|
Đi tìm
dấu tích điệu nhảy gợi tình muôn thuở của đất nước Á căn đình
|
 |
|
|
Điệu
Tango nồng nàn
Tango - diễn đạt cực kỳ điêu luyện một „khát
khao“ thường tục. |
|
|
Phải nhìn nhận Tango là điệu nhảy gợi tình nhất với nhịp
2/4
… Cả thành phố Buenos Aires như chìm đắm trong làn gió u
hoài, sầu muộn. Kinh tế đất nước phá sản, và những tâm hồn Á căn
đình tự hào, cũng theo đó chao đảo uất ức … Nhưng tiết điệu
Tango vẫn nhịp nhàng trong mọi góc phố và hình như đang trong
trào phục hưng với bao niềm khát khao về thời đại huy hoàng đã
qua!
Hai trái tim của
Aurora và Jorge đập cùng chung nhịp 2/4 - nhịp của những bước
Tango. Tango là trò diễn xuất của những cảm xúc: „khát khao,
thèm muốn, ghen tuông, ruồng rẫy …“ - một tuồng kịch bi hùng
nhảy múa giữa sàn. "Hễ mỗi lần nghe tiếng ‚bandoneon’[],
là toàn thân tôi cứ rờn rợn ngứa ngáy. Xúc cảm từ đâu bỗng tràn
về dâng đầy cơ thể. Và sau đó tôi hoàn toàn quên hết tất cả xunh
quanh“, cô vũ nữ Tango chuyên nghiệp thỏ thẻ. Gặp Jorge trên một
sàn nhảy tại Buenos Aires cách đây hơn 20 năm, con tim Aurora
bốc cháy vì Tango và vì chàng nghệ sĩ trẻ tuổi mang tên Jorge.
Cuộc hôn nhân nay đã gãy đổ nhưng tình yêu Tango vẫn kết chặt
hai người trên sàn nhảy những vũ trường giữa thành phố Buenos
Aires. Tình yêu cho Tango của hai người vẫn vĩnh viễn thở những
hơi dài …
Ngắn
gọn về xuất xứ những bước chân
Lai lịch và xuất
xứ của Tango, điệu nhảy gợi tình của dân tộc Á căn đình
vẫn mãi là đề tài muôn thuở. Riêng về ý nghĩa tên gọi Tango
không thôi đã có đủ luận cứ. Thuyết thì cho rằng chữ Tango gốc
gác từ Nhật bản và vũ điệu được kiều dân Nhật tại Cuba chế tác.
Ý kiến khác cho rằng từ tiếng la tinh „tango“ (chạm, sờ,
đụng vào). Hoặc cái trống Y pha nho mang tên „tambo“ cũng
được nhắc tới, lại có ý kiến cho rằng Tango xuất nguồn từ chữ Y
pha nho "tañer" (chơi, xử dụng một nhạc cụ) và chịu ảnh
huởng làn điệu vùng Castilla[].
Và nhịp phách trống Phi châu „tangú“ cũng được xem là cha
đẻ của vũ điệu …
Chỉ một điều chắc
chắn được biết là, ra đời cuối thế kỷ thứ 19, vào khoảng 1850
đến 1890, cùng lúc trên hai thành phố Buenos Aires
và Montevideo[]
nằm hai bên tả hữu ngạn dòng sông Rio de la Plata, điệu vũ
tango argentino tập hợp nhiều bước nhảy và làn điệu của
Habanera, Milonga và Tango andaluz.
Tại những „Milongas“[],
những buổi tụ tập tự phát, nơi gặp gỡ của tầng lớp lao động khốn
cùng tại khu
bến cảng La Boca[],
miền nam Buenos Aires, những cặp trai gái ôm sát lấy nhau
cùng nhảy
Milonga.
Điệu Milonga phổ biến khắp nước Uruguay và Á
căn đình, xuất thân từ một làn điệu đồng áng dân gian, điệu vũ
vui tươi này mang đủ sắc thái của cư dân da đen, da màu hòa lẫn
với cá tính những nhóm dân nhập cư. Trong
Milonga
là những tiết điệu âm nhạc Y pha nho trộn lẫn phách nhịp những
làn điệu dân dã châu Phi.
