NGƯỜi VIỆT NAM TẠI BERLIN

Stress, Sucht und Skorbut [1]

(Căng thẳng, nghiện ngập và suy nhược )

Von Marina Mai



 

Toàn cầu hóa đang nuốt chửng con cái mình: Đã từng một thời thành phần doanh nghiệp bán lẻ người Việt tại Berlin kiếm biết bao lợi nhuận qua những sản phẩm may mặc rẻ mạc xuất nguồn từ quê hương xứ sở. Thì nay chính làn sóng phá giá hàng hoá từ những cửa hàng chuyên bán giảm giá đẩy họ đến phá sản. Một số đông thành phần nhập cư này đang bị dồn vào chân tường. Một tiếng gọi thống thiết được gióng lên từ Marzahn, khu phố nằm cận đông thủ đô nước Cộng Hoà Liên Bang Đức (CHLB Đức).

 

Gian hàng vải vóc áo quần: Ngày càng nhiều người Việt bị phá sản

Berlin – Theo hấp lực thói quen, mỗi buổi sáng Minh[2] đi đến cửa hàng của mình trong khu phố Lichtenberg tại Berlin. Chả còn một bóng khách hàng nào ghé qua gian hàng áo quần của người Việtnam 49 tuổi này nữa. Kho hàng đàng sau chất cao đầy thư từ, mà ông không màng bóc ra. Những lá thư được gởi từ những chủ thuê cũ, từ những văn phòng Thu nợ hoặc từ những văn phòng Luật sư. „Toàn là thư đòi tiền“, Minh than vãn với miệng rụng gần hết răng. „Mà tôi thì tiền đâu. Muốn, họ có thể trưng thu đống áo thun kia của tôi“. Đống áo Minh nhập số luợng lớn từ Việtnam cách đây ba năm với giá rẻ bèo. Thời đó Minh buôn bán khá hơn nhiều.

Minh là một trong những doanh nghiệp bán lẻ người Việt tại Berlin hiện đang đứng trước sự phá sản nhưng chưa (muốn) nhận chân sự thật. Đặt chân đến Cộng Hoà Dân Chủ Đức (CHDC Đức) từ 1988 dưới dạng lao động hợp tác, mà cho đến nay tiếng Đức của Minh vẫn không song suốt. Một cố vấn về kinh doanh, không muốn nêu tên, tuyên bố: „Chủ nhân của các gian hàng Á châu không đương chịu nổi sự phá giá hàng hóa hiện nay của những tập đoàn bán hàng giảm giá“.

Nghe thì mâu thuẫn, nhưng chính sự tăng vọt của kỹ nghệ may mặc tại Việtnam và mực độ gia nhập vào thị trường thế giới ngày càng lớn mạnh của những sản phẩm may mặc quá rẻ từ Việtnam đang cướp đi cơ sở cuộc sống của con dân người Việt tại Đức. Cho đến nay khâu bán buôn sản phẩm may mặc giá rẻ „made in Vietnam“ là một ngõ ngách kinh doanh nằm trọn trong tay một hệ thống buôn bán dưới hình thức kinh doanh gia đình, từ khâu nhập khẩu, bán sĩ cho đến chủ nhân những gian hàng tạp hóa bán lẻ.

Sau biến chuyển (thời điểm tan rã của Đông Đức nói riêng và Đông Âu nói chung - ND) số người thất nghiệp từ thành phần lao động hợp tác trước đây tập hợp lại tạo nên một thể hình kinh doanh giữa một nhóm dân thiểu số với nhau và qua đó xây dựng được một con đường kinh tế để sống còn. Đó là chọn lựa duy nhất cho họ để tránh thoát tình trạng thất nghiệp. Nhưng từ ngày quần Jeans, giầy dép và áo thun xuất xứ từ Á đông được bày bán trong những siêu thị lớn, giữa những khu kinh doanh khang trang hơn hẳn với giá rẻ không thua gì, nhóm người Việt mất hẳn khách hàng. Số người Việt tương tự như Minh đứng trước sự phá sản ngày càng nhiều. „Những nhóm người Việt là những nhóm dân tộc thiểu số khép kín, không có thói quen yêu cầu, chờ đợi giúp đỡ từ cộng đồng Đức xung quanh, họ chỉ quanh quẩn nhờ vả nhau trong nội bộ“, Bà Elena Marburg, ủy viên Hội đồng di dân tại khu vực Marzahn-Hellersdorf than phiền.

