), có vang đạt được
21/20
·
Michael Broadbent: từ 1 đến 5 sao (* -
*****)
·
Jancis
Robinson
·
James
Suckling (tài liệu
"Winespectator",
tạm dịch "Người thưởng thức vang"): từ 50 đến 100
WS (WS: Wine-Spectator)
·
Mario
Scheuermann
·
Peter Moser
·
Gault Millau
·
Jean Marc
Quarin
Qua đây rút
ra được một điều nữa khá lý thú và hấp dẫn đối với các tay
thưởng thức sành điệu: những chai vang điểm thấp trong hệ
Parker-Points nhưng lại đạt nhiều sao (*)
hoặc điểm cao trong các hệ thang khác. Những vang này thường
ngon không thua gì, đạt phẩm chất cao mà giá cả lại rất "mềm",
dứt khoát hợp với túi tiền phó thường dân.
Về phần
Parker với hệ thang điểm này đã thành lập một Công ty giám định
vang với khá đông nhân viên. Qua thời gian, cá nhân Parker không
tự thử nếm tất cả vang trên thế giới được, ông phân chia vùng và
phần việc cùng với 2 nhân viên tâm đắc. Tuy nhiên, phán quyết
cuối cùng trước khi danh mục được công bố vẫn nằm trong tay
Parker.
Dẫu sao cũng
phải khẳng định một điều: Đánh giá của Parker trước sau vẫn là
một sức mạnh không phủ nhận được trên thị trường vang thế giới.
Hiện nay không một hệ thang điểm của chuyên gia vang nào đủ
trọng lượng tương đương để có thể cạnh tranh với thang điểm PP.
…
Hãy thử …
"Thử vang"
Đến đây, ta đã biết sơ qua vài chủng loại và tính chất của
vang để có thể cùng nhau bắt tay vào một chuyến tạm gọi là
thử vang … nghiệp dư xem sao.
Thử vang,
đúng nghĩa từ được gọi, là quan sát và đánh giá vang qua thị,
khứu và vị giác. Để sau đó thẩm định phẩm chất vang với một tiêu
chuẩn định sẵn.
Màu rượu qua
"mắt" nhìn
Để chẩn định được màu rượu tương đối chính
xác, đơn giản nhất, bạn nâng ly rượu trước một nền trắng (một
khăn trải bàn trắng chẳng hạn). Dùng mắt nhìn thẳng vào mặt rượu
từ trên xuống, qua đó bạn chẩn định độ tinh khiết, màu và độ
trong suốt
[11]
của rượu. Sau đó từ từ nghiêng nhẹ ly vang, chiều cao rượu trong
ly thay đổi và màu vang cũng thay đổi độ đậm. Nâng ly vang ngang
tầm mắt, một vài loại vang đặc biệt tạo những màng mỏng như
nước mắt bám vào thành ly, giới chuyên gia gọi là lệ vang
[12]
·
Tiêu chuẩn đánh giá và vài đặc tính
ü
Màu sắc:
o
vang đỏ:
màu đỏ tím dâu mâm xôi (himbeerfarben, raspberry) - đỏ
thẫm (purpurn, crimson) - màu ngọc đỏ (rubinrot,
ruby) - đỏ rực màu trái dâu (kirschrot, cherry)
- đỏ nâu - đỏ hồng…
o
vang trắng:
vàng xanh lục (gelbgrün, chartreuse) - vàng lá tranh (strohgelb)
- vàng chói…
ü
Cường độ màu:
đậm (intensiv) - thâm (tief) - sáng (hell)
- trong (klar, transparent) - dịu (fein) -
rực rỡ (glänzend) - lóng lánh (funkelnd).
ü
Lệ vang: lệ đầy, sung mãn - vàng - trong - lệ đứt khỏang.
ü
Màu: bị
chuyển màu – giữ sắc thái.
ü
Độ trong suốt:
Trong suốt (transparent) -
tinh khiết (rein)
- vẩn khoáng (Trübung).
ü
Màu rượu
chan chứa (Farbsattheit) hoặc nhạt (-blässe).
ü
Sắc sáng
(Leuchtkraft): lóng lánh (strahlend) - mờ đục (stumpf).
Khứu giác:
"mũi"
và hương thơm
Sau khi đánh giá vang qua màu sắc sẽ đến phần việc của khứu
giác. Dùng mũi nhận định và phân biệt những mùi vị nổi bật của
từng loại vang. Phần nhận dạng vị giác này gồm ba (3) giai đọan.
Ø
Để yên ly rượu trên tay, bạn đưa mũi ngửi nhẹ vào thành ly,
những hương mùi dễ bay hơi chỉ thoảng vào khứu giác bạn trong
khoảnh khắc ngắn.