Habanera là
một điệu vũ Cuba nhập cảng vào La-Plata[]
thời 1860, dân bản xứ nhảy điệu Habanera như muốn nói lên
nỗi niềm của những kẻ bị thống trị. Mười năm trước đó điệu
Tango andaluz cũng đã được nhập cảng và không bao giờ
vắng mặt trên những sân khấu bình dân trong lòng thủ đô
Buenos Aires.
Những điệu nhảy sinh động này được xem là tiền thân của
Tango Argentino hiện nay.
Vào điểm giao thời giữa hai thế kỷ 19 và 20 đất nước non
trẻ Á căn đình ở giữa một thời đại hoàng kim, Buenos
Aires nở rộ trong phồn vinh và được xem như là một Paris của
Nam Mỹ. Từ các vùng nghèo khổ khắp châu Âu một làn sóng di dân
trổi dậy, dân chúng đổ xô về đây sinh sống khiến thành phố mới
này tràn ngập và muốn nổ tung vì dân nhập cư. Đông nhất là dân Ý
và Y pha nho, họ rời bỏ quê hương để tìm một tương lai tươi sáng
hơn trên vùng Mỹ châu đất hứa. Thời điểm này số di dân Ý tại
Buenos Aires nhiều hơn cả dân Á căn đình: không kham nổi vì
quá tải, Á căn đình và Buenos Aires cự tuyệt nhóm
dân tị nạn ra mặt, không cho họ một cơ hội dẫu nhỏ bé nào để mưu
sinh vươn tới. Vỡ mộng, thất vọng, chán chường là điều đương
nhiên xảy đến cho thành phần này. Rồi thì không việc làm, không
địa vị, không uy tín, cuộc sống thiếu bóng phụ nữ, đám tị nạn cơ
cực chỉ còn có một lối thoát tinh thần trong những không gian
của tận đáy xã hội, tìm quên trong quán nhậu, ổ điếm, sòng bài …
và âm nhạc. Tại đây, những quán nhậu, ổ điếm, sòng bài trong
những phố ngoại thành và khu bến cảng của Buenos Aires,
Tango mau chóng được những con tim giang hồ quấn quít nương tựa.
Đến với Tango, họ được dịp rủ bỏ ngoài ngưỡng cửa những tranh
đấu sống còn khắc nghiệt, họ tìm đến những giây phút buông thả
đam mê, họ để cho đam mê diễn tả những cảm xúc cuộc sống, họ để
hồn đến với nhau trong một thế giới chung đụng đủ mọi màu sắc
văn hoá.
Những gì xảy ra
trên sàn gỗ vũ trường, bar rượu tại Buenos Aires
vào thời điểm đó, cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, thật là những
điều chưa bao giờ có trong lịch sử và thế giới khiêu vũ: qua
Tango, màn khiêu vũ trở thành một ‚el abrazo’[]:
là đôi thân thể ghì sát vào nhau trong tiếng nhạc thiết tha dìu
dặt. Nhảy Tango, thân thể phải siết lấy thân thể như muốn hòa
tan hai khối hình hài làm một. Dưới ánh đèn mờ ảo giữa không
gian đong đầy tiếng nhạc, thỉnh thoảng khối vật thể ấy chợt
ngừng sững lại tạo một khoảnh khắc lắng đọng đợi chờ … tràn đầy
kích thích.