 

 „Nợ nần, khó khăn trở ngại đối với chủ thuê và nghiện ngập“

Hơn một nửa dân số 11.000 người Việt tại Berlin sinh sống trong khu Marzahn-Hellersdorf và khu Lichtenberg sát cạnh. Hai khu phố đều nhận định tình trạng khó khăn của người Việt và muốn đề ra những cải tiến cho việc hội nhập và công tác cộng đồng. Một kế hoạch hiện đang được bàn thảo. Hội đồng di trú khu phố Marzahn-Hellersdorf, qua một phân tích sâu sắc, gọi đây là một thất bại của tiến trình hội nhập cho nhóm người Việt. Cuộc sống chung của nhóm dân thiểu số này với cộng đồng chủ thể (cộng đồng bản xứ người Đức - ND) thực chất chỉ là một hiện hữu tránh đụng chạm nhau giữa những phần tử xa lạ, trong tư thế thỉnh thoảng vẫn rà soát tìm hiểu nhau. Theo bản phân tích được công bố vào tháng mười vừa qua, những vấn đề xã hội của nhóm lao động hợp tác ngày xưa này thường là „Nợ nần, khó khăn trở ngại đối với chủ thuê và nghiện ngập“.

Từ đó nảy sinh bất hoà trong gia đình. Từ bao năm nay những người buôn bán này làm việc 14 tiếng / ngày - không cơ hội nghỉ ngơi dưỡng sức và thường cũng không có ngày nghỉ cuối tuần. Và họ phải trả giá cho gánh nặng lâu dài này: „Cơ thể thường xuyên mệt mỏi, tinh thần bạc nhược cộng thêm thói ăn uống đơn điệu gây ra nhiều chứng bệnh - phần lớn thường không được phát hiện hoặc được phát hiện quá trể“, cũng từ bài phân tích nói trên.

 

 „Những trạng thái suy nhược giống như tại các nước Thế giới thứ ba“

Ở đây đề cập đến những triệu chứng tâm sinh lý và chứng bệnh tinh thần như cờ bạc, nghiện rượu và nghiện hút, bệnh trạng của những cơ quan trong cơ thể, bệnh ho lao và không loại trừ những trường hợp ‚skorbut’, một chứng bệnh suy nhược chỉ xuất hiện tại các nước nghèo đói trong Thế giới thứ ba. Và nếu có chịu đi khám bác sĩ chăng đi nữa, thì bệnh nhân cũng khó được chữa thành công bởi rào cản ngôn ngữ.

Tại Berlin hiện không có bác sĩ người Việt, và các cơ sở Bảo hiểm sức khỏe lại không chịu trả tiền cho chi phí thông dịch. Qua những cản trở trên thuốc men không được xử dụng đúng theo lời chỉ dẫn. Khác với những cộng đồng người Thỗ nhĩ kỳ hoặc cộng đồng dân Nga sẵn sàn giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau không đòi hỏi. Người Việt muốn có một thông dịch viên đưa đi khám bác sĩ thông thường phải chi tiền. Cũng bởi thói tính chỉ đi khám bác sĩ khi bịnh hết đường chữa chạy, nên nợ nần càng ngày càng chất chồng (bởi chi phí chữa trị cao hơn - ND). Rất nhiều người Việt kinh doanh tự do này không những chẳng chịu đóng qũi hưu trí mà còn không có lấy một bảo hiểm sức khỏe.

Minh chẳng hạn, không có cả hai. Thuở bán buôn còn phất, ông ta để dành tiền và mua ba căn nhà tại Việtnam - Thật ra chính gia đình Minh đã đưa ông ra nước ngoài mục đích để có được nguồn trợ giúp ngược lại. Và cả làng phải ghen nể với bố mẹ cùng anh chị em ông về những căn nhà Minh xây cho gia đình ở; với một thỏa thuận ngầm rằng, về sau ở đó, đám cháu ruột con cái anh chị em trong nhà sẽ săn sóc chu toàn ông chú giàu có đến cuối đời. Đó cũng là một lý do tại sao ông không thể trở về với hai bàn tay trắng.