Ø
Sau đó lắc tròn ly rượu trong tay nhè nhẹ. Những hương vị chứa
đựng trong mình rượu từ từ thóat hơi bay lên mặt. Mũi bạn đánh
giá được những hương mùi khác hẳn.
Ø
Bây giờ bạn để yên ly một lát cho giọt rượu tĩnh đọng lại và
tiếp tục dùng mũi ngửi một lần nữa. Vài loại vang vẫn cho lại
mùi hương ban đầu, và có những loại thay đổi hương mùi một thời
gian sau khi tiếp xúc với không khí.
·
Tiêu chuẩn đánh giá và vài đặc tính
ü
Bukett
[13]:
sắc sảo (ausgeprägt) - bình thường (flach) - đậm
đà (mächtig).
ü
Mùi tinh chất
[14]:
tự nhiên (plump) - thanh khiết (elegant) - yếu (arm)
- sinh động (spritzig) - gai xốc (stichig) - nồng
nàn (rassig) - nguyên chất (sauber) - kích thích (nervig)
- qúy phái (edel, nobel)
ü
Mùi, hương thơm
[15]:
F
hương quả: hương dâu mâm xôi (raspberry, himbeer) - hương
dâu (Kirschen) - hương táo (Pflaumen) - hương đào
lông (Aprikose) - hương dứa (Ananas) - hương chanh
(Zitrone) - hương dâu chua (Sauerkirsche)…
F
hương hoa: hương hoa tím (Veilchen, violet) -
hương hoa phong lữ (Geranien) - hương hoa hồng dại (Wildrose)
- hương hoa cúc (Chrysantheme)…
F
hương gia vị: mùi vani (Vanille) - mùi hồi (Anis)
- quế (Zimt) - mùi đường thắng (caramel,
Karamell)…
F
hương gỗ: hương gỗ tùng (Zeder, cedar) - mùi đàn
hương (Sandelholz, sandal-wood)…
F
hương động vật: mùi xạ hương (Moschus) - hương sáp ong (Bienenwachs)…
F
những hương khác: mùi nấm Trüffel (truffle) - mùi
nhựa thông (Harz) - mùi thuốc lá (Tabak, tabac)
- mùi hắc ín (Teer) - mùi đất (erdig) - khói (rauchig)…
ü
Độ chín muồi
[16]:
mỏng manh và non
[17]
(vang trẻ) - sinh động, cường tráng
[18]
(vang ngon) - tầm thường và thoái hoá
[19]
(vang quá cũ).
Khứu giác là một công cụ quan trọng của
các tay Sommelier
[20],
mũi có khả năng phân biệt được những sai biệt nho nhỏ của các
hương mùi, tinh vi gấp nhiều lần hơn lưỡi. Qua khứu giác, một
Sommelier lành nghề nhiều kinh nghiệm có thể xác định được những
đặc tính quan trọng của vang như giống nho, xuất xứ, tuổi tác và
quy cách chế biến vang.
"Lưỡi"
và vị giác
Lưỡi cho phép bạn phân biệt được nhiều vị. Đầu lưỡi cảm nhận
vị ngọt, biết được vị chua, chát
là công việc của hai bên thành lưỡi, phần giữa lưỡi đảm trách
vị mặn và phần sau cùng của lưỡi nằm trước cuống họng
cho bạn được cảm nhận vị đắng.
Vang phải được nhắp từ từ từng ngụm nhỏ để không khí hoà
lẫn vào giọt vang khuấy động những hương vị của vang tác dụng
lên các tế bào lưỡi. Bạn đưa giọt rượu nhè nhẹ từ chót lưỡi vào
trong và lần lượt thay đổi chầm chậm cho rượu thấm vào phía bên
này, bên kia lưỡi. Giữ vang lại trên phần giữa lưỡi xong, đẩy
những giọt vang lui vào trong cuống lưỡi. Bạn nhận biết được các
vị ngọt, chát, chua, những chất khoáng hàm
chứa trong vang và cảm được vị đắng của vang. Giữ giọt
vang đọng lại trong miệng, khoảnh khắc sau vị ngọt tan
dần, thay thế vào đó vị đắng từ từ hiện rõ. Trong miệng
và nhất là tại cuống họng, vị đắng chát tanin được nhận
ra rõ ràng.
·
Tiêu chuẩn đánh giá và vài đặc tính
ü
Bản chất vang: nhẹ (leicht) - dồi dào (körperreich)
- đậm hương quả (fruchtig) - nặng (wuchtig, hơi
cồn xốc lên đầu) - dịu mượt (samtig, seidig) -
nhạt (dünn) - non (roh) - thoái hoá (oxi hóa) - củ
(verbraucht) - gai xốc (stichig) hỏng, hư có mùi
giấm chua, không dùng được.
ü
Vị nhám trên lưỡi: không cảm thấy - nhẹ - mạnh.