|

"Khiêu vũ những
nỗi niềm sầu muộn“ |
"Tango
là khiêu vũ những nỗi niềm sầu muộn“[]
câu nói đi vào lịch sử Tango của Enrique
Santos Discépolo, nhà nhạc sĩ Tango nổi danh người Á căn
đình. Thật vậy, tất cả hy vọng và nỗi niềm năm xưa của đám người
di dân vẫn ấp ủ trong mỗi điệu bước Tango. Dẫu phải mang chịu
một ít tai tiếng dèm pha, Tango vẫn luôn luôn thanh lịch tự mãn:
Trên sàn gỗ gã vũ khách ôm ghì lấy thân người phụ nữ, dìu những
bước vũ bão nhưng hình như vẫn chỉ muốn tự riêng mình thống
thiết những tâm sự cô đơn. Tango không còn mang làn điệu sinh
động vui tươi như những bước chân ngày đầu sơ khai nữa. Những
lãng mạn u sầu, thậm chí những khổ đau hiện diện rõ ràng qua
những bước nhảy cầu kỳ.
Và cuộc đời cũng khá khắc nghiệt với „Tango
argentino“. Tango, những vòng tay say đắm siết cứng lấy
nhau, những bước chân đa tình kéo lê chầm chậm giữa sàn, lập tức
bị Vatican lên án là khiếm nhã và xúc phạm thuần phong.
Vua Wilhelm Đệ nhị (Đức) ra lệnh cấm sĩ quan dưới triều
không được nhảy Tango trong bộ quân phục. Trong qui chế khiêu vũ
của thành phố Vienna (thủ đô nước Áo) cho tới năm 1913
Tango vẫn không được ghi vào danh sách những điệu vũ chọn lọc.
Ngay tại xứ sở của mình, thành phần ưu tú và giới thượng lưu Á
căn đình tẩy chay Tango vì nơi chốn xuất thân không được mấy tốt
đẹp của điệu nhảy. Người ta hổ thẹn với cái sản phẩm bỗng đâu
trỗi lên từ những ổ điếm, những cống rãnh của thành phố.
Từ
những quán rượu bên đường đến tầng lớp thượng lưu.
Nhưng sự việc bỗng thay đổi hẳn khi Tango minh chứng
được thành công rực rỡ của mình … tại Paris, Tango được
cuộc sống của Kinh đô hoa lệ đầy ánh sáng đón tiếp nồng hậu, một
cuộc sống, một nơi chốn mà dân cư vùng
Rio de
la Plata
thuộc mọi thành phần đều say mê khao khát. Kẻ nào đã buôn lậu
Tango vào châu Âu, một ả điếm, một gã buôn người hay một chàng
nghệ sĩ; điều đó hiện giờ chả mấy ai lấy làm thắc mắc. Chỉ biết
rằng được du nhập vào Âu châu khoảng 1910, Tango nhanh chóng
cuốn hút linh hồn những giới khách ăn đêm và các vũ trường những
thành phố hoa lệ để từ đó đồng loạt dấy lên một cao trào Tango
trong các chốn ăn chơi sang trọng châu Âu và Paris nói riêng.
Những lớp học nhảy, những nhóm người yêu thích Tango mọc lên
trên mọi ngõ phố từ xóm bình dân cho đến khu thành sang trọng,
Tango được mọi giới mở rộng bàn tay chào đón.
Và qua lịch sử bao năm của Á căn đình đã chứng minh,
không có gì ngạc nhiên khi giới thượng lưu Á căn đình lại nhập
cảng Tango ngược trở về cho xã hội của họ. Điệu vũ mà xưa nay
ngay chính họ ngần ngại, dèm pha và hắt hủi.
Rồi với thời gian tiến hoá, những khu ổ chuột ven đô „Barrios“[]
của Buenos Aires từ từ cải dạng thay đổi bộ mặt trở thành
vũng nôi của điệu nhảy Tango, điệu vũ gợi tình, da diết xuất
thân từ những ổ điếm, xóm ngèo mang một lý lịch không mấy tốt
lành đã lớn lên cùng những đám anh chị bến cảng đâm chém không
gờm tay. Tango thoắt chợt được rủ bỏ bộ cánh mặc cảm tồi tàn,
bay bổng lên chiếm ngự tâm hồn mọi tầng lớp dân chúng Á căn đình
nói riêng, Nam Mỹ và cả thế giới nói chung, và cũng từ đó dần
dần trở thành một biểu tượng cho văn hoá Á căn đình về sau.
Bandoneon – Linh hồn của Tango
Những bước Tango chập chững đầu tiên, đơn sơ như một
điệu nhảy dân tộc, thường quyện lẫn trong những tiếng sáo, tiếng
vĩ cầm theo giòng đệm của chiếc guitare thùng, đôi khi được thay
thế bởi một cây madoline hoặc cây đàn harpe. Tại những tửu điếm
sang trọng hơn, nhạc điệu Tango mới mẻ này được độc tấu trên cây
đàn dương cầm giữa quán. Những chàng nghệ sĩ lãng tử cùng các
giàn nhạc tay ba cứ hát và tấu tùy cảm hứng, mãi về sau này
những nghệ sĩ dương cầm tiếng tăm như Samuel Castriota và
Rosendo Mendizabal bắt đầu soạn nhạc và ghi chép
lên giấy những tiết tấu, âm điệu.
|

Đàn Bandoneon - linh hồn của Tango
Không nhạc cụ nào gắn bó với Tango hơn ‚bandoneon’. |
El abrazo –
‚vòng tay ghì siết’ cần thiết cho điệu nhảy biết bao, thì cây ‚bandoneon’
quan trọng không kém cho điệu nhạc Tango bấy nhiêu. „Một chất
xúc tác, bandoneon thổi thêm sức sống vào điệu Tango,“
dân Porteño[]
chính hiệu đều nhận định như vậy. Đến bây giờ vẫn không biết
được ai đã đem cây bandoneon đến xứ này. Có thể do những
thủy thủ, cũng có thể từ những di dân, chỉ biết là khoảng vào
năm 1870, cùng với làn sóng nhập cư đầu tiên, ‚bandoneon’
nhập cảnh vào Á căn đình – có lẽ qua ngõ USA. Mặc dầu thoạt đầu
bị chê là ‚cosa de gringos’[]
, nhạc cụ lạ hoắc nhưng giản tiện này vẫn chiếm lĩnh nhanh chóng
địa bàn những quán Café, tửu điếm của khu bến cảng La
Boca.
Hơn thế nữa âm hưởng của
bandoneon
chuyển biến
tiết
điệu Tango dồn dập ngắt khoảng, sống động ban khai đó trở thành
những bản Tango khoan thai tha thiết, nỉ non thấm sâu vào hồn
người.
Năm 1910 Á căn đình kỷ niệm 100 lập quốc, dĩa nhạc Tango
đầu tiên của tay đàn bandoneon mang tên Vicente
Greco được tung ra thị trường. Trong cùng thời gian đó ngay
tại châu Âu làn sóng nhạc và nhảy Tango làm xôn xao dư luận Kinh
đô ánh sáng Paris. Và từ đó trở đi làn điệu Tango phát
triển không ngừng.
Năm 1913 Robert
Firpo dựng thêm một cây dương cầm vào thường xuyên với
giàn nhạc, những ban nhạc khác bắt chước làm theo. Từ đó những ‚Orquestas
típicas criollas’[]
gồm bốn người xuất hiện ngày càng đông, dần dần có mặt trên hầu
hết trên các café vũ trường Buenos Aires. Nhờ
những đóng góp của đội quân lão luyện này; nào là những
Roberto Firpo, Eduardo Arolas,
Agustín Bardi và Francisco Canaro …
Điệu Tango hoàn toàn dứt bỏ được chuỗi ngày vô danh lây lất
trong những ngõ đèn mờ phố cảng.
Năm 1916 Francisco Canaro kéo thêm một tay
contrabass vào ban nhạc và lần đầu tiên một ‚sextetos
típicos’ gồm sáu thành phần với sáu nhạc cụ ra đời‚ mang
một âm sắc mới, một phong thái nhạc mới cho Tango. Đỉnh cao tiêu
biểu của phong cách mới này được đại diện bởi bộ sáu Sextett
của Julio de Caro vào giữa những năm 20 đầu
thế kỷ 20. Gồm hai tay bandoneone, hai vĩ cầm, một dương
cầm và một contrabass. Những cải tiến đột biến của thế hệ
nghệ sĩ này đẩy một làn gió mới vào phong cách trình diễn nhạc
đệm cho Tango và tạo hẳn một trường phái cho các giàn nhạc thế
hệ Tango theo sau. Từ thời điểm này thế giới Tango luôn nhắc đến
‚Guardia Nueva’ – đội quân tiền phong gồm những
tên tuổi như:
Carlos Gardel (giọng); Osvaldo Pugliese, Roberto Firpo,
Francisco de Caro (dương cầm); Julio de Caro, Francisco Canaro
(vĩ cầm); Anibal Troilo, Osvaldo Fresedo, Pedro Maffia, Pedro
Laurenz, Astor Piazzolla, Eduardo Arola, Agustín Bardi và
Juan Carlos
Cobián (bandoneon)...
Với nhân sự mỗi ngày hùng hậu hơn, giàn nhạc cho phép cá
nhân có thể triển khai sở trường của mình. Mỗi tay đàn qua đó có
cơ hội tự khoe sắc màu, diễn tả những ý nhạc khác nhau theo xúc
cảm. Dòng nhạc không còn đơn điệu nữa, trái lại với phối khí hài
hoà, người nghe vẫn cảm nhận được những dũng mãnh của một
Eduardo Arola sống động hoặc của Agustín
Bardi vui đùa, quyện vào đó những làn điệu lãng mạn của
Osvaldo Fresedo.
Đến thời Pedro
Maffia, khả năng phối âm của cây bandoneon được
triển khai thêm. Âm thanh mà Pedro Maffia lôi cuốn
được từ cây bandoneon và cách chơi rubato[]
của chàng tạo thêm một phong cách mới cho những tay bandoneon
cùng thời đại. Cùng với Pedro Laurenz, tay đàn
bandoneon với trình độ kỹ thuật có một không hai đương thời,
Pedro Maffia sáng chế một diễn đạt mới: ‚Song tấu
bandoneon’ – một chơi theo âm giai, một chơi phản điệu.
Tango cũng tạo nên những huyền thoại được loan truyền
cho đến đời sau: 1924, chỉ qua một đêm, với bản ‚Recuerdo’,
Osvaldo Pugliese, một tay dương cầm non trẻ 18
tuổi leo cao lên đài danh vọng và ảnh hưởng lên phát triển của
Tango không ít với những bài như ‚La Yumba’ và ‚Negracha’.
1918 Carlos Gardel thâu vào đĩa bản ‚Mi noche
triste’ (My sad night), giọng hát Tango đầu tiên: Chàng
thiếu niên túng thiếu sống giữa chợ Buenos Aires, cũng chỉ qua
một đêm vụt chốc trở thành thần tượng và ước mơ của cộng đồng di
dân nghèo khổ. Từ một con số không
Carlos
Gardel
đến với huy hoàng và danh vọng như một giấc mơ. Trở thành ngôi
sao thế giới, qua đĩa hát, phim ảnh và những buổi trình diễn,
Gardel
đã hoàn thành sứ mạng đưa di sản văn hoá Á căn đình này đến với
mọi người. Năm 1935 mất qua một tai nạn máy bay, mới 45 tuổi,
ông để lại trong trái tim dân Porteños nhiều tiếc thương.
Hiện nay bia mộ ông vẫn được những người ái mộ viếng thăm mỗi
ngày.
1937 chàng ‚bandoneonist’ Añibal Troilo
ra mắt công chúng cùng giàn nhạc tám người với thành phần ba cây
bandoneone, ba cây vĩ cầm, một dương cầm một
contrabass và một giọng ca của Fiorentino.
Và những soạn nhạc gia tên tuổi của thế kỷ 20 như
Igor Strawinsky, Paul Hindemith und Ernst
Krenek cũng liên kết tiết tấu Tango vào sáng tác của
mình, mở cửa cho Tango bước vào sân khấu hòa nhạc và thính
phòng. Những nghệ sĩ trứ danh như nhạc trưởng kiêm danh thủ
dương cầm Daniel Barenboim, vĩ cầm gia Gidon
Kremer, cặp nghệ sĩ dương cầm Emanuel Ax và
Pablo Ziegler, danh thủ guitar Al di Meola,
nữ ca sĩ người Ý Milva và giọng ca thính phòng nổi tiếng
Placido Domingo mỗi người đều có sáng tác và phát
hành tuyển tập Tango của riêng mình.
Rồi đến 1940, trong khi Âu châu nằm dưới thảm họa chiến
tranh, Á căn đình và Uruguay với nền xuất khẩu da thuộc, thịt và
len thô đạt được một cuộc sống kinh tế khá sung túc. Số người bỏ
làng mạc lên thành phố kiếm sống ngày càng nhiều. Trên mọi góc
phố Montevideo und Buenos Aires café, vũ
trường song song theo đó mọc lên như nấm, Buenos Aires
thời gian này có tới 600 giàn nhạc nhảy và nhiều đại vũ trường
có thể lên chứa đến 2000 người. Và ở đâu cũng mỗi một điệu nhảy
- Tango. Tango trở thành điệu nhảy của đất nước. Cũng từ thời
điểm này bước Tango chuyển biến đa dạng và quyến rũ hơn, để từ
từ trở thành nền tảng cho điệu Tango hiện nay. Tao nhã, tài
tình, một hình thái Tango hoàn mỹ.
Từ 1955, sau ngày
Perón[]
bị quân đội đảo chánh, Tango bỗng nhiên bị chìm lắng xuống và đi
vào lãng quên. Thê hệ trẻ quay lưng lại với Tango và chạy theo
làn sóng âm nhạc thời thượng, Rock, Pop, … Thời gian kéo dài cho
đến thập kỷ 70 thế kỷ trước. Đến 1982 cùng làn sóng tị nạn chính
trị từ Á căn đình và Uruguay tràn qua Âu châu,
Tango được thổi thêm một làn gió mới. Và Tango hồi tỉnh giữa xã
hội châu Âu một lần nữa.
Tango hiện nay, còn là vũ điệu thời trang cho tuổi trẻ.
Không những ngay tại quê hương mình mà khắp mọi châu lục, những
trường dạy Tango mọc lên như nấm. Đánh giá về làn sóng khám phá
trở lại Tango Jorge Firpo, kép nhảy của Aurora Lubis
đồng thời là một ông giáo nhảy đầm Tango nổi tiếng thế giới:
„Tôi không xem rằng đây là một cuộc hồi
sinh. Theo tôi trong thời gian qua, thời đại mà những đề tài xã
hội, lãnh vực văn hoá cũng như chính trị quan trọng hơn, Tango
đã thiếp giấc ngủ giấc dài như một nàng công chúa. Vũ điệu Tango
nép mình nghỉ yên trong một góc tĩnh mịch, để hôm nay tỉnh giấc
qua nụ hôn đánh thức, choàng dậy như Phượng hoàng bay vụt lên từ
đống lửa.“
Lê Cảnh Hoằng sưu tầm
Viết tặng Lê văn Cát & Hà cùng
các bạn yêu nhảy
Nguồn:
http://de.wikipedia.org
http://www.zdf.de/ZDFde/inhalt/15/0,1872,2259823,00.html
engl.: a sad thought, which one can
dance.
spain: khu phố
- dùng trong engl. ám chỉ những khu nhà nghèo ổ chuột
của thành phố.
rubato còn gọi là tempo rubato (ital. rubare=
cướp đi, trộm) định nghĩa trong âm nhạc sự chủ ý kéo dài
âm sắc nhưng vẫn giữ cùng nhịp điệu.
(1895 – 1974) Cựu Tổng thống Á căn đình (hai lần 1:
1951-1955, 2: 1973-1974).
Trở về Trang Chính |