Nay vì cần tiền Minh đã bán mất hai căn cho thằng cháu - nuôi hy vọng với mỗi đợt thay đổi kinh doanh mặt hàng mới, việc làm ăn sẽ khấm khá trở lại. Giữa thập niên 90 (thế kỷ trước - ND) chẳng bao giờ ốm đau, Minh xem chuyện đóng Bảo hiểm sức khỏe là phung phí. Nay thì chả Công ty Bảo hiểm nào chịu thâu nhận ông. Để dịu bớt những cơn đau răng triền miên, Minh xử dụng đủ thứ nước sát trùng súc miệng. Và đám đồng hương đồng bệnh chỉ còn nước mách giúp nhau dùng loại nào tốt.

 

„Nó cũng thất bại như tôi“

„Điều gây kinh hãi cho tôi nhất qua bản phân tích của Hội đồng di trú là trẻ em bị đặt dưới một áp lực vô cùng nặng nề,“ Ông Uwe Klett (Đảng cánh tả), trưởng khu phố thốt lên. „ Chúng tôi đang thảo luận cùng Ty thanh niên, làm thế nào để trợ giúp được trong lãnh vực này.“ Bởi cha mẹ thường ít khi nào về nhà trước 9:00 giờ tối, cũng từ bản phân tích trên, đám trẻ học lớp một, lớp hai đã phải tự lập, lo việc nội trợ thay cha mẹ. Đứa lớn chăn những đứa em bé hơn và còn phụ giúp cha mẹ trong việc buôn bán. Những em bé ở lứa tuổi chưa nhập học, mỗi ngày từ sau giờ nhà chăn trẻ đóng cửa và vào cuối tuần, được cha mẹ mang theo đến cửa hàng. „ Đám trẻ nít này hoàn toàn không được chăm sóc một mảy may.“ Hoặc chúng được giao cho những kẻ đang xin qui chế ty nạn trông coi, cho bú hoặc mớm cơm, qua đấy họ kiếm ít tiền tiêu túi.

„Thông thường trường học không nhận biết được rằng đám học trò Việtnam đầy năng lực này thường xuyên bị áp đặt dưới những sức ép quá khả năng chịu đựng của chúng.“ Cha mẹ người Việt đòi hỏi con cái cao về thành tích, nhưng ngược lại không thể giúp đỡ gì được con cái trong phạm vi học vấn.

Minh có hai con. Cậu trai lớn 19 tuổi thuộc thành phần học giỏi nhưng bỏ học dở chừng, theo Hội đồng di trú, một hiện trạng ngày càng gia tăng hiện nay trong cộng đồng người Việt tại Berlin. Đám thanh thiếu niên với thời gian không chịu đựng nổi những áp lực lâu dài này. Giữa lớp 11 em bỏ học ngang xương và dọn nhà ra riêng, hiện em sống tại thành phố Essen và làm phụ việc qua ngày. „Nó cũng thất bại như tôi“ Minh nói. „Nhưng con em nó sẽ khá hơn.“

Cô bé hiện theo lớp 8 một trường Gymnasium[3]. Những chứng chỉ đem về từ học đường của em là hãnh diện lớn cho ông bố. Còn vấn đề vì bố thiếu tiền nên em không được đi khám bác sĩ, chuyện này em chấp nhận. „Nếu là Đức nó sẽ khó vượt qua. Nhưng chúng tôi giáo dục nó như một đứa con gái Việt“, Minh tự hào. Và cô con gái này cũng là nguyên nhân chính để Minh và vợ chưa hồi hương được. Nói đúng ra Minh cũng sẽ rất buồn tủi trở về trong tư thế hiện nay: Mang đầy nợ nần, không tiền bạc và trong miệng chỉ còn vài ba cái răng.

 

dịch: Lê Cảnh Hoằng (22.06)

nguồn: SPIELGEL ONLINE, 12. Juni 2006

 

 


 

[1] *) Skorbut (cón được gọi là bệnh Möller-Barlow hoặc hội chứng Möller-Barlow) là một chứng bệnh phát sinh từ tình trạng thiếu  Vitamin C (Ascorbinsäure). (Avitaminose)

 

[2] Tên thật đã được thay đổi

[3] Hệ thống học đường Đức gồm 3 loại trường chính: Hauptschule, Realschule và Gymnasium. Chỉ có Hệ Realschule và Gymnasium mới có thi Tú tài (Tốt nghiệp phổ thông) để theo đuổi bậc Đại học.

 

Trở về Trang Chính