ü
Vị ngọt: chát (herb, trocken) - đều (ausgewogen)
- nhẹ nhàng (unaufdringlich) - ngọt (süßlich) -
mượt ngọt (ölig).
ü
Vị chát (Säure): không cảm thấy (Säure fehlt) -
chát nhẹ (flach) - chát tươi - đậm đà (würzig) -
sắc sảo (fein) - chát nhiều (reichlich) - quá chát
(unangenehm scharf).
ü
Sự cân đối: chưa đạt (unausgeglichen) - hài hòa (ausgewogen)
– đầy đặn (vollkommen).
ü
Vị đắng: không có - đắng nhẹ (leicht, klein) - đắng mực (tintig)
- vị đắng kim loại (metallisch) - đắng cây cỏ (krautig)
- quá đắng (hart).
ü
Vị mặn: không có - có.
Đến đây, để giữ vị giác được trung thực và có thể tỉnh táo tiếp
tục thử hàng trăm loại vang liên tiếp trong cùng một buổi, các
tay chuyên môn sẽ nhổ vang trong miệng ra và kết thúc một công
đoạn thử vang để rồi bắt đầu lại từ đầu: Thử loại vang
khác từng bước một.
Hậu vị
"der Abgang"
Trong không khí những buổi thử vang thân mật giữa vòng
gia đình bè bạn và nhất là đối với những vang ngon, bạn hãy
thưởng thức trọn vẹn giọt vang, từ từ nuốt nhẹ vang vào cuống
họng. Khi giọt vang thấm dần xuống, bạn đánh giá thêm được một
tính chất đặc biệt quan trọng không kém của vang "hậu vị",
bạn cảm nhận được những hương vị vang còn vương đọng lại trong
miệng và trên cuống họng sẽ kéo dài bao lâu. Nhận biết được giọt
vang cho bạn một hậu vị bền lâu trong giác quan hoặc chỉ thoáng
qua trong khoảnh khắc nhỏ.
·
Tiêu chuẩn đánh giá và vài đặc tính
ü
Độ bền của hậu vị: ngắn - kéo dài và thoảng hương lâu - hiện
tượng „Pfauenrad“, hương thơm trở lại sau một thời gian
ngắn.
Nào, xin mời bạn cụng ly - Prost
[21]!!!
Lê Cảnh Hoằng (02.2006)
[1]
những loại vang ngon đặc biệt của Đức. Chế biến từ nho
chín gặt cuối mùa hoặc gặt vào đông trong tiết lạnh.
[2]
không có từ Anh tương đương. Dịch sát nghĩa: chất trắng
như lông vịt, ngỗng. Federweißer còn được gọi
dưới nhiều tên khác nhau tùy theo từng địa phương: Tại
vùng nam Đức, Thụy sĩ hoặc Áo là Suser hay
Sauser - ở vùng Pfalz là Neuer Wein hoặc
Bitzler genannt - Tại Franken là Bremser -
Bên xứ Áo, thứ nước nho lên men còn non gọi là Sturm
(bão), già hơn một tí thì gọi là Staubiger
(bụi). Tại những vùng khác, Federweißer còn
có tên Krätzer. Vùng Ahr, và trên những vùng canh
tác vang đỏ khác, người ta bán cả nước cốt lên men từ
nho đỏ, từ giống Dornfelder chẳng hạn, được gọi là
Federroter.
[3]
Champagne - từ Pháp. Tên một địa danh ở Pháp cũng là tên
một lọai vang sủi tăm và một thương hiệu quốc tế: chỉ có
vang sủi tăm được biến chế theo một phương pháp đăc biệt
từ vùng Champagne (Pháp) mới được mang tên này.
[4]
die Restsüße - Restzucker: đường dư đọng.
[6]
từ Đức: Spätlese - gặt muộn, trễ - Auslese: chọn lọc -
Beerenauslese - Trockenbeerenauslese.
[7]
đơn vị đo tỷ trọng nước cốt nho (hàm lượng đường, lượng
ngọt của nước cốt nho), thông dùng tại Đức, Thụy sĩ và
Lục xâm bảo. Do Christian Ferdinand Öchsle - người Đức,
một chuyên gia cơ khí, cũng là thợ vàng và nhà sáng chế
- chuẩn hóa đơn vị (1836) và phát minh ra máy đo. Từ đó
đơn vị đo hàm lượng ngọt trong dung dịch được lấy tên là
độ Öchsle.
[8]
wine-tasting (wine-degustation) - từ Anh: nếm vang.
[9]
vùng canh tác vang lớn nằm tại tây nam nước Pháp. Vang
Bordeaux nổi tiếng khắp thế giới.
[10]
sông Rhône và tên vùng canh tác nho vang nằm tại đông
nam nước Pháp. Tain l'Hermitage và Châteauneuf-du-Pape
là những địa danh cũng là nơi sản xuất vang trong vùng.